Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Ở chương này, chúng tôi tổng kết các nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ ở các nghiên cứu trong và ngoài nước với hai mảng: nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình và các yếu tố, điều kiện ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thé hệ trong gia đình. Chương 2: Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm địa bàn nghiên cứu. Ở chương 2, chúng tôi cỗ gắng làm rõ phần khái niệm, lí thuyết ứng dụng vào phân tích vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô tả kĩ địa bàn nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở Thành phố Thanh Hóa. Chương 3 nhận diện được thực trạng nghề nghiệp ở thành phố Thanh Hóa qua 3 thế hệ và đánh giá sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình qua 3 tiêu chí: kế thừa về vị trí nghề nghiệp, kế thừa về kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp và kế thừa về giá trị nghề nghiệp. Chương 4: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình ở thành phố Thanh Hóa. Dựa vào phương pháp nghiên cứu của Yasuda về ma trận di động nghề nghiệp và các lí thuyết được sử dụng trong nghiên cứu như: lí thuyết phân tầng xã hội, lí thuyết vốn xã hội và lí thuyết xã hội hóa nghề nghiệp đề nhận diện và phân tích 3 yếu tố ảnh hưởng đến quá trình kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ là: sự thay đổi cấu trúc nghề nghiệp ở thế hệ sau so với thê hệ trước, các yêu tô thuộc về gia đình và cá nhân người lao động.
TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong hướng nghiên cứu về nghề nghiệp ở Việt Nam, những nghiên cứu về vấn đề hướng nghiệp, định hướng nghề nghiệp, làng nghề là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý. Trong khi đó, hướng nghiên cứu về di động nghề nghiệp hay kế thừa nghề nghiệp còn tương đối ít ỏi. Tuy nhiên, trong những nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình có thể tạm chia thành 2 mảng nghiên cứu được chú ý: một là hướng nghiên cứu về nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình, hai là những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kế thừa nghề nghiệp và điều kiện dẫn đến sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình. Các nghiên cứu này, có thê là những nghiên cứu độc lập về từng mảng trên, song đa phần các nghiên cứu đều cố gắng phân tích thực trạng và các điều kiện kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình 1.
Những nghiên cứu nhận diện sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình Trong xã hội học, chủ đề di động xã hội được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. E Durkheim, nhà xã hội học người Pháp, là một trong những nhà xã hội học đầu tiên nghiên cứu về đi động xã hội.Trong những năm đầu thế kỉ XX, nhà xã hội học Mĩ Sorokin đã bàn về di động xã hội khá hệ thống. Ông cho rằng, không nên quá quan tâm đến việc cá nhân hay nhóm đã đạt được địa vị lên xuống như thế nào ma phải làm rõ xem phương tiện mà họ sử dụng để đạt tới vị trí của mình trong trật tự xã hội. Ông coi những nhân tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội là những nhân tố của quá trình sàng lọc, trong đó nền tảng kinh tế - xã hội của nhóm, của cá nhân cũng như gia đình, học vấn bản thân chính là những nhân tố thúc đây và tạo ra sự di động xã hội.
Những nghiên cứu về di động xã hội của Fichter cũng có những nét tương đông với 15 Sorokin khi cho rằng, di động xã hội không phải là quá trình liên tục mà được thực hiện theo từng gia1 đoạn. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả đề cập đến di động xã hội nhu Anthony Giddens “Introductory Soclology” (Xã hôi học đại cuong), Stuart S.Blume “Toward a political Sociology of Science” (Xa hdi hoc chinh tri). Tuy nhién, chu đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ, một vấn đề được coi là hệ quả của di động xã hội lại được nghiên cứu tương đối muộn. Cho đến những năm giữa thế ki XX, chủ đề sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ mới được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Điền hình như những nghiên cứu từ Mi, Ấn Độ, Anh, Trung Quốc. Tai Mi, trong tac pham “American occupational structure” Peter M. Blau va Otis D. Duncan (1967) [ dan theo 10, tr.172], đã chỉ ra có mối liên hệ giữa nghề nghiệp của cha và con trai.
Nghiên cứu này đã chỉ ra nghề của con thường có xu hướng lặp lại nghề của cha trong một số lĩnh vực nghè nghiệp. Cũng tại Mi, nghiên cứu “Occupational Inheritance in agriculture” cua Bernard F.Lentz and David. Laband [92], sau khi sử dụng dữ kiện từ năm 1962 gồm 20.700 nam giới có độ tuổi từ 20 đến 64 đã chỉ ra rằng có 82% những người nông dân có cha là nông dân. Như vậy, nghiên cứu đã chỉ ra có sự kế thừa nghề nghiệp giữa cha và con trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trong nghiên cứu “Intergenerational Occupational Mobility in Great Britain and the United States since 1850” [94], viéc so sánh tỉ lệ di động nghé nghiệp và kế thừa nghề nghiệp ở 2 vùng lãnh thé trong 2 thoi diém khac nhau cho thấy có sự thay đổi và chuyền biến trong sự kế thừa nghề nghiệp và di động nghề nghiệp: “ Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng,ở thé ki XIX, khi nghiên cứu các cặp bố con tại 10 quốc gia của 2 vùng trên thì ở Châu Mĩ, tính di động nghề nghiệp của các cặp bố con nhiều hơn ở Châu Âu trong suốt những năm thập kỉ 1900 và đến những năm 1950 thì tính di động nghề nghiệp giữa các cặp bô con của 2 vùng trên gân như ngang nhaư” 16 Tại Ấn Độ, công trình nghiên cứu “Intergenerational Occupatinal Mobility in Rural India: Evidence From ten villages” của A. Bheemeshwar Reddyand Madhura Swaminathan [9l], cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa nghề nghiệp của cha và con trai. Nghiên cứu chỉ ra rằng: với 69% người dân sống ở nông thôn thì tính di động nghề nghiệp tại Ấn Độ diễn ra ít mạnh mẽ, nhất là ở những vùng nông thôn rộng lớn và những người lao động chân tay. Sự đi động chủ yếu diễn ra ở những người đàn ông trong khu vực làng, xã và sự đi động này cũng chủ yếu là sự dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị.
Những người cha thường đem theo con trai của mình ra thành thị để làm những việc giống như mình. Như vậy, nghiên cứu này đã chỉ ra ở khu vực nông thôn Ấn Độ ít có sự di động nghề nghiệp. Nếu có sự di động cũng chủ yếu là đi động của những người đàn ông và trong sự di động nghề nghiệp của những người đàn ông thì đi kèm với sự di động đó là là sự kế thừa nghề nghiệp giữa người cha và con trai của ông ta tại các đô thị sau khi di cư ra khỏi khu vực nông thôn. Cũng tại Ấn Độ, tác phẩm “Changes in Intergenerational Occupational Mobility in India: Evidence from National Sample Surveys, 1983-2012” [90], cho thấy: Trong thập kỉ cuối cùng của thế kỉ trước, khi nền kinh tế An DO phát triển mạnh mẽ, cơ hội di động nghề nghiệp cao, đặc biệt nam giới có sự di chuyên nghề rất lớn.
Tuy nhiên, hiện nay đang có sự suy giảm về di động nghề nghiệp giữa các thế hệ. Nhà nước đưa ra nhiều chính sách nhà nước khuyến khích việc kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ và tỉ lệ này có xu hướng gia tăng. Như vậy, việc các thế hệ trong gia đình sẽ kế thừa nghề nghiệp đã có đang được nhà nước Ấn Độ quan tâm. Ngoài ra, công trình nghiên cứu “Intergenerational Occupational Mobility in India” [96], cua Mehtabul Azam hop tac voi Oklahoma State University and IZA nghiên cứu nghề nghiệp của những người đàn ông sinh từ những năm 1945 đến 1985 và đưa ra những kết luận sau: Có sự tiếp nối nghề 17 nghiệp giữa người con trai và người bố, đặc biệt là những người bố là công nhân cô trắng.
Có sự khác biệt về kế thừa nghề nghiệp giữa những người sinh khác thế hệ. Những người sinh năm 1945 — 1954 có sự kế thừa nghề nghiệp nhiều hơn những người sinh năm 1974 — 1985. Một nghiên cứu khác về sự kế thừa nghề nghiệp tại Ấn Độ là nghiên cứu “Aggregate Implications of occupatinal inheritance in China and India” [98], cua Ting Jill đã chỉ ra những điểm tương đồng trong sự kế thừa nghề nghiệp tại Án Độ và Trung Quốc. Nghiên cứu đã chỉ ra răng, có sự phố biến trong việc kế thừa nghề nghiệp giữa con cái và cha mẹ ở cả hai quốc gia này.
Những nghiên cứu trên cho thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới, vẫn đề kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ trong gia đình là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, sự kế thừa nghè giữa các thế hệ thường chỉ xét mối quan hệ giữa nghề của cha và nghề của con trai mà chưa có những nghiên cứu phân tích, xem xét mối liên hệ của cha vả con gái hoặc mẹ và con trai hoặc mẹ vả con gái. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về sự kế thừa nghề nghiệp giữa các thế hệ còn tương đối ít ỏi và chắp vá. Dường như ít có các cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu mang quan điểm khác nhau, mà chỉ có những thảo luận rời rạc.
Chủ đề này có vẻ phô biến hơn trong nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài cũng như những nghiên cứu có sự cộng tác giữa các nhà khoa học nước ngoài và Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn những nghiên cứu nảy mang nặng tính mô tả và không có cơ sở lý thuyết rõ ràng. Chu Hương Ly trong nghiên cứu về “Các nguồn lực phân tầng ảnh hưởng như thế nào đến di động xã hội ở Việt Nam ”[56] đã chỉ rõ một số nghiên cứu như: Nguyen, A. (2002) “Looking beyond Bien Che: The Consideration of Young Vietnamese Graduates When Seeking Employment in the Doi Moi Era” [ dẫn theo 56] đã phân tích về tình hình công việc của 1,7 triệu người trẻ tuổi khi có công việc đâu tiên trong quá trình đôi mới kinh tê, chính trị của đât nước.