Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Ngữ văn với đề tài "Thơ Xecgây Êxênhin ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đào Thị Anh Lê thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Thị Hòa và PGS.TS Trần Vĩnh Phúc. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài, nghiên cứu lịch sử tiếp nhận một hiện tượng thi ca Nga trong đời sống văn hóa, học thuật và sáng tác tại Việt Nam qua hơn nửa thế kỷ.
Về tính cấp thiết, Xecgây Alêcxanđrôvich Êxênhin (1895–1925) là tác gia tiêu biểu của thi ca Nga đầu thế kỷ XX. Thơ Êxênhin được dịch ra hơn 150 ngôn ngữ trên thế giới và xuất hiện lần đầu tại Việt Nam từ năm 1962. Trong hơn 50 năm (1962–2016), thơ Êxênhin đã hiện diện rộng rãi qua các hoạt động dịch thuật, xuất bản, nghiên cứu phê bình, giảng dạy nhà trường và tạo nguồn cảm hứng cho nhiều thế hệ nhà thơ Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận thơ Êxênhin từ góc độ tác giả - tác phẩm, thi pháp hoặc ghi nhận cảm nghĩ tản mạn; chưa có một công trình quy mô toàn diện nào vận dụng mĩ học tiếp nhận để khảo cứu có hệ thống toàn bộ quá trình, quy luật, cơ cấu và đặc điểm tiếp nhận thơ Êxênhin tại Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này đáp ứng yêu cầu cấp thiết về mặt khoa học lý luận văn học và thực tiễn giáo dục.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 mục đích:
- Tái hiện lịch sử hơn 50 năm tiếp nhận thơ Êxênhin ở Việt Nam.
- Khái quát đặc điểm tiếp nhận thơ Êxênhin của độc giả Việt Nam.
- Khẳng định vị trí của Êxênhin trong đời sống văn hoá tinh thần Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Khái quát lịch sử tiếp nhận thơ Êxênhin ở Việt Nam trong vòng nửa thế kỉ qua trên các bình diện: dịch thuật - xuất bản, nghiên cứu phê bình, giảng dạy và sự tương đồng, ảnh hưởng trong sáng tác của thơ Êxênhin với thơ Việt Nam hiện đại.
- Vận dụng lí thuyết tiếp nhận để tìm hiểu vai trò của độc giả, tái hiện tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mĩ của các thế hệ và đối tượng độc giả không ngừng biến đổi của thơ Êxênhin ở Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể.
- Qua đó, khẳng định vị trí của Êxênhin trong đời sống văn hoá tinh thần Việt Nam và đặc điểm tiếp nhận thơ Êxênhin của người Việt.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề tiếp nhận thơ Êxênhin ở Việt Nam trên 4 bình diện:
- Tình hình dịch thuật - xuất bản tác phẩm thơ Êxênhin ở Việt Nam.
- Vấn đề tiếp nhận thơ Êxênhin trong nghiên cứu phê bình tại Việt Nam.
- Vấn đề giảng dạy thơ Êxênhin trong nhà trường Việt Nam.
- Thơ Êxênhin trong sự tương đồng, ảnh hưởng với thơ Việt Nam hiện đại.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Thể loại: Luận án giới hạn ở thể loại thơ trữ tình và trường ca của Êxênhin (khái niệm "thơ Êxênhin" trong luận án bao gồm cả thơ trữ tình và trường ca; các thể loại văn xuôi, bút ký, kịch của tác giả chưa được dịch tại Việt Nam).
- Thời gian khảo sát: Từ năm 1962 (thời điểm xuất hiện bản dịch đầu tiên) đến hết năm 2016.
- Nguồn tư liệu: Toàn bộ ấn phẩm xuất bản, website văn học, công trình nghiên cứu, bài báo phê bình, giáo trình, sách giáo khoa, luận văn, khóa luận và các tác phẩm thơ Việt Nam viết về đề tài Êxênhin.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại hai hệ thống tư liệu: các công trình nghiên cứu tiếp nhận văn học nước ngoài nói chung, văn học Nga nói riêng tại Việt Nam và các công trình trực tiếp khảo sát thơ Êxênhin.
Về khuynh hướng nghiên cứu tiếp nhận văn học Nga tại Việt Nam, luận án điểm qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Maiacôpxki ở Việt Nam (Hoàng Ngọc Hiến, 1974), Ảnh hưởng to lớn của văn học Xô Viết ở Việt Nam (Nguyễn Hải Hà, 1987), Giao lưu văn hoá Nga - Việt Nam dưới góc độ văn hoá (Phạm Vĩnh Cư, 1993), Văn học Nga - Xô Viết tại thành thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 (Phạm Thị Phương, 1998), Vấn đề tiếp nhận Dostoievski tại Việt Nam (Phạm Thị Phương, 2002), Tiếp nhận Gogol ở Việt Nam qua bản dịch "Những linh hồn chết" (Đào Tuấn Ảnh, 2009), Tiếp nhận văn học Nga - Xô viết ở Việt Nam qua trường hợp A. Solzenitsyn (Đào Tuấn Ảnh, 2011), Tiếp nhận văn xuôi Nga thế kỉ XIX ở Việt Nam (Trần Thị Quỳnh Nga, 2010), và luận án Tiếp nhận M. Sôlôkhốp ở Việt Nam (Tạ Hoàng Minh, 2014). Các công trình này xác lập cơ sở thực tiễn cho việc vận dụng mĩ học tiếp nhận vào văn học Nga tại Việt Nam.
Về các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến Êxênhin, tác giả phân loại theo 5 phương diện đã được ghi nhận trước đó:
- Bối cảnh văn học: Các bài viết của Nguyễn Hải Hà, Đoàn Tử Huyến về tiến trình truyền bá văn học Xô viết tại Việt Nam.
- Lịch sử dịch thuật và ấn phẩm: Lời giới thiệu trong các tuyển tập của Thúy Toàn (Thơ Blôk - Exênin, 1983; Thơ Exênhin, 1995; Có một dịch giả mang tên Xuân Diệu, 2011; Lần đầu tôi được làm quen với nhà thơ Nga Sergei Esenin, 2016), bài nghiên cứu Esenin ở Việt Nam: Lịch sử dịch thuật và các ấn phẩm của Nguyễn Thị Thu Thủy.
- Môi trường tiếp nhận: Ý kiến của dịch giả Đoàn Minh Tuấn về sự thay đổi quan niệm nghệ thuật trong tiếp nhận thơ trữ tình Êxênhin.
- Ảnh hưởng và cảm nhận cá nhân: Nhận định, hồi ức và đánh giá của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu như Phùng Quán, Nguyễn Đình Chiến, Trần Nhuận Minh, Thanh Thảo.
- Đánh giá giá trị tiếp nhận: Các bài viết của Đỗ Lai Thúy (Thơ Ê-xê-nhin nhìn từ phía đông - thơ trữ tình triết học, 1989), Lê Từ Hiển, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hải Hà.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các bài viết trước đây chỉ dừng lại ở các nhận định, tiểu luận ngắn, lời bạt tuyển tập hoặc phân tích từng khía cạnh hẹp. Chưa có công trình nào bao quát toàn diện lịch sử hơn 50 năm tiếp nhận thơ Êxênhin trên 4 kênh chủ đạo (dịch thuật - xuất bản, nghiên cứu phê bình, giảng dạy nhà trường, sáng tác thi ca), đồng thời lượng hóa số liệu tư liệu và xử lý chúng dưới hệ thống khái niệm của mĩ học tiếp nhận.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết trọng tâm của luận án là Mĩ học tiếp nhận (Reception Theory), hình thành từ trường phái Konstanz (Đức) với đại diện tiêu biểu là Hans Robert Jauss. Luận án vận dụng các khái niệm nền tảng:
- Tầm đón nhận / Tầm đón đợi (Erwartungshorizont): Khung tri nhận, kinh nghiệm thẩm mĩ, văn hóa và xã hội của công chúng tiếp nhận qua từng thời kỳ lịch sử.
- Khoảng cách thẩm mĩ (Ästhetische Distanz): Khoảng cách giữa tầm đón nhận sẵn có của độc giả và giá trị mới lạ mà văn bản văn học mang lại.
- Vai trò của độc giả: Độc giả là chủ thể tích cực, tham gia đồng sáng tạo và quyết định đời sống lịch sử của tác phẩm.
Luận án cũng kế thừa sự bổ sung và vận dụng lý thuyết tiếp nhận của các nhà nghiên cứu Việt Nam như Nguyễn Văn Dân (nhấn mạnh phương pháp liên ngành và phân loại công chúng), Trương Đăng Dung (tính lịch sử của tình thế tiếp nhận và chất lượng tiếp nhận), Trần Đình Sử (phản tiếp nhận và hiệu quả thẩm mĩ), Huỳnh Vân (tính xã hội của tầm đón đợi), tập thể tác giả Phương Lựu, Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh (phân loại tầm đón nhận cá nhân/tập thể, động cơ và hiệu quả tiếp nhận), Đỗ Hải Phong (tiếp nhận văn học Nga tại Việt Nam), và Lê Huy Bắc (tiếp nhận của tiếp nhận và tính liên văn bản).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu nguyên tác tiếng Nga với các bản dịch tiếng Việt; so sánh các bản dịch khác nhau của cùng một tác phẩm; đối sánh các giai đoạn tiếp nhận; so sánh thi pháp giữa thơ Êxênhin và các nhà thơ Việt Nam (Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Hàn Mặc Tử).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo sát thực tế giảng dạy và học tập thơ Êxênhin qua phiếu trưng cầu ý kiến đối với giáo viên Ngữ văn và sinh viên.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích cấu trúc hình tượng, thể loại, vần điệu, ngôn từ trong thơ Êxênhin và sự tương đồng về thi pháp với thơ Việt Nam.
- Phương pháp tiếp cận lịch sử - văn hóa: Đặt tiến trình tiếp nhận trong bối cảnh lịch sử, chính trị, quan hệ bang giao Việt - Nga và sự vận động văn hóa xã hội Việt Nam từ năm 1962 đến 2016.
Nguồn tư liệu bao gồm: 30 ấn phẩm thơ dịch, 130 công trình nghiên cứu phê bình, 48 tài liệu tham khảo giảng dạy, 21 luận văn/khóa luận/đề tài nghiên cứu khoa học, 53 bài thơ sáng tác về đề tài Êxênhin, cùng dữ liệu khảo sát trên 45 trang web, diễn đàn văn học (tiêu biểu là Thivien.net và Nuocnga.net).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 khái quát quá trình xuất hiện của thơ Êxênhin tại Việt Nam, phân chia tiến trình tiếp nhận thành 3 giai đoạn lịch sử gắn liền với các mốc biến chuyển trong hệ thống giáo dục và xã hội:
- Giai đoạn 1 (1962–1989): Đánh dấu từ năm 1962 khi bản dịch thơ Êxênhin đầu tiên xuất hiện trong tập Thơ Liên Xô (Xuân Diệu dịch từ bản dịch nghĩa của Thúy Toàn) và được đưa vào giảng dạy cho sinh viên khoa tiếng Nga Trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội. Đây là giai đoạn đặt những tiêu mốc đầu tiên trong bối cảnh chiến tranh và giao lưu văn hóa Xô - Việt.
- Giai đoạn 2 (1990–2004): Tạo bước ngoặt quan trọng khi thơ Êxênhin chính thức được đưa vào chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT Việt Nam (từ năm học 1989–1990 theo đề xuất của nhóm soạn giả do Nguyễn Hải Hà làm đại diện). Giai đoạn này kích hoạt sự bùng nổ của tài liệu giảng dạy, dịch thuật tuyển tập riêng và nghiên cứu phê bình.
- Giai đoạn 3 (2005–2016): Năm 2005, chương trình SGK chỉnh lý không còn tác giả Êxênhin ở cấp THPT (thực hiện giảng dạy đến hết năm học 2007–2008), nhưng việc tiếp nhận chuyển sang chiều sâu tại bậc đại học, tái bản các tuyển tập song ngữ và phát triển mạnh mẽ trên mạng Internet.
Bảng tổng hợp số liệu tiếp nhận thơ Êxênhin qua các giai đoạn được luận án thống kê:
| Hạng mục tiếp nhận | Giai đoạn 1962 - 1989 | Giai đoạn 1990 - 2004 | Giai đoạn 2005 đến nay (2016) | Tổng cộng |
|---|---|---|---|---|
| Ấn phẩm xuất bản | 2 | 13 | 15 | 30 |
| Nghiên cứu phê bình | 11 | 27 | 92 | 130 |
| Tài liệu tham khảo nhà trường | 1 | 32 | 15 | 48 |
| Luận văn, khóa luận | 0 | 5 | 16 | 21 |
| Sáng tác về đề tài "Êxênhin" | 11 | 16 | 26 | 53 |
Chương 2: Thơ Xecgây Êxênhin qua dịch thuật - xuất bản
Chương 2 phân tích dịch thuật và xuất bản như hình thức mở đầu của tiếp nhận văn học. Tác giả khảo sát hành trình dịch thuật qua 3 giai đoạn, phân tích đội ngũ người dịch và hệ thống văn bản dịch.
Về đội ngũ người dịch, luận án thống kê được 54 dịch giả, chia thành 3 thế hệ:
- Thế hệ sinh trước năm 1940: Xuân Diệu, Tế Hanh, Đăng Bảy, Thúy Toàn, Trần Vĩnh Phúc, Việt Thương, Phùng Hồ...
- Thế hệ thứ hai: Anh Ngọc, Hồng Thanh Quang, Tạ Phương, Triệu Lam Châu...
- Thế hệ thứ ba (sinh từ thập niên 1970 trở đi): Nina, Chu Thành Long, butgai, tykva, Cẩm Hà...
Luận án phân tích cơ cấu dịch giả theo số lượng bản dịch qua bảng số liệu sau:
| Số lượng bản dịch / dịch giả | Số lượng dịch giả | Tỉ lệ (%) |
|---|---|---|
| 1 - 10 bản | 35 | 64,8 |
| 11 - 20 bản | 6 | 11,1 |
| 21 - 50 bản | 5 | 9,2 |
| 51 - 100 bản | 3 | 5,6 |
| 101 - 150 bản | 4 | 7,4 |
| 151 bản trở lên | 1 | 1,9 |
| Tổng cộng | 54 | 100,0 |
Về quy mô di sản dịch thuật: Đã có trên 1000 bản dịch từ hơn 300 tác phẩm trữ tình của Êxênhin sang tiếng Việt (gồm 273 bài thơ, 25 trường ca nhỏ, 2 trường ca là Người đen dịch trọn vẹn và Anna Xecghina trích dịch). Đối chiếu với toàn bộ di sản trữ tình tiếng Nga (khoảng 429 tác phẩm theo trang esenin.ru và bộ toàn tập 7 tập của Viện Hàn lâm Nga), số lượng tác phẩm được dịch tại Việt Nam chiếm tỉ lệ lớn, tập trung nhiều nhất vào giai đoạn sáng tác 1924–1925.
Chương này cũng phân tích 9 tuyển tập thơ in riêng của Êxênhin tại Việt Nam (biên soạn hoặc dịch bởi Thúy Toàn, Đoàn Minh Tuấn, Nguyễn Viết Thắng, Trần Nhuận Minh, Phùng Hồ, Việt Thương, Tạ Phương, Đỗ Đức Thịnh), đồng thời khảo sát hiện tượng dịch thơ đa bản dịch (bài Thư gửi mẹ có 20 bản dịch), dịch thơ sang tiếng dân tộc thiểu số (Triệu Lam Châu dịch sang tiếng Tày), và các quy cách đặt nhan đề cho thơ vô đề của Êxênhin trong thực tiễn dịch thuật tiếng Việt.
Chương 3: Thơ Xecgây Êxênhin qua nghiên cứu - phê bình và giảng dạy
Chương 3 khảo sát kênh nghiên cứu phê bình và kênh giảng dạy trong nhà trường:
Về nghiên cứu phê bình, luận án thu thập 130 công trình, phân loại thành các thể loại: điểm sách (7 bài), tiểu luận (5 bài), chân dung văn học (6 bài), đối thoại phê bình (1 bài), bài nghiên cứu chuyên sâu (69 bài, trong đó có 12 bài dịch từ tiếng Nga và 5 bài của tác giả Việt Nam được dịch in tại Nga), cùng các công trình nghiên cứu trong trường đại học (12 khóa luận tốt nghiệp, 5 luận văn thạc sĩ, 3 báo cáo khoa học, 5 đề tài khoa học). Luận án chỉ ra các khuynh hướng nghiên cứu chính:
- Khuynh hướng nghiên cứu tiểu sử - chân dung nghệ thuật.
- Khuynh hướng nghiên cứu thi pháp học (không gian nghệ thuật, hình tượng thiên nhiên, màu sắc, biểu tượng người mẹ, nỗi buồn đồng quê).
- Khuynh hướng nghiên cứu so sánh văn học và tiếp nhận văn hóa.
Về tiếp nhận trong nhà trường:
- Bậc đại học: Thơ Êxênhin được giảng dạy liên tục từ năm 1962 tại các khoa Ngoại ngữ/Sư phạm tiếng Nga và trở thành học phần chính trong môn Văn học Nga tại các khoa Ngữ văn trên toàn quốc.
- Bậc THPT: Giai đoạn 1990–2008 (18 năm), tác phẩm Thư gửi mẹ và Cây bạch dương (bản dịch của Anh Ngọc) được đưa vào giảng dạy chính khóa ở cả hai ban chuyên ban và không chuyên ban; các bài Ôi nước Nga thân thiết của tôi ơi và Nước Nga Xô viết (bản dịch của Thúy Toàn) được đưa vào phần đọc thêm. Luận án thống kê được 46 tài liệu hướng dẫn học tập, sách giáo viên, đề thi tốt nghiệp THPT liên quan đến thơ Êxênhin.
Chương 4: Thơ Xecgây Êxênhin - sự tương đồng và ảnh hưởng trong sáng tác
Chương 4 làm rõ sự tương đồng loại hình và ảnh hưởng trực tiếp của thơ Êxênhin đối với thơ ca Việt Nam hiện đại:
- Tương đồng loại hình giữa thơ Êxênhin và phong trào Thơ Mới: Luận án phân tích sự tương đồng về cảm quan thẩm mĩ, nỗi sầu muộn trước sự biến đổi của làng quê nông thôn truyền thống, tình yêu gắn bó với thiên nhiên và nỗi cô đơn cá nhân giữa thơ Êxênhin và các đại biểu Thơ Mới Việt Nam như Nguyễn Bính (nhà thơ của hồn quê Việt Nam), Đoàn Văn Cừ, Hàn Mặc Tử. Sự tương đồng này bắt nguồn từ sự chuyển đổi mô hình xã hội nông nghiệp cổ truyền sang công nghiệp hóa - đô thị hóa ở cả Nga và Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Tiếp nhận ảnh hưởng qua đề tài "Êxênhin" trong thơ Việt Nam: Luận án khảo sát 53 thi phẩm của các nhà thơ Việt Nam sáng tác trực tiếp về cuộc đời và hình tượng Êxênhin. Các tác giả tiêu biểu gồm Phùng Quán (Gửi Xecgây Exênhin, Lá khổ sâm), Anh Chi (Thơ đêm mùa đông), Nguyễn Thị Hồng, Thanh Thảo (Gửi Xecgây Exênhin), Nguyễn Khôi, Hồng Nhu, Nguyễn Đình Chiến, Trần Nhuận Minh (Ở làng quê Êxênhin), Trần Đăng Khoa (Chiều Riadan), Nguyễn Hoa, Bằng Việt (Thơ còn gì hôm nay), Nguyễn Trọng Tạo (Thế giới không còn trăng), Triệu Lam Châu (chùm 6 bài thơ), Phùng Hồ, Tạ Phương... Hình tượng Êxênhin trở thành biểu tượng nghệ thuật về sự chân thành, tình yêu đất nước và bi kịch của người nghệ sĩ.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Về mặt tư liệu: Là công trình đầu tiên thống kê, bao quát và hệ thống hóa toàn bộ các nguồn tư liệu về thơ Êxênhin tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ (1962–2016), bao gồm danh mục 30 ấn phẩm xuất bản, hơn 1000 bản dịch, 130 bài nghiên cứu phê bình, 48 tài liệu giảng dạy trong nhà trường và 53 thi phẩm sáng tác về đề tài Êxênhin.
- Về mặt lý luận: Vận dụng có hệ thống các nguyên lý của Mĩ học tiếp nhận vào trường hợp một tác gia thơ nước ngoài cụ thể; làm sáng tỏ các quy luật vận động của tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mĩ và vai trò của người tiếp nhận qua các kênh dịch thuật, phê bình, giảng dạy và sáng tác văn học.
- Về mặt thực tiễn và kiến nghị:
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch thuật thơ ca: dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Nga, tôn trọng nguyên tác về mặt nhan đề và cấu trúc thể loại, tránh hiện tượng tự ý đặt tên bài thơ không đúng văn bản gốc.
- Cung cấp cơ sở khoa học và tư liệu tin cậy phục vụ công tác giảng dạy môn Văn học nước ngoài tại các trường đại học và trường phổ thông.
- Đề xuất định hướng đưa các tác phẩm ưu tú của văn học thế giới vào chương trình giáo dục phổ thông phù hợp với các giai đoạn hội nhập văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào văn bản luận án, các hạn chế và phạm vi giới hạn bao gồm:
- Luận án chỉ khảo sát mảng thơ trữ tình và trường ca đã được dịch sang tiếng Việt; chưa thể bao quát toàn bộ di sản trước tác của Êxênhin bao gồm văn xuôi, tiểu luận, thư từ và kịch thơ do các thể loại này chưa được chuyển ngữ tại Việt Nam.
- Khung thời gian tư liệu khảo sát kết thúc vào tháng 12 năm 2016. Do đó, các ấn phẩm dịch thuật, công trình nghiên cứu và hoạt động tiếp nhận phát sinh sau năm 2016 chưa nằm trong phạm vi xử lý số liệu của luận án.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở là tiếp tục mở rộng khảo sát các phương thức tiếp nhận liên nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, truyền hình, điện ảnh) và nghiên cứu chuyên sâu các bản dịch trường ca lớn của Êxênhin khi có thêm các bản dịch tiếng Việt mới.
Giá trị tham khảo
Công trình mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nhà nghiên cứu văn học và nghiên cứu sinh chuyên ngành: Nguồn thư mục toàn diện tại các phần phụ lục là tư liệu chuẩn xác để tra cứu lịch sử tiếp nhận văn học Nga tại Việt Nam và phương pháp ứng dụng Mĩ học tiếp nhận.
- Giảng viên, giáo viên Ngữ văn: Cung cấp hệ thống kiến thức thi pháp, tư liệu so sánh và lịch sử giảng dạy hai tác phẩm tiêu biểu (Thư gửi mẹ, Cây bạch dương) trong nhà trường phổ thông và đại học.
- Dịch giả và biên tập viên xuất bản: Cung cấp bức tranh phân tích kỹ thuật dịch thuật thơ (vấn đề nhan đề, giữ nhịp điệu, chuyển dịch ngôn ngữ Nga - Việt - Tày) và thực trạng ấn phẩm văn học dịch.
- Người làm công tác quản lý giáo dục và phát triển chương trình: Tham khảo kinh nghiệm lựa chọn, phân bổ và điều chỉnh tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình giáo dục phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Thơ Êxênhin xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm nào, qua tác phẩm nào và do ai dịch? Thơ Êxênhin xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1962 trong tập Thơ Liên Xô do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Bản dịch tiếng Việt do nhà thơ Xuân Diệu thực hiện dựa trên bản dịch nghĩa tiếng Nga của dịch giả Thúy Toàn.
2. Quá trình tiếp nhận thơ Êxênhin ở Việt Nam được phân chia thành mấy giai đoạn và căn cứ vào các mốc thời gian nào? Luận án phân chia quá trình tiếp nhận thành 3 giai đoạn dựa trên các mốc: năm 1962 (xuất hiện bản dịch đầu tiên và giảng dạy tại trường đại học), năm 1990 (đưa vào giảng dạy chính thức tại trường THPT), và năm 2005 (chương trình SGK chỉnh lý rút tác giả Êxênhin khỏi cấp THPT):
- Giai đoạn 1: 1962 – 1989
- Giai đoạn 2: 1990 – 2004
- Giai đoạn 3: 2005 – 2016
3. Số lượng bản dịch và số lượng dịch giả thơ Êxênhin tại Việt Nam được luận án thống kê là bao nhiêu? Luận án thống kê được 54 dịch giả tham gia dịch thơ Êxênhin, hình thành hơn 1000 bản dịch tiếng Việt từ hơn 300 tác phẩm trữ tình (gồm 273 bài thơ, 25 trường ca nhỏ và 2 trường ca).
4. Những tác phẩm nào của Êxênhin từng được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa THPT giai đoạn 1990–2008? Trong giai đoạn 1990–2008, chương trình Ngữ văn THPT đưa vào giảng dạy chính khóa hai tác phẩm Thư gửi mẹ và Cây bạch dương (bản dịch của Anh Ngọc), đồng thời giới thiệu đọc thêm hai bài Ôi nước Nga thân thiết của tôi ơi và Nước Nga Xô viết (bản dịch của Thúy Toàn).
5. Luận án chỉ ra sự tương đồng loại hình giữa thơ Êxênhin và những nhà thơ Việt Nam nào? Luận án chỉ ra sự tương đồng loại hình về cảm quan thẩm mĩ nông thôn, nỗi sầu muộn trước sự biến thiên thời đại và tâm thức gắn bó với cội nguồn đồng quê giữa thơ Êxênhin và các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ và Hàn Mặc Tử.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đào Thị Anh Lê là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện lịch sử hơn 50 năm tiếp nhận thơ Xecgây Êxênhin tại Việt Nam (1962–2016). Bằng việc vận dụng khung lý thuyết mĩ học tiếp nhận kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành, tác giả đã tái hiện bức tranh tiếp nhận phong phú trên cả bốn phương diện: dịch thuật - xuất bản, nghiên cứu phê bình, giảng dạy nhà trường và sáng tác thi ca. Hệ thống tư liệu và các kết luận khoa học của luận án khẳng định vị trí sâu đậm của Êxênhin trong đời sống tinh thần độc giả Việt Nam, đồng thời cung cấp nguồn tham khảo giá trị cho công tác nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy văn học nước ngoài.