Chương 1: Hình phạt chính và so sánh quy định về hình phạt chính dưới góc độ lý luận Chương 2: So sánh quy định về hình phạt chính trong Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới Chương 3: Đánh giá quy định về hình phạt chính trong Bộ luật hình sự Việt Nam và các đề xuất hoàn thiện 14 PHẦN TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước 1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về hình phạt và hệ thống hình phạt của Việt Nam Các tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản như: định nghĩa khái niệm hình phạt, đặc điểm và mục đích của hình phạt. Trong đó, các tác giả đã có sự thống nhất tương đối về định nghĩa và đặc điểm của hình phạt, sự khác biệt chỉ nằm ở cách thức diễn đạt.
Về khái niệm hình phạt, theo các tác giả, hình phạt là “biện pháp cưỡng chế (của) Nhà nước”, chủ thể áp dụng chỉ có thể là Tòa án và đối tượng bị áp dụng chỉ có thể là người phạm tội. Về đặc điểm của hình phạt, mỗi tác giả có nhận định khác nhau do có cách đánh giá vấn đề khác nhau. Cụ thể: Các tác giả Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn (1995) đưa ra định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm”1. Các tác giả đã đề cập đến đặc điểm của hình phạt gồm: (1) Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất và bao giờ cũng để lại hậu quả pháp lý là án tích; (2) Hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm; (3) Hình phạt mang tính chất xã hội2.
Tác giả Lê Cảm (2007) đưa ra định nghĩa: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong các bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự”3. Tác giả cũng 1 Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn, Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, trg. 2 Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn, Tlđd, trg.
3 Lê Cảm, Hình phạt và hệ thống hình phạt, Tạp chí Tòa án nhân dân số 14/2007, Hà Nội, 2007, trg. 15 nêu ra một số đặc điểm của hình phạt như: (1) Hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất; (2) Hình phạt là một dạng thể hiện TNHS; (3) Hình phạt phải và chỉ tòa án áp dụng đối với người bị kết án; (4) Hình phạt nhằm mục đích tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do của người bị kết án; (5) Hình phạt phải và chỉ được quy định trong BLHS và được Tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt; (6) Hình phạt chỉ được áp dụng đối với riêng bản thân người bị kết án4. Tác giả Nguyễn Ngọc Hoà, Lê Thị Sơn (2022) đưa ra định nghĩa: “Hình phạt theo PLHS Việt Nam là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của chủ thế bị áp dụng được quy định trong BLHS, do Tòa án quyết định áp dụng cho người phạm tội cũng như pháp nhân thương mại phải chịu TNHS”5. Trước khi đưa ra định nghĩa này, tác giả đã phân tích các đặc điểm của hình phạt, bao gồm: (1) Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế nhà nước, gồm nhiều loại khác nhau và tạo thành hệ thống thống nhất; (2) Hình phạt có nội dung là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người bị áp dụng hình phạt; (3) Hình phạt có hình thức pháp lý là được quy định trong BLHS và được áp dụng bởi Tòa án theo trình tự, thủ tục chặt chẽ6.
Ngoài ra, trong một số nghiên cứu khác, tác giả Nguyễn Ngọc Hoà (2001) cũng khẳng định hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc biệt đảm bảo cho luật hình sự có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ cũng như đấu tranh phòng và chống tội phạm7. Cùng hướng tiếp cận này, tác giả Trịnh Tiến Việt (2022) cũng phân tích các nội hàm của hình phạt bao gồm: (1) Hình phạt là công cụ pháp lý hữu hiệu 4 Lê Cảm, Tlđd. 5 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp hình sự khác, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2022, trg.
6 Nguyễn Ngọc Hoà, Tlđd, trg. 7 Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, trg. 16 và cần thiết để bảo đảm cho luật hình sự thực hiện được chức năng bảo vệ; (2) Hình phạt còn góp phần thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm.
Những phân tích này của tác giả cũng được thể hiện qua định nghĩa về hình phạt như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định áp dụng trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án có nội dung và tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của các chủ thể tương ứng đó, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm”8. Đồng thời, tác giả Trịnh Tiến Việt (2022) cũng khẳng định rằng “về mặt nội dung, hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm hình sự”, tiêu biểu là mối quan hệ giữa cặp phạm trù cái chung và cái riêng, mối quan hệ nhân - quả, mối quan hệ giữa cặp phạm trù nội dung và hình thức9. Bàn về mục đích của hình phạt, tác giả Lê Cảm (2007) cùng với việc thừa nhận đặc điểm “hình phạt nhằm mục đích tước bỏ hoặc hạn chế quyền, tự do của người bị kết án” đã coi mục đích của hình phạt như là một dấu hiệu phản ánh đặc điểm của hình phạt và có nội dung thể hiện là “tước bỏ” hoặc “hạn chế”quyền, tự do của người bị kết án. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Ngọc Hòa (2001) đưa ra quan điểm khác khi cho rằng việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội là nội dung của hình phạt chứ không phải có mục đích của hình phạt.
Tác giả khẳng định: “Mục đích của hình phạt là ngăn ngừa tội phạm theo hai hướng với cơ chế và nội dung khác nhau: Ngăn ngừa người bị áp dụng hình phạt phạm tội lại và ngăn ngừa người khác phạm tội”10. Trong đó, mục đích ngăn ngừa người bị áp dụng hình phạt phạm tội lại (ngăn ngừa riêng) bao gồm: Răn đe người bị áp dụng hình phạt; Giáo dục người bị áp dụng hình phạt và hạn chế (và có thể loại trừ) điều kiện phạm tội lại. Mục đích 8 Trịnh Tiến Việt (Chủ biên), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Giáo trình sau đại học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022, trg. 9 Trịnh Tiến Việt (Chủ biên), Tlđd, tr.
10 Nguyễn Ngọc Hoà, Tlđd, trg. 17 ngăn ngừa người khác phạm tội (ngăn ngừa chung) được đặt ra với cả những người “không vững vàng” trong cuộc sống và mọi người khác trong xã hội. Ngoài ra, các tác giả chưa có sự thống nhất về vấn đề: Hình phạt có mục đích trừng trị không? Do có cách hiểu khác nhau về tính “trừng trị” của hình phạt mà các tác giả có quan niệm khác nhau về mục đích của hình phạt. Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Dương Tuyết Miên (2000), mục đích ngăn ngừa riêng của hình phạt có nội hàm rộng hơn và bao trùm mục đích “trừng trị” người phạm tội được quy định tại Điều 27 BLHS năm 1999 và hai nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau11.
Nói cách khác, “trừng trị” ở đây được hiểu là cái đích mà hình phạt hướng tới khi áp dụng đối với người phạm tội. Trong khi đó, các tác giả Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn (1995) cho rằng mục đích của hình phạt chỉ bao gồm: (1) Cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội; (2) Ngăn ngừa người bị án phạm tội mới và (3) Giáo dục phòng ngừa chung, còn “trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện hình phạt. Hay như tác giả Võ Khánh Vinh (1994) thì có quan điểm: “Trừng trị không phải là mục đích của hình phạt. Trừng trị là bản chất, là thuộc tính tất yếu của hình phạt”13, còn tác giả Trịnh Tiến Việt (2022) cho rằng “trừng trị là thuộc tính cơ bản nhất của hình phạt”14.
Nhóm quan điểm này lại hiểu “trừng trị” là một trong những đặc điểm (thuộc tính, bản chất) của hình phạt hoặc chỉ là một “phương thức để thực hiện hình phạt”. Bên cạnh đó, để làm tiền đề cho việc mở rộng nghiên cứu hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định hình phạt…, một số tác giả khác cũng đề cập nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình phạt. Đa số các tác giả này đều có sự thống nhất 11 Dương Tuyết Miên, Bàn về mục đích của hình phạt, Tạp chí Luật học số 3/2000, trg. 12 Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn, Tlđd, trg.
13 Võ Khánh Vinh, Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1994, trg. 14 Trịnh Tiến Việt, Tlđd, trg. 18 trong việc định nghĩa hình phạt, các đặc điểm của hình phạt, đồng thời đưa ra một số kết luận liên quan đến mục đích của hình phạt như:“Trừng trị và cải tạo, với tính cách là phương thức thực hiện hình phạt, chính là biện pháp, phương thức để hình phạt đạt được mục đích”15, tác giả Nguyễn Sơn (2002);“Hình phạt là sự thống nhất giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục”16, tác giả Trịnh Quốc Toản (2011).
Bàn về hệ thống hình phạt, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: Khái niệm hệ thống hình phạt, đặc điểm và cấu thành của hệ thống hình phạt.