CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SINH KẾ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về sinh kế giảm nghèo Cho đến nay có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về nghèo được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu về nghèo thập niên 70-80 chú trọng giải quyết vấn đề an ninh lương thực để thoát nghèo. Từ cuối thập niên 90 các quan điểm về sinh kế được đề cập trong các nghiên cứu thực nghiệm tại các nước nhằm nâng cao năng lực sinh kế của hộ để thoát nghèo bền vững. Các tiếp cận về sinh kế giảm nghèo được đề cập trong các nghiên cứu trước tập trung vào hai mảng chính: nghiên cứu về vốn sinh kế của hộ, nghiên cứu về các hoạt động sinh kế của hộ để thực hiện mục tiêu sinh kế bền vững.1 Vai trò của vốn sinh kế đối với lựa chọn hoạt động sinh kế Các nghiên cứu về vai trò của vốn sinh kế và ảnh hưởng của vốn sinh kế đối với sự lựa chọn hoạt động sinh kế được tiếp cận trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại các nước.
Sự tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên có thể thấy đặc điểm chung của các nghiên cứu dựa trên các vấn đề sau: Một là, vốn sinh kế hộ nghèo ở mức thấp Trong nghiên cứu tại Khu vực Mỹ La tinh và vùng Caribe, Vakis và cộng sự (2015) phát hiện ra rằng giữa nhóm thoát nghèo và nhóm nghèo kinh niên cũng như nhóm không bao giờ nghèo thì tài sản của nhóm nghèo kinh niên thấp nhất, cũng như mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội của nhóm nghèo kinh niên cũng thấp hơn so với hai nhóm còn lại. Các bằng chứng nghiên cứu đều tìm thấy đặc điểm vốn sinh kế còn hạn chế ở hộ nghèo so với hộ không nghèo khác như Berzmer và cộng sự (2003) ở Armenia, với các đặc điểm phổ biến của vốn con người của hộ nghèo như tỷ lệ phụ thuộc cao, quy mô hộ đông, trình độ giáo dục thấp, các đặc điểm của vốn tự nhiên như diện tích đất thấp, vốn vật chất (sở hữu tài sản sản xuất thấp), vốn tài chính (tiết kiệm thấp), vốn xã hội (tham gia vào các tổ chức xã hội cao). Hai là, sự lựa chọn vốn sinh kế đối với chiến lược sinh kế khác nhau tuỳ thuộc vào từng chiến lược sinh kế Trong khi nghiên cứu của Fang và cộng sự (2014) tại Trung Quốc phát hiện ra rằng vốn tự nhiên và vốn con người thể hiện một mối tương quan tích cực với các chiến lược sinh kế nông nghiệp, vốn tài chính và vốn xã hội là những chất xúc tác cho cho các hoạt động phi nông nghiệp. Phát hiện tương tự của Pour và cộng sự (2018), Hua và 9 cộng sự (2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò vốn con người, vốn tài chính đối với lựa chọn sinh kế phi nông nghiệp và vai trò của vốn tự nhiên, vốn vật chất đối với lựa chọn sinh kế nông nghiệp.
Những chiến lược sinh kế có thu nhập cao thường có quan hệ với các vốn sinh kế như trình độ giáo dục, sở hữu vốn vật chất và cơ sở hạ tầng. Hộ sở hữu nhiều tài sản càng tăng cơ hội để tiếp cận thông tin về các việc làm phi nông nghiệp dưới hình thức hưởng lương (Adjognon và cộng sự, 2017). Lựa chọn sinh kế nông nghiệp liên quan chặt chẽ đến vốn tự nhiên đặc biệt là đất đai. Soltani (2012) phát hiện rằng hộ bị giới hạn về vốn tài chính có xu hướng lựa chọn chiến lược sinh kế nông nghiệp.
Mullan và cộng sự (2011), Bhandari (2013) nhận thấy rằng việc tiếp cận đất đai cản trở quyết định của hộ gia đình bỏ nghề nông. Ngay cả các hộ gia đình phi nông nghiệp gần như không có hoạt động nông nghiệp vẫn không sẵn sàng từ bỏ quyền quản lý đối với đất ở nông thôn và coi nó như một sự bảo vệ chống lại nguy cơ thất bại từ việc làm phi nông nghiệp. Lựa chọn chiến lược đa dạng hoá sinh kế phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố vốn sinh kế. Nasa’i và cộng sự (2010) trong nghiên cứu tại Nigieria cho rằng các yếu tố thể chế như thị trường, tín dụng, thành viên tổ chức cũng như các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến đa dạng sinh kế của nông hộ.
Baird và cộng sự ( 2014) nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống liên kết xã hội trong lựa chọn sinh kế đa dạng hoá. Lựa chọn sinh kế phi nông nghiệp phần lớn các nghiên cứu đều đồng thuận vai trò quan trọng của yếu tố chất lượng vốn con người đặc biệt là trình độ giáo dục. Nghiên cứu của Adjognon và cộng sự (2017) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục đến lựa chọn sinh kế phi nông nghiệp, tuy nhiên yếu tố này chỉ ảnh hưởng đến phi nông nghiệp dưới hình thức hưởng lương phi nông nghiệp thay vì hình thức tự làm. Davis và cộng sự (2004) phát hiện trình độ giáo dục lại ảnh hưởng đến lựa chọn sinh kế phi nông nghiệp dù là dưới hình thức tự làm, làm thuê phi nông nghiệp hay phát triển các hoạt động phi nông nghiệp có nguồn gốc từ nông nghiệp.
Ngoài ra việc tiếp cận tín dụng cũng có tác động đến lựa chọn hình thức tự làm phi nông nghiệp. Adjognon và cộng sự (2017) phát hiện tại Malawi việc tiếp cận tín dụng làm tăng xác suất tham gia vào phi nông nghiệp dưới hình thức tự làm từ 8-10 điểm %. Đối với chuyển đổi sinh kế, các nguồn vốn sinh kế cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn sinh kế của hộ. Bhandari (2013) phát hiện ra ở Nepal sự dịch chuyển khỏi lĩnh vực 10 nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp phụ thuộc vào vốn sinh kế của hộ, trong đó vốn con người, vốn tự nhiên, vốn kinh tế và các nguồn lực cộng đồng ảnh hưởng đến việc chuyển đổi sinh kế của hộ nghèo tại nông thôn.
Dưới áp lực dân số gia tăng và trình trạng đô thị hoá, đất đai đóng vai trò là yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Davis và cộng sự (2004) phát hiện tại Armenia, Georgia và Romania hộ sở hữu diện tích đất càng cao sẽ có xác suất tham gia vào hình thức tự làm phi nông nghiệp càng thấp tuy nhiên việc tập trung canh tác trên diện tích đất càng nhỏ thì xác suất nghèo sẽ càng cao.Vốn tự nhiên còn là điều kiện tiên quyết để các hộ gia đình lựa chọn và chuyển đổi mô hình sinh kế thích ứng với họ để tối đa hoá doanh thu và giảm thiểu rủi ro (Wu và cộng sự, 2017). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khả năng phục hồi, đáp ứng của hộ tuỳ thuộc vào tiếp cận vốn sinh kế hộ nắm giữ. Các loại vốn có thể giúp hộ đương đầu trong ngắn hạn hoặc có thể giúp chuẩn bị cho các vấn đề của tương lai (Rahman và cộng sự, 2018).
Với các loại vốn sinh kế sẽ tác động đến các chiến lược sinh kế thích nghi của nông hộ trong điều kiện biến đổi khí hậu. (Kuang và cộng sự, 2020) Ba là, ảnh hưởng của các loại vốn sinh kế đối với sự lựa chọn sinh kế tại nông thôn khác biệt so với thành thị Nghiên cứu của Galab và cộng sự (2006) tại Ấn Độ phát hiện tại các khu vực phát triển các hộ nghèo có đặc điểm không đất, phải chia sẻ các thiết bị nông nghiệp, trình độ giáo dục cao thì có xu hướng lựa chọn chiến lược phi nông nghiệp trong khi hộ nghèo tại khu vực nông thôn, vùng sâu với đặc điểm ít tài sản sản xuất nông nghiệp, phải chia sẻ lao động, nhận trợ cấp từ chính phủ, nhiều tài sản phi nông nghiệp hơn thì có xu hướng lựa chọn sinh kế phi nông nghiệp. Tương tự, các phát hiện trong các nghiên cứu tại các khu vực nông thôn trên thế giới đều tìm kiếm những bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong việc lựa chọn sinh kế của hai khu vực. Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá, sinh kế nông thôn có sự chuyển đổi và điều chỉnh thông qua khai thác các loại vốn sinh kế.
Vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên có ý nghĩa quyết định đối với quá trình chuyển đổi này (Wu và cộng sự, 2017), Diao và cộng sự (2019) phát hiện đối với hộ gia đình nông thôn ở các khu vực giáp đô thị có xu hướng chuyển đổi từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thay vì thực hiện đa dạng hoá nông nghiệp do mức độ thị trường nông nghiệp thiếu tính hội nhập ở Ghana. Bốn là, các chính sách hỗ trợ nâng cao vốn sinh kế hộ đóng vai trò quyết định 11 đối với giảm nghèo Nhiều nghiên cứu cho rằng không có giải pháp cho các vấn đề lựa chọn chiến lược sinh kế để giảm nghèo, trong dài hạn việc tiếp cận các loại vốn sinh kế đóng vai trò hữu ích cho sự lựa chọn chiến lược sinh kế nếu được hỗ trợ bởi các chính sách liên quan nhằm nâng cao năng lực vốn cũng như tăng quyền tiếp cận các loại vốn (Fang và cộng sự, 2014). Do vậy, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực vốn sinh kế của hộ đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Ansoms và cộng sự (2010), Galab và cộng sự (2006) cho rằng nên áp dụng các biện pháp can thiệp khác biệt và thích hợp cho các nhóm nông dân nghèo khó dựa trên hồ sơ sinh kế cụ thể của họ.
Đối với lựa chọn sinh kế nông nghiệp Adepoju và cộng sự (2014) nhấn mạnh tầm quan trọng của cải thiện chính sách tiếp cận các tài sản sản xuất như đất đai cho những người nông dân không có đất cũng như cải tiến công nghệ để những người nông dân lớn tuổi tiếp tục tham gia vào các hoạt động nông nghiệp. Trong khi các chính sách chuyển đổi sinh kế sang phi nông nghiệp nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố vốn tài chính, vốn con người. Adjognon và cộng sự (2017) cho rằng chính sách hỗ trợ cần tập trung vào vấn đề tiếp cận tín dụng để chuyển đổi sang sinh kế phi nông nghiệp, tăng hình thức cấp tiền mặt cho các hộ nghèo nhất không thể tiếp cận tín dụng tại địa bàn nông thôn để chuyển đổi sinh kế. Bhandari (2013) lập luận chính sách đầu tư vào vốn con người được xem là cần thiết để chuyển đổi sinh kế trong dài hạn đối với dịch chuyển khỏi lĩnh vực nông nghiệp.
Các chính sách khuyến khích hộ nông nghiệp quy mô nhỏ rời sản xuất nông nghiệp thì cần đi liền với các chính sách tạo việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp để hấp thu lao động dịch chuyển sang.