Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Thơ chữ Hán Cao Bá Quát - những điểm mới về nội dung và nghệ thuật do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tính thực hiện tại Hà Nội năm 2014, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Nghiên cứu tập trung giải quyết một nhiệm vụ văn học sử trọng tâm: nhận diện, hệ thống hóa và lý giải những chuyển biến mang tính cách tân trong toàn bộ di sản thi ca chữ Hán của tác giả Cao Bá Quát (1808 - 1855).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn học chữ Hán nửa đầu thế kỷ XIX đạt được quy mô phát triển lớn, trong đó Cao Bá Quát là một tác gia tiêu biểu với khối lượng sáng tác đồ sộ. Mặc dù thơ ca của ông đã thu hút sự chú ý của giới học thuật từ trước và sau năm 1945, nhưng trong một thời gian dài, các nghiên cứu chưa thể triển khai một cách hệ thống, toàn diện do tình trạng văn bản phân tán và chưa được dịch thuật trọn vẹn. Sau khi bộ Cao Bá Quát toàn tập (hai tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học ấn hành năm 2004 và 2012) công bố 1212 bài thơ chữ Hán đã qua xử lý văn bản học, điều kiện tư liệu mới cho phép khảo cứu bao quát toàn bộ chỉnh thể sáng tác này. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần đặt 1212 bài thơ trong tương quan so sánh liên văn bản và loại hình tác giả với các cây bút tiền bối lẫn đương thời, từ đó làm sáng tỏ ranh giới giữa yếu tố kế thừa quy phạm trung đại và những nhân tố mới bộc lộ ý thức cá nhân.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm hai điểm chính:
- Đặt thơ chữ Hán Cao Bá Quát vào tiến trình văn học dân tộc, so sánh thi ca của ông với các tác giả tiêu biểu trước và cùng thời để tìm ra những nét riêng mang tính chất đổi mới về cả nội dung tư tưởng lẫn phương thức biểu đạt nghệ thuật.
- Xác định những đóng góp cụ thể của tác giả đối với văn học trung đại Việt Nam, làm rõ vai trò dự báo cho sự biến chuyển của một thế hệ cầm bút, góp phần hình thành đặc điểm giao thời giữa văn học trung đại và văn học hiện đại trong thế kỷ XIX.
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp là 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát được dịch sang tiếng Việt trong bộ Cao Bá Quát toàn tập. Đối tượng so sánh mở rộng bao gồm hệ thống thơ chữ Hán của các tác giả trung đại tiêu biểu đi trước (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du) và các tác giả cùng thời nửa đầu thế kỷ XIX (Phan Thúc Trực, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Miên Thẩm).
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn về nội dung ở các biểu hiện đổi mới về nội dung và nghệ thuật thi ca. Về mặt tư liệu, luận án sử dụng văn bản chính từ bộ Cao Bá Quát toàn tập (2004, 2012), kết hợp đối chiếu với công trình Thơ văn Cao Bá Quát (Vũ Khiêu chủ trì, Nhà xuất bản Hà Nội, 2010) cùng các văn bản dịch thuật liên quan. Không gian khảo sát gắn liền với bối cảnh xã hội Việt Nam thời Nguyễn từ thời Gia Long đến đầu thời Tự Đức, đồng thời mở rộng tới các địa bàn giao lưu văn hóa khu vực như chuyến công vụ tại Hạ Châu năm 1844.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả luận án đã tiến hành tổng thuật lịch sử nghiên cứu về Cao Bá Quát trên bốn phương diện chính:
Thứ nhất, về lịch sử văn bản thơ chữ Hán, công trình của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quận đã khảo cứu công phu quá trình tập hợp văn bản:
- Năm 1970, nhóm biên soạn do Vũ Khiêu chủ trì tuyển dịch 161 bài trong công trình Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, khi đó số lượng bài thơ chữ Hán được xác định của ông là 1353 bài.
- Năm 1984, cuốn sách tái bản lần ba đổi tên thành Thơ văn Cao Bá Quát, in 156 bài (rút bỏ 5 bài do xác định nhầm tác giả).
- Nguyễn Ngọc Quận xác định tổng số bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát là 1335 bài; trong đó có 8 bài không thấy chép trong toàn bộ tư liệu thu thập được và 46 bài chỉ xuất hiện trong bản D (Cao Bá Quát thi tập, ký hiệu A.210) cần được tiếp tục khảo sát.
- Khi Trung tâm Nghiên cứu Quốc học công bố Cao Bá Quát toàn tập (2004, 2012) với 1212 bài, vẫn còn khoảng 123 bài thơ chữ Hán chưa được thu thập trong bộ toàn tập này.
Thứ hai, về quan niệm văn học của Cao Bá Quát, các tác giả Trúc Khê, Lê Trí Viễn, Phương Lựu, Nguyễn Lộc, Vũ Khiêu, Nguyễn Tài Thư, Phạm Quang Trung, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Phạm Ngọc Hiền, Nguyễn Thanh Tùng đã làm rõ nhiều khía cạnh. Nguyễn Ngọc Quận chỉ ra rằng bài bạt Thư Tiêu Lâm thi tập hậu (ký hiệu A.299) viết cho tập thơ của Phạm Kế Chi từng bị nhiều nhà nghiên cứu gán nhầm cho Cao Bá Quát, song tư tưởng bài này vẫn tương đồng với quan niệm chung của ông. Các học giả nhấn mạnh Cao Bá Quát thuộc số ít tác gia trung đại tự nhận mình là nhà thơ, coi trọng tính chân thật ("làm thơ phải gốc ở tính tình"), phê phán lối bắt chước sáo rỗng và tiếp thu thuyết "tính linh" của Viên Mai.
Thứ ba, về những điểm mới trong nội dung thơ ca, Vũ Khiêu, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Lộc, Nguyễn Huệ Chi chỉ ra tiếng nói phê phán chế độ phong kiến suy thoái và niềm thương cảm người dân lao khổ. Điểm mới về tầm nhìn phương Tây qua chuyến đi "Dương trình hiệu lực" ở Hạ Châu được các học giả Vĩnh Sính, Claudine Salmon, Tạ Trọng Hiệp, N. Nikulin, Xuân Diệu, Trần Nho Thìn phân tích sâu sắc, khẳng định ông là trí thức sớm nhận ra sự vượt trội của kỹ thuật phương Tây và nguy cơ xâm lăng. Trần Thị Băng Thanh phân tích bài Đạo phùng ngạ phu để chỉ ra cái nhìn hiện thực khách quan, tỉnh táo; Nguyễn Hữu Sơn và Nguyễn Thị Kim Châu làm rõ cảm thức hoài nghi, trăn trở và nhận thức về sự phi lý của thân phận con người.
Thứ tư, về phương diện nghệ thuật, các công trình của Thuần Phong, Ngô Văn Phú, Nguyễn Lộc, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Huệ Chi ghi nhận phong cách phóng khoáng, việc gia tăng yếu tố tự sự, kết hợp tả thực với lãng mạn, sự xuất hiện của thể loại du ký và lối đặt câu hỏi suy tưởng ở câu thơ lẻ.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là việc chuyển từ các bài viết nghiên cứu chuyên đề, đơn lẻ hoặc khảo sát cục bộ sang một công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện, đặt toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán vào hệ thống đối thoại liên văn bản nhằm xác lập vị trí văn học sử cụ thể của Cao Bá Quát.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án xây dựng trên hai trụ cột học thuật chính:
- Lý thuyết liên văn bản: Xuất phát từ chủ nghĩa đối thoại của M. Bakhtin và sự phát triển của Julia Kristeva, Harold Bloom, J. Hillis Miller, Gérard Genette, Michael Riffaterre. Luận án vận dụng quan niệm ngôn ngữ luôn mang tính đối thoại, tác phẩm văn học không tồn tại cô lập mà kết nối trong mạng lưới diễn ngôn xã hội. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát được nhìn nhận như một thực thể vừa tiếp thu tinh hoa truyền thống Trung Quốc và Việt Nam, vừa đối thoại, tranh biện và bứt phá khỏi các khuôn mẫu thẩm mỹ thời trước và cùng thời.
- Lý thuyết nghiên cứu văn học sử về tác giả: Dựa trên giáo trình của Trần Đình Sử và cộng sự, tác giả khảo sát nhà thơ trong mối tương quan với thời đại, hoàn cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng, truyền thống gia đình và trải nghiệm cá nhân. Tác giả cũng được định vị trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc và trong mô hình loại hình học tác giả nhà nho (từ nhà nho hành đạo bất đắc chí chuyển sang hành động phản kháng; từ nhà nho gắn bó với quy phạm sang lớp sĩ phu thức thời, li tâm hệ tư tưởng chính thống). Bên cạnh đó, luận án vận dụng các phạm trù lý luận như thuyết "tính linh" thời Minh - Thanh (Viên Mai), trào lưu Nho học Thực học, và cặp phạm trù "ngã" - "phi ngã".
Về phương pháp nghiên cứu, luận án phối hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Là phương pháp then chốt, thực hiện so sánh lịch đại (với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du) và đồng đại (với Nguyễn Văn Siêu, Phan Thúc Trực, Nguyễn Miên Thẩm).
- Phương pháp hệ thống: Thực hiện khảo sát, thống kê và phân loại 1212 bài thơ để xác định tần suất xuất hiện của các hình tượng, cấu trúc cú pháp, thể loại.
- Phương pháp lịch sử - cụ thể: Đặt tư tưởng và phong cách tác giả vào bối cảnh lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Vận dụng tri thức từ văn bản học, sử học, văn hóa học, triết học, tâm lý học và xã hội học.
- Phương pháp loại hình học tác giả, phương pháp đọc sâu và phân tích - tổng hợp.
Nguồn tư liệu sử dụng bao gồm hai tập Cao Bá Quát toàn tập (2004, 2012) gồm 1212 bài dịch, văn bản Thơ văn Cao Bá Quát (2010), cùng các tập thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Phan Thúc Trực, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Miên Thẩm để phục vụ đối sánh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 (từ trang 6 đến trang 21) trình bày hai nội dung chính: Lịch sử vấn đề và Cơ sở lý thuyết của đề tài. Ở phần lịch sử vấn đề, luận án tổng thuật chi tiết bốn nhánh nghiên cứu: văn bản học thơ chữ Hán Cao Bá Quát; các công trình luận giải quan niệm sáng tác; các bài nghiên cứu về đổi mới nội dung tư tưởng; và các nhận định về đặc điểm nghệ thuật thi ca. Tác giả chỉ ra những thành tựu của giới nghiên cứu đi trước, đồng thời nêu bật nhu cầu khảo sát toàn diện 1212 bài thơ đã được xuất bản. Ở phần cơ sở lý thuyết, chương này xác lập khung thao tác dựa trên lý thuyết liên văn bản (nhấn mạnh tính đối thoại giữa văn bản của Cao Bá Quát với các quy phạm thẩm mỹ trước đó) và lý thuyết văn học sử về tác giả (tiếp cận tác giả qua các mối liên hệ thời đại, tiến trình văn học và loại hình học nhà nho).
Chương 2: Những tiền đề tạo nên điểm mới trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Chương 2 (từ trang 22 đến trang 40) đi sâu lý giải các tiền đề khách quan và chủ quan hình thành nên nét mới trong sáng tác của nhà thơ:
| Nhóm tiền đề |
Các yếu tố cấu thành cụ thể |
Dữ kiện lịch sử, thực tiễn được trích xuất |
| Tiền đề lịch sử, xã hội |
Triều Nguyễn đầu thế kỷ XIX bộc lộ nhiều yếu tố truyền thống lỗi thời |
- Triều đình duy trì mô hình Nho giáo tập quyền nệ cổ (Yoshiharu Tsuboi nhận định nhà Nguyễn tự coi như nhà Minh). - Giáo dục khoa cử nặng hư văn, từ chương (vua Minh Mạng từng nhận xét khoa cử làm sai lầm nhân tài; Nguyễn Trường Tộ phê phán tệ quan liêu "10 con dê chín người chăn"). - Kinh tế thực hiện "trọng nông ức thương", cản trở kinh tế hàng hóa. - Khởi nghĩa nông dân bùng nổ liên tục (khoảng 400 cuộc trong 50 năm đầu thế kỷ XIX). |
| Tiền đề văn hóa, xã hội và văn học |
Tầng lớp thị dân, luồng gió phương Tây và các chuyển động văn học |
- Kinh tế hàng hóa phát triển tại Kẻ Chợ, Phố Hiến, Hội An, Sài Gòn làm nảy sinh tầng lớp thị dân mang tư tưởng hưởng lạc, bình đẳng phường hội, hình thành không gian văn hóa "thị - chợ". - Ảnh hưởng phương Tây: quan hệ ngoại giao, 21 chuyến tàu viễn dương giai đoạn 1835-1840. - Ảnh hưởng phong trào Thực học và thuyết "tính linh" của Viên Mai. - Hoạt động chấn hưng văn hóa của sĩ phu Hà thành những năm 1830. - Sự ưu thắng của văn học thẩm mỹ, phi chức năng: thơ Nôm Hồ Xuân Hương, Thượng kinh kí sự, Hoàng Lê nhất thống chí, thể hát nói, ca, hành và nghệ thuật tuồng. |
| Tiền đề cuộc đời, con người tác giả |
Phẩm chất cá nhân và các bước ngoặt cuộc đời |
- Sinh năm 1808 tại Phú Thị, Gia Lâm; thông minh, được thầy Cao Huy Diệu rèn cặp; cha đặt tên tự Chu Thần mang chí phò vua giúp đời. - Bản tính phóng túng, phá cách ("thiếu niên tâm tích tảo thanh cuồng"); tham gia mở lớp dạy học chấn hưng văn hóa. - Con người ưu phẫn: lận đận thi cử (thi Hương 1821 trượt, đỗ 1831, thi Hội 1832 trượt); làm chức Hành tẩu Bộ Lễ nhỏ mọn; năm 1841 làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, cùng Phan Nhạ lấy muội đèn chữa 24 quyển thi phạm quy, bị khép tội giảo giam hậu. - Chuyến đi "Dương trình hiệu lực" tại Hạ Châu (1/1844 - 7/1844) trên tàu Phấn Bằng cùng đoàn Đào Trí Phú, Trần Tú Dĩnh; tiếp xúc văn minh kỹ thuật phương Tây tại Singapore, mở rộng nhận thức thời cuộc. |
Chương 3: Những điểm mới về nội dung
Chương 3 (từ trang 41 đến trang 105) phân tích các biểu hiện đổi mới về tư tưởng và cảm xúc trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát:
-
Từ quan niệm văn học đến những điểm mới: Cao Bá Quát chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán vì cho rằng dùng chữ Hán thể hiện văn chương tự tin hơn. Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thuyết "tính linh", ông xem chữ "tình" là gốc rễ của sáng tác: "Bàn về thơ, tuy có phải trọng về quy cách, nhưng làm thơ thì phải gốc ở tính tình" (Thương Sơn công thi tập hậu tự). Ông đề cao cá tính bản ngã với tôn chỉ "Văn tất kỉ xuất" (Văn phải tự mình làm ra), phê phán kịch liệt thói mô phỏng, chắp vá câu chữ cổ nhân trong bài Văn tất kỉ xuất và Đề Sát viện Bùi công Yên Đài anh ngữ khúc hậu. Ông không cực đoan bài xích cổ nhân mà chủ trương học tập tinh hoa, đánh giá cao thơ Lý - Trần (Bình sinh ngũ thập vận), thơ Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, thể Đại Nhã trong Kinh Thi, không chạy theo trào lưu "phản Tống quy Đường" đang thịnh hành.
-
Điểm mới trong quan niệm về xã hội:
- Bộc lộ sự hoài nghi sâu sắc đối với lý tưởng và con đường khoa cử cử nghiệp sáo rỗng.
- Nhìn nhận thực tế đời sống khắc nghiệt, thân phận bấp bênh và sự tha hóa của con người trong cảnh ngộ khốn cùng; tiêu biểu như bài thơ Đạo phùng ngạ phu thể hiện cái nhìn hiện thực tỉnh táo, khách quan của lý trí.
- Nhận thức mới về thế giới phương Tây qua chuyến đi Hạ Châu: miêu tả con người ngoại quốc với cái nhìn thực tế, không thành kiến; ghi nhận sức mạnh công nghiệp, cơ khí của tàu hơi nước phương Tây trong bài Hồng mao thuyền hoả ca; đồng thời dự cảm chính xác về mối hiểm họa xâm lược từ chủ nghĩa thực dân đang đe dọa vận mệnh dân tộc.
-
Điểm mới về chữ "tình": Đưa thơ chữ Hán trở về với thế giới tình cảm đời thường, chân thực. Tác giả thể hiện tình cảm gia đình tha thiết với mẹ già, vợ hiền, con nhỏ; tình cảm bạn bè chân thành, tri âm; lòng trắc ẩn trước những kiếp người lao động cùng khổ trong xã hội.
-
Điểm mới trong chủ đề người phụ nữ: Mở rộng đối tượng phản ánh sang hình ảnh người phụ nữ phương Tây (bài thơ miêu tả người đàn bà Tây dương tại Singapore), quan sát tự nhiên từ diện mạo, hành động, tâm lý tình cảm, vượt qua các ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến truyền thống.
-
Điểm mới trong chủ đề thiên nhiên: Bên cạnh những bức tranh thiên nhiên sinh động, đa sắc, thơ ông xuất hiện nhiều cảnh tượng khắc nghiệt, dữ dội, thất thường mang tính tàn phá (các bài thơ Đối vũ, Du vân, Thập tứ dạ Nghệ An thành trị bạo phong, Kim nhật hành). Thiên nhiên dữ dội trở thành phương tiện ký thác nỗi ưu phẫn, sự bế tắc và bức bối tinh thần của cái tôi cá nhân trước thời cuộc ngột ngạt.
Chương 4: Những điểm mới về nghệ thuật
Chương 4 (từ trang 106 đến trang 147) làm sáng tỏ các cách tân thi pháp nghệ thuật:
- Không gian và thời gian đời tư:
- Không gian đời tư: Không gian quê nhà Phú Thị hiện lên bình dị, thân thuộc; đồng thời xuất hiện không gian chật hẹp, ngột ngạt chứa chan nỗi sầu hận, bế tắc của kẻ sĩ lận đận.
- Thời gian đời tư: Chuyển dịch từ thời gian vũ trụ tuần hoàn sang thời gian sinh hoạt thường nhật (khoảnh khắc uống trà, đêm ngồi trò chuyện); thời gian cụ thể, trực cảm gắn liền với dòng tâm trạng cá nhân.
-
Phát triển thể loại và hình thức biểu hiện: Ưu tiên sử dụng thể loại kí sự thơ và thơ cổ thể trường thiên. Thể tài này tạo điều kiện giải phóng cảm xúc, không bị câu thúc bởi niêm luật gò bó của Đường luật, phù hợp với giọng điệu hào sảng, phóng khoáng.
-
Thể hiện cái tôi tác giả:
- Sử dụng trực tiếp đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất để bộc lộ cái tôi cá nhân.
- Xây dựng nghệ thuật tự dẫn, chú giải: đặt các lời tiểu dẫn, lời chú thích chi tiết kèm theo bài thơ nhằm xác định ngữ cảnh sáng tác cụ thể và biểu đạt trực tiếp quan điểm riêng.
- Tăng cường chất lý sự, nghị luận và tư duy phân tích của lý tính; cách tân thi pháp khi đặt các câu hỏi tu từ ở vị trí câu thơ lẻ để trực tiếp lật lại vấn đề và khơi mở suy tưởng.
- Gia tăng tính trần thuật và miêu tả cụ thể:
- Cách đặt nhan đề thơ rõ ràng, tường minh, nêu rõ thời gian, địa điểm, sự việc tiếp xúc.
- Chú trọng miêu tả chi tiết đời sống chân thực, khách quan, tránh các ước lệ tượng trưng chung chung.
- Sử dụng nghệ thuật liên tưởng, so sánh phong phú từ trực quan sinh động đến nhận thức khái quát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học cơ bản và thực tiễn:
Về mặt lý luận văn học:
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên khảo sát, thống kê và phân tích một cách hệ thống toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát trong mối liên hệ đồng bộ giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
- Làm sáng tỏ sự vận động của ý thức cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam, chỉ ra quá trình tiếp nhận và thực hành thuyết "tính linh" cùng nguyên lý "Văn tất kỉ xuất" như một gạch nối văn học sử chuyển từ thi pháp cổ điển sang thi pháp hiện đại.
- Đặt sáng tác của Cao Bá Quát vào mạng lưới đối thoại liên văn bản, xác lập rõ rệt vị trí của ông: một nhân vật đứng ở ngưỡng cửa của thời kỳ lịch sử mới, mang phẩm chất của một trí thức sớm nhận biết thực tế đất nước và thế giới.
Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Đính chính và chuẩn hóa các nhận định văn bản học đối với thơ văn Cao Bá Quát (loại trừ việc dùng bài Thư Tiêu Lâm thi tập hậu làm văn bản gốc khẳng định quan niệm của tác giả; thống kê sự chênh lệch giữa các bản in 1970, 1984 và bộ toàn tập 2004, 2012).
- Cung cấp nguồn ngữ liệu và hệ thống luận điểm khoa học phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập tác giả Cao Bá Quát nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung trong hệ thống trường phổ thông, cao đẳng và đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác nhận tình hình văn bản tác phẩm Cao Bá Quát vẫn chưa đạt đến sự hoàn tất tuyệt đối. Theo kết quả khảo cứu của Nguyễn Ngọc Quận, toàn bộ di sản thơ chữ Hán có 1335 bài, trong khi bộ Cao Bá Quát toàn tập mới chỉ công bố 1212 bài, tức vẫn còn 123 bài chưa được đưa vào khảo sát. Ngoài ra, việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên các văn bản dịch thơ tiếng Việt trong bộ toàn tập, do đó một số sắc thái biểu đạt tinh vi của nguyên bản chữ Hán vẫn cần được kiểm chứng đối chiếu sâu hơn với hệ thống dị bản Hán văn (đặc biệt là bản chép tay A.210).
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục khảo sát văn bản học và dịch thuật đối với 123 bài thơ chữ Hán còn lại để hoàn thiện bức tranh toàn diện về tác phẩm Cao Bá Quát.
- Triển khai so sánh chuyên đề sâu hơn giữa mảng thơ đi công vụ Hạ Châu của Cao Bá Quát với hệ thống thi tập đi sứ, công cán hải ngoại của các tác giả triều Nguyễn khác.
- Kết hợp nghiên cứu mảng thơ chữ Hán với mảng thơ chữ Nôm và các bài hát nói của Cao Bá Quát nhằm làm sáng tỏ toàn diện phong cách nghệ thuật của tác giả.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Hán Nôm và Lịch sử tư tưởng khi tiếp cận thi pháp văn học trung đại, quá trình giao lưu văn hóa Đông - Tây nửa đầu thế kỷ XIX.
- Giảng viên đại học và giáo viên ngữ văn các trường trung học phổ thông trong việc biên soạn bài giảng, phân tích các tác phẩm của Cao Bá Quát được đưa vào chương trình giáo dục.
- Các phần có giá trị tham khảo cao nhất bao gồm: hệ thống tư liệu lịch sử - xã hội đầu thế kỷ XIX trong Chương 2; phân tích thực chứng mảng thơ viết về văn minh phương Tây trong Chương 3; và các phát hiện về thi pháp trần thuật, nghệ thuật chú giải, câu hỏi tu từ ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án khảo sát bao nhiêu bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát và dựa trên nguồn tài liệu cốt lõi nào?
Luận án khảo sát toàn bộ 1212 bài thơ chữ Hán đã được dịch ra tiếng Việt, in trong bộ Cao Bá Quát toàn tập (hai tập, Mai Quốc Liên chủ biên, Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội, ấn hành năm 2004 và 2012).
-
Tác giả luận án đính chính điểm gì về văn bản học liên quan đến bài bạt Thư Tiêu Lâm thi tập hậu?
Luận án dẫn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quận (2004) chỉ ra rằng bài Thư Tiêu Lâm thi tập hậu (chép trong Cao Chu Thần thi tập, ký hiệu A.299) thực chất là bài hậu tự viết cho tập thơ Tiêu Lâm của tác giả Phạm Kế Chi; chưa đủ cơ sở văn bản học để khẳng định văn bản này là của Cao Bá Quát như nhiều nhà nghiên cứu trước đây từng trích dẫn.
-
Chuyến đi "Dương trình hiệu lực" ở Hạ Châu diễn ra vào thời gian nào và có tác động ra sao đến thơ Cao Bá Quát?
Chuyến đi diễn ra trong 7 tháng, từ tháng 1 năm 1844 đến tháng 7 năm 1844, trên tàu Phấn Bằng đi đến vùng Hạ Châu (Singapore, Malacca, Penang). Trải nghiệm này tạo nên bước chuyển biến lớn về nhận thức: ông tận mắt chứng kiến nền văn minh kỹ thuật phương Tây (tàu hơi nước), miêu tả phụ nữ phương Tây, và sớm nhận thức được nguy cơ xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với vận mệnh đất nước.
-
Điểm khác biệt trong cách sử dụng câu hỏi tu từ của Cao Bá Quát so với quy phạm Đường luật truyền thống là gì?
Trong thơ Đường luật thông thường, câu hỏi tu từ thường được đặt ở câu chẵn (sau câu lẻ) nhằm khơi gợi vấn đề. Ở thơ Cao Bá Quát, phần lớn các câu hỏi lại được đặt ở vị trí câu lẻ, nghĩa là nêu thắc mắc trước rồi mới dẫn giải, đoán định; điều này thể hiện lối tư duy nghiền ngẫm, tranh biện và liên tục đặt lại vấn đề đối với hiện thực đời sống.
-
Quan niệm sáng tác cốt lõi của Cao Bá Quát được luận án phân tích dựa trên những luận điểm nào?
Quan niệm của ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thuyết "tính linh" (Viên Mai) và trào lưu Thực học: khẳng định "làm thơ thì phải gốc ở tính tình", nêu cao nguyên tắc "Văn tất kỉ xuất" (chống mô phỏng, sao chép văn của người khác), đề cao chất mộc mạc, tự nhiên như thơ Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, và không bị trói buộc vào phong trào phục cổ "phản Tống quy Đường".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tính là công trình nghiên cứu hệ thống về 1212 bài thơ chữ Hán của Cao Bá Quát trên cơ sở văn bản học của bộ toàn tập. Thông qua việc vận dụng lý thuyết liên văn bản và lý thuyết tác giả văn học sử, luận án đã làm rõ các tiền đề lịch sử - xã hội, văn hóa và trải nghiệm cuộc đời hình thành nên bước chuyển biến trong ngòi bút của thi sĩ họ Cao. Các phát hiện về sự hoài nghi khoa cử, nhận thức về kỹ thuật phương Tây, sự mở rộng đề tài đời tư cùng những cách tân về không - thời gian nghệ thuật và tính trần thuật đã khẳng định vị trí của Cao Bá Quát như một tác gia chuyển tiếp quan trọng giữa hai thời đại văn học trung đại và hiện đại của dân tộc.