CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh sốt xuất huyết Dengue Bệnh Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) được người Trung Quốc mô tả triệu chứng ngay từ những năm 265 - 420 sau Công nguyên [16]. Theo WHO, bệnh sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm nhóm B do vi rút họ Flaviviridae- virus Dengue. Virus Dengue thuộc nhóm Flaviviridae với 4 type huyết thanh DEN- 1, DEN- 2, DEN- 3, DEN- 4.
Virus Dengue được truyền bởi muỗi Aedes từ người bệnh có virus Dengue sang người lành qua việc hút máu [1], [17]. Người nhiễm vi rút Dengue có thể không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng nhẹ, hoặc tình trạng xuất huyết nặng, sốc và có thể tử vong. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới Nghiên cứu của Wilder- Smith (2019) trong 13 năm (2000-2013) cho thấy số mắc SXHD tăng 400% trên toàn cầu trong 13 năm nghiên cứu. Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia ghi nhận có dịch SXHD [2].
Cho đến nay dịch SXHD đã lan rộng ra 128 quốc gia ở Nam Mỹ, Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương vào năm 2018. Trong đó khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm 75% số ca bệnh SXHD. Hàng năm có khoảng 390 triệu người mắc SXHD trên toàn cầu, chỉ trong vòng 9 năm (2010- 2019), số ca mắc SXHD tăng từ 2,2 triệu người lên 3,6 triệu người [18]. Nghiên cứu của Salles (2018) cho thấy tỷ lệ các ca sốt xuất huyết nặng ở khu vực Đông Nam Á cao gấp 18 lần so với khu vực Châu Mỹ [19].
Tình hình sốt xuất huyết Dengue Việt Nam Việt Nam là nước nhiệt đới thuận lợi cho bệnh SXHD phát triển [21]. Mặc dù chương trình phòng chống sốt xuất huyết Dengue quốc gia đã có từ năm 1999, tuy nhiên SXHD vẫn là bệnh truyền nhiễm gây dịch ở Việt Nam với 1.866 trường hợp được báo cáo tại Việt Nam trong giai đoạn 1991-2004, con số cao nhất ở Tây Thái Bình Dương [4]. Hồi cứu các trường hợp mắc/chết do SXHD trong giai đoạn 2002- 2011 cho thấy tại tất cả các vùng trên cả nước đều có xu hướng tăng các ca mới mắc sốt xuất huyết Dengue theo thời gian. Số ca mắc mới trung bình/ 100.000 dân năm 2002-2003 từ 4,21 ca/100.000 dân đã tăng lên 9,94 ca năm 2008-2009 và vẫn giữ ở mức cao là 8,05 ca/100.
Trong năm, phân bố ca bệnh SXHD tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ có hai đỉnh dịch vào khoảng thời gian tháng 7 và tháng 10-12, trong khi tại các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên chỉ xuất hiện 1 đỉnh dịch, thường vào khoảng tháng 10 hàng năm [23] [24]. Cho đến nay, SXHD tăng dần và lan rộng ra 63 tỉnh, thành phố, từ các thành phố đông dân lan về các thị trấn nông thôn, khoảng cách thời gian giữa các vụ dịch cũng gần nhau hơn [23], [26]. Do vậy, xác định được chu kỳ SXHD, nguồn lây và đặc điểm véc tơ truyền bệnh để tìm giải pháp chặn lan truyền SXHD là vô cùng quan trọng, đặc biệt tại một số tỉnh có SXHD lưu hành cao [25]. Số ca mắc SXHD của khu vực miền Trung cao thứ 2 chỉ sau khu vực miền Nam.
Số ca mắc SXHD tại 11 tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận cũng luôn ở mức cao từ năm 2009 [26]. Một số vụ dịch SXHD đã xảy ra vào năm 2010 với số ca mắc 35.865 ca, 24 ca tử vong, cao gấp hơn 3 lần so với những vụ dịch trước đó (2005) [27]. Khánh Hòa là một tỉnh miền Trung 5 có số mắc SXHD/100.000 dân cao nhất khu vực miền Trung cũng như cao nhất cả nước đặc biệt trong giai đoạn 2008 đến 2015. Số mắc SXHD trung bình giai đoạn 2013-2014 được thể hiện ở hình dưới đây: 4.028 Số ca mắc SXHD trung bình 4.
Đà Quảng Quảng Bình Phú Khánh Ninh Bình Bình Trị Huế Nẵng Nam Ngãi Định Yên Hòa Thuận Thuận SXHD trung bình 2013-2014 Nguồn: Báo cáo Cục Y tế dự phòng (2015) [26] Hình 1.1 Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình ở miền Trung giai đoạn 2013-2014 Giai đoạn 2013- 2014, số ca mắc SXHD trung bình là 4.028 trường hợp mắc SXHD/ năm, cao nhất trong 9 tỉnh, thành phố miền Trung. SXHD xảy ra quanh năm, nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 11 với 2 đỉnh dịch là tháng 7 và tháng 11, tỷ lệ mắc trung bình/ 100.000 dân là 314,3, hai năm có dịch lớn là 2010 và 2012. Véc tơ chính truyền bệnh là Ae.aegypti, chỉ số mật độ muỗi và chỉ số Breteau tăng vào mùa dịch từ tháng 5 đến tháng 11. Bệnh SXHD xuất hiện ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh Khánh Hòa, tập trung chủ yếu ở những địa phương đông dân cư [28].
Theo số liệu tổng kết báo cáo hoạt động hàng năm giai đoạn 2010-2014, số ca mắc SXHD ở Khánh Hòa cụ thể như sau: 6 Số ca mắc SXHD/ 100.000 dân 900 800 764,36 705,06 700 655,10 684,24 600 494,90 471,75 500 429,18 400 300 213,13 200 100 0 Vạn Ninh Tp Nha Diên Cam Cam Khánh Khánh Trường Ninh Hòa Trang Khánh Lâm Ranh Vĩnh Sơn Sa Nguồn: Báo cáo Trung tâm Y tế dự phòng Khánh Hòa (2015) [28] Hình 1.2 Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/ 100.000 dân của các huyện, thị của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2014 Số mắc SXHD/ 100.000 dân cao nhất là huyện Diên Khánh, tiếp theo là 2 huyện Ninh Hòa và Cam Lâm có số ca mắc SXHD/ 100.000 dân cao so với các huyện thị khác của tỉnh Khánh Hòa [28]. Theo dõi số ca mắc SXHD ở các xã, thị trấn của huyện Diên Khánh giai đoạn 2011– 2014 cho thấy, số mắc SXHD tập trung cao nhất ở thị trấn Diên Khánh (189 ca), tiếp theo là các xã Diên Phú (137 ca) và xã Diên Điền (134 ca) và các xã còn lại với số mắc từ 20-132 ca bệnh SXHD. Số mắc SXHD tập trung chủ yếu ở thị trấn Diên Khánh, xã Diên Phú và Diên Điền là các địa phương giáp ranh với thành phố Nha Trang, và huyện Ninh Hòa nơi có số mắc cao nhất của tỉnh Khánh Hòa [28]. Theo WHO (2012), do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng SXHD mới được cấp phép sử dụng ở một vài quốc gia.
Phòng chống bệnh SXHD dựa chủ yếu vào kiểm soát véc tơ truyền bệnh. Các biện pháp chủ yếu bao gồm: biện pháp quản lý môi trường để hạn chế điều kiện sinh sản và phát triển của muỗi, sử dụng hóa chất diệt ấu trùng, sử dụng hóa chất diệt côn trùng đối với muỗi trưởng thành [4]. Do vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh học, tập tính của 7 muỗi Aedes, tình trạng kháng hóa chất của muỗi truyền bệnh SXHD ở huyện Diên Khánh nói chung, đặc biệt tại 2 xã Diên Phú, Diên Điền có số mắc SXHD cao là cần thiết, để hiểu rõ đặc điểm véc tơ truyền bệnh SXHD tại khu vực này, từ đó tìm ra biện pháp can thiệp phù hợp làm giảm mật độ muỗi Aedes và giảm nguy cơ lây truyền SXHD. Đặc điểm sinh học muỗi Aedes Đặc điểm các giai đoạn phát triển của muỗi Aedes thể hiện tại hình 1.com/dengue/ Hình 1.3 Vòng đời của muỗi Aedes Vòng đời của muỗi trải qua 4 giai đoạn bao gồm: Giai đoạn trứng từ 2-5 ngày, giai đoạn từ trứng thành bọ gậy: 1-2 ngày, giai đoạn từ bọ gậy thành quăng: 3-4 ngày, giai đoạn từ quăng thành muỗi trưởng thành: 1-2 ngày.Trong đó 3 giai đoạn đầu thì sống trong nước, chỉ có giai đoạn muỗi trưởng thành sống trên cạn.
Muỗi Aedes sống trung bình từ 20 - 40 ngày [18]. Phân loại muỗi Aedes Trên thế giới có khoảng 3.000 loài muỗi được chia thành 39 giống và 135 phân giống. Giống Aedes (Diptera: Culicidae) có khoảng 700 loài và 8 chia thành nhiều phân giống trong đó có hai phân giống Aedes và Stegomyia. Ở Viêt Nam, tác giả Phuong Bui (2008) thống kê 205 loài muỗi đã được mô tả trong đó có 47 loài Aedes.
Hai loài muỗi Aedes là Ae.aegypti và Ae.albopictus xuất hiện phổ biến được phân loại: [29]. Giới : Động vật (Animalia) Ngành : Chân khớp (Arthropoda) Lớp : Côn trùng (Insecta) Bộ : Hai cánh (Diptera) Họ : Muỗi (Culicidae) Phân họ : Muỗi thường (Culicinae) Tộc : Aedini (Tộc muỗi Aedes) Giống : Aedes Loài : Ae.aegypti Linnaeus, 1762 Ae.albopictus Skuse, 1894 A B Nguồn: nea.sg/Dengue Hình 1.4 Đặc điểm hình thái muỗi Ae.aegypti và muỗi Ae.albopictus Đặc điểm nổi bật để xác định loài muỗi Ae.aegypti (A) là vẩy bạc ở mặt lưng ngực (Scutum) thành đường viền hình giống như mặt đàn và trên tấm bên ngực giữa không có lông lỗ thở mà chỉ có lông sau lỗ thở. Albopictus (B) về hình thể rất giống muỗi Ae.aegypti chỉ khác trên mặt lưng chỉ có một sọc trắng duy nhất chạy ở giữa, phần xung quanh đen không có các sọc trắng khác [18]. Phân bố của muỗi Aedes 1.
Phân bố của muỗi Aedes trên thế giới Muỗi Aedes phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và ôn đới, từ độ cao 0 m- 1700m so với mực nước biển.aegypti phân bố ở 142 quốc gia khác nhau ở cả 5 châu lục [30]. Phân bố của Ae. albopictus có mặt tại hơn 70 quốc gia trên thế giới chủ yếu ở châu Phi, châu Á, châu Mỹ [31]. Khu vực phân bố Chỉ có Chỉ có Chỉ có Nguồn: Oxitec.com/dengue/ gồm cả Hình 1.5 Phân bố của Ae.aegypti và Ae.albopictus trên thế giới Muỗi Ae.aegypti và Ae.
albopictus phân bố rộng rãi ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, mặc dù hiếm thấy các quần thể muỗi này ở bên ngoài dải xích đạo nằm giữa vĩ tuyến 350 Bắc và 350 Nam [32]. Phân bố địa lý của Ae.aegypti và Ae. albopictus có khả năng tiếp tục lan rộng và xâm nhập vào các vùng chưa xuất hiện 2 loài muỗi Aedes, dẫn tới nguy cơ lan truyền bệnh SXHD trong các quần thể dân cư trước đây chưa từng bị bệnh SXHD [30]. Phân bố của muỗi Aedes ở Việt Nam Việt Nam là một nước nhiệt đới, muỗi Ae.aegypti và Ae.
albopictus phân bố rộng ở các khu dân cư.aegypti là véc tơ chính trong các vụ dịch SXHD ở Việt Nam [33].albopictus chỉ có mặt trong một số rất ít các vụ dịch với chỉ số mật độ thấp. Muỗi Aedes gặp ở hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn, vùng nông thôn và thậm chí cả vùng miền núi, cao nguyên. Cũng như trên thế giới, tình hình phân bố của muỗi Ae. aegypti và Ae.
albopictus ở Việt Nam cũng thích hợp với vùng của SXHD [34].aegypti hầu như phân bố toàn quốc. Muỗi rất phổ biến ở miền Nam và có thể bắt gặp trong suốt mùa mưa. Qua điều tra các tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa, khu vực Tây Nguyên đến tỉnh Long An của Vũ Đức Hương (2006) thấy xuất hiện muỗi Ae.