đặt vấn đề. - Sanyal, Bikas (2003) Tài liệu quản lý trường đại học trong giáo dục đại học đã cung cấp bức tranh chung về quản lý các trƣờng đại học trong bốn hệ thống: Tự chủ và tính chịu trách nhiệm Quá độ sang tự chủ Tự chủ gặp khó khăn Kế hoạch và kiểm soát tập trung. Tuy nhiên các nội dung đƣợc đề cập chỉ tập trung so sánh cách thức điều khiển có tính khái quát của nhà nƣớc và giải quyết vấn đề quản lý bên trong của trƣờng đại học. - Fielden (2008), Global trends in university governance đã hệ thống và khái quát xu hƣớng toàn cầu trong quản trị đại học về thể chế hóa địa vị pháp lý các trƣờng đại học công nhƣ thực thể độc lập tự chủ giảm bớt sự kiểm soát nhà nƣớc trao quyền tự chủ tài chính cho các trƣờng tăng cƣờng các biện pháp đảm bảo trách nhiệm xã hội tăng cƣờng quản lý cấp trƣờng thông qua xây dựng hội đồng trƣờng v.v… Tuy nhiên một số quan niệm và cách tiếp cận quản trị còn chƣa ph hợp với bối cảnh của Việt Nam.
- Salmi (2009), The growing accountability agenda in tertiary education: Progress or mixed blessing? đã phân tích trách nhiệm xã hội của trƣờng đại học 14 trƣớc yêu cầu cạnh tranh của các bên liên quan và cách thức bảo đảm trách nhiệm này đồng thời khuyến cáo khả năng trách nhiệm xã hội có thể trở thành gánh nặng cho các trƣờng. Tuy nhiên chƣa đƣa ra một phƣơng thức QLNN đủ rõ ràng nào nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội đƣợc thực thi. - Dƣơng Minh Quang (2010), Đổi mới quản lý: Đòn bẩy để phát triển giáo dục đại học Việt Nam, Báo cáo hội thảo khoa học “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt Nam” tháng 10/2010, TP. Hồ Chí Minh.
Quản lý trong GDĐH đƣợc xem nhƣ là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Nó đƣợc xem nhƣ là đòn bẩy để phát triển giáo dục Việt Nam là khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện của GDĐH góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục. Trong những năm qua bên cạnh những đóng góp thành tựu mà GDĐH mang lại thì nó cũng đã bộc lộ ra nhiều yếu kém, hạn chế; đặc biệt là công tác QLGDĐH còn nhiều bất cập, trì trệ. Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một số yếu kém, hạn chế trong công tác QLGDĐH trong thời gian qua chủ yếu ở ba mặt: sƣ phạm, quản lý hệ thống giáo dục và tiếp thu, ứng dụng công nghệ.
Bên cạnh đó bài viết còn phân tích một số vấn đề cần phải đƣợc đổi mới trong QLGDĐH để từ đó đƣa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong GDĐH Việt Nam hiện nay. Những vấn đề về đổi mới quản lý trong GDĐH mà bài viết đã trình bày ở trên chỉ có thể đƣợc cải thiện “thực sự” nếu có sự quan tâm sâu sắc giám sát chặt chẽ và quyết tâm cao độ cũng nhƣ sự tham gia tích cực của tất cả các đơn vị cá nhân trong và ngoài nhà trƣờng. Với phạm vi của một bài báo các nội dung trong đó chƣa hệ thống hóa về mặt lý luận cũng nhƣ thực trạng QLGDĐH ở Việt Nam nhất là từ góc độ kinh tế. Đó là nội dung mà NCS cần làm rõ trong nội dung luận án.
- Tác giả Phạm Thị Lan Phƣợng (2010), Quản trị giáo dục đại học tại Anh quốc và những gợi mở đổi mới quản lý giáo dục đại học Việt Nam, áo cáo hội thảo khoa học tháng 10/2010 TP. Hồ Chí Minh. ài viết phân tích những thay đổi trong mô hình quản trị GDĐH của Anh 15 quốc và từ đó liên hệ tới việc đổi mới QLGDĐH tại Việt Nam. Từ kinh nghiệm quản trị GDĐH của Anh quốc tác giả bài viết liên hệ với những vấn đề quản rị GDĐH tại Việt Nam và nêu lên một số khía cạnh chứa đựng những tiềm năng mà có thể thực hiện đổi mới.
Có thể nói là đổi mới QLGDĐH ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu mong muốn của nhiều ngƣời nhƣng thực tế lại quá rối rắm mà muốn đổi mới ở khâu nào cũng gặp phải những rào cản dẫn đến khó thực hiện. Tuy nhiên Việt Nam đang thực hiện thay đổi theo xu thế chung toàn cầu nhƣ nâng cao tính giải trình chú trọng đến kiểm định ngoài xây dựng quy chế hội đồng trƣờng để thực hiện giao quyền tự chủ nhiều hơn cho cơ sở GDĐH. NCS cho rằng nếu những thay đổi đƣợc thực hiện xa hơn nhƣ xúc tiến việc phân cấp QLGDĐH và phát huy tính tự chủ và sáng kiến của đội ngũ các nhà khoa học giáo dục chắc rằng trong một tƣơng lai gần QLGDĐH sẽ đáp ứng đƣợc nhiều hơn các nhu cầu xã hội mong đợi và đạt đƣợc những mục tiêu Đảng nhà nƣớc và ngành giáo dục đặt ra. Nội dung các bài viết trên chủ yếu đề cập tới các vấn đề trong QLGDĐH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay từ chính sách QLGDĐH cơ cấu hệ thống tổ chức quản lý chƣơng trình đào tạo phƣơng pháp giảng dạy quy mô và chất lƣợng tuyển sinh đại học… đến kinh tế - tài chính đại học cơ chế thị trƣờng công bằng xã hội trong GDĐH kinh nghiệm QLGDĐH một số nƣớc trên thế giới v.
Các bài viết này tuy chƣa hệ thống hóa về lý luận và chƣa nêu đầy đủ thực trạng QLGDĐH và đổi mới QLGDĐH song cũng giúp cho NCS có thêm đƣợc: 1) Một số thông tin về GDĐH Việt Nam; 2) Thông tin về một số xu thế phát triển GDĐH trên thế giới và 3) Theo dõi đƣợc một phần nào đó những tranh luận xung quanh các vấn đề về GDĐH QLGDĐH trong giai đoạn hiện nay. Từ đó NCS có thể có thêm dữ liệu để thực hiện nội dung luận án của mình. Các công trình nghiên cứu về giải pháp tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc đối với giáo dục đại học từ góc độ kinh tế Đề tài cấp Bộ (Mã số B 2005 - 80 - TĐ30) Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phân cấp quản lý giáo dục đại học trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, của 16 Phan Văn Kha (2007) đã đƣa ra một số định hƣớng và mô hình tổng thể phân cấp QLGDĐH ở Việt Nam; Xác định những yêu cầu của chế độ tự chủ và chế độ tự chịu trách nhiệm xã hội của các trƣờng đại học. Đề tài cũng đã đề xuất đƣợc 7 giải pháp tăng cƣờng mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ đại học và lộ trình thực hiện các giải pháp.
Với kết quả nghiên cứu của đề tài về lý luận và thực tiễn cũng nhƣ kinh nghiệm cho quốc tế và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc phân cấp QLGDĐH là kiến thức bổ ích mà NCS có thể tham khảo khi thực hiện nội dung luận án. Tuy nhiên đề tài cũng chỉ dừng lại trong phạm vi phân cấp quản lý đào tạo và NCKH, tổ chức và quản lý nhân sự, quản lý tài chính cho các cơ sở GDĐHCL trực thuộc Bộ GD&ĐT; chƣa đề cập cụ thể đến phân cấp quản lý cho từng cấp trong hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục. Song những nội dung đó là nền tảng để NCS có thể tiếp tục nghiên cứu sâu và rộng hơn khi thực hiện các nội dung liên quan đến đề tài luận án. - Tác giả Phan Huy Hùng (2009), trong luận án tiến sĩ của mình đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính toàn diện có thể vận dụng vào thực tiễn làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này về QLGDĐH… Nhìn chung luận án có khá nhiều nội dung quan trọng có liên quan đến đề tài luận án của NCS.
Những nội dung đã đƣợc nghiên cứu trong luận án sẽ là cơ sở để NCS nghiên cứu về QLGDĐH và đổi mới QLGDĐH. Góp phần vào đổi mới cơ cấu quá trình và phƣơng thức quản lý của nhà nƣớc; xác định lại vai trò, chức năng của các cơ quan có thẩm quyền QLGDĐH trong bối cảnh mới. Lê Văn Tạo (2010), Nâng cao vai trò chủ động, tích cực trong quản lý của nhà trường, một yếu tố quyết định sự phát triển, Báo cáo hội thảo khoa học “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học và cao đẳng Việt Nam” tháng 10/2010, TP. Hồ Chí Minh.
Bài viết này tác giả nêu lên vai trò chủ động, tích cực trong quản lý của các nhà trƣờng, một yếu tố quyết định trong phát triển. Nếu một nhà trƣờng biết cầu thị, biết lắng nghe ý kiến ngƣời học, biết lấy sự thành công của ngƣời học làm thƣớc đo 17 chất lƣợng đào tạo của mình thì việc tự chủ trong quản lý mang theo một ý nghĩa đặc biệt tác động tích cực đến phát triển. Quản lý giáo dục đại học là cả một hệ thống quản lý từ nhà nƣớc đến các nhà trƣờng. Từ đó trong phạm vi nghiên cứu của luận án NCS cần làm rõ vai trò của của chính phủ, các Bộ, ngành liên quan, các cơ quan QLNN địa phƣơng trong QLGDĐH khi thực hiện luận án của mình.
Nguyễn Thị Kim Anh (2010), Ứng dụng mô hình Balanced Scorecad trong quản trị trường đại học, Báo cáo hội thảo khoa học, tháng 10/2010, TP. Hồ Chí Minh. Trong môi trƣờng GDĐH hiện đại các trƣờng đại học đang gặp rất nhiều thách thức từ áp lực tăng chỉ tiêu tuyển sinh trong khi qui mô về cán bộ giảng dạy kinh phí cho đào tạo không theo kịp mở rộng các loại hình đào tạo (từ xa trực tuyến…) đổi mới chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy và học tập theo xu hƣớng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) yêu cầu chuẩn hóa qui trình quản lý trao đổi thông tin và hội nhập với các trƣờng đại học khác trên thế giới… Từ đó một bài toán đặt ra cho hầu hết các trƣờng đại học là cần phải quản lý nó theo mô hình nào và theo những tiêu chí cụ thể nào để có thể theo kịp sự phát triển của các trƣờng đại học trong khu vực và thế giới. Từ lý do trên bài viết đã liên hệ đến mô hình Balanced Scorecard (Kaplan & Norton 2001) một mô hình quản lý đã đƣợc áp dụng rất thành công trong lĩnh vực kinh doanh.
Nội dung của bài viết gồm 3 phần: Thứ nhất là phần giới thiệu tổng quan về Balanced Scorecard (BSC); phần thứ hai đề cập đến tính cấp thiết phải áp dụng SC trong lĩnh vực GD&ĐT; phần cuối c ng sẽ đi sâu phân tích xem SC có tác dụng nhƣ thế nào đối với việc quản lý trƣờng ĐHCL hiện nay.