Mở đầu là công trình nghiên cứu về trai ốc khu vực châu Á của Eydoux (1838) đã phát hiện loài Cyclostoma gibbum ở Đà Nẵng, Việt Nam [158]. Tiếp theo Souleyet (1841-1842) tổng hợp về khu hệ ốc cạn ở Đông Dương đã phát hiện 4 loài mới ở Đà Nẵng, gồm Haploptychius deflexus, Perrottetia aberrata, Bradybaena touranensis, Megaustenia tecta [159]. Năm 1862, 1863 Pfeiffer đã công bố những dẫn liệu đầu tiên về ốc cạn ở vùng Nam Bộ như: Streptaxis ebuneus, S. sinuosus, Nanina cambojiensis, N.
distincta, Nesta cochinchinensis, Trochomorpha saigonensis. Các công trình công bố về ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ còn được bổ sung bởi các tác giả như: Crosse & Fischer (1863, 1864) [151], [152], [153] Crosse (1867) [150] công bố 39 loài ốc ở cạn ở Nam Bộ và Trung Bộ, trong số này mô tả 5 loài mới cho khoa học (Ariophanta weinkauffiana, Macrochlamys benoiti, Geotrochus saigonensis, Cyclophorus annamiticus và Cyclotus gassiesianus). Năm 1886, Morlet tập hợp và công bố 87 loài ốc cạn, chủ yếu ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, trong đó phát hiện 11 loài mới [164]. Trong thời gian 1887 và 1889, Mabille tiến hành khảo sát ở Nam Bộ và Bắc Bộ, đã bổ sung 38 loài mới cho khoa học [162], [163].
Trong hai năm 1891-1892, Morlet mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn khu vực Đông Dương. Kết quả nghiên cứu đã mô tả nhiều loài mới ở khu vực này. Trong đó, ở Việt Nam tác giả đã bổ sung 11 loài và mô tả 20 loài mới [165], [166], [168], [167]. Những dẫn liệu của Morlet được xem như tổng kết sơ bộ về thành phần loài ở khu vực Đông Dương tại thời điểm đó.
Trong đó tổng số loài ở Việt Nam là 118 loài. Công trình tổng kết của Fischer (1891) về khu hệ TMCB Đông Dương (Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam); tác giả đã thông báo có tới 309 loài ốc ở cạn được phát hiện ở khu vực này. Trong đó, trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam có 165 loài [160]. 11 Sau công trình của Fischer, hàng loạt các công trình được công bố ở Việt Nam, phạm vi khảo sát được mở rộng ra một số đảo, nhiều loài mới được mô tả như: Smith (1893, 1896) mô tả 6 loài mới ở Trung Bộ và 2 loài mới ở Bắc Bộ [126], [127]; Dautzenberg (1893) mô tả 8 loài mới ở phía Bắc [155]; Möllendorff (1900-1901), mô tả tới 82 loài mới ở phần đất liền và một số đảo ven bờ như đảo Ba Mùn, Cái Bầu [177], [178]; Gude (1901, 1907, 1909) mô tả 19 loài mới thuộc họ Plectopylidae ở vùng núi phía Bắc [78], [79], [80].
Trong khoảng thời gian (1899-1915), Bavay & Dautzenberg tiến hành mở rộng các khảo sát khu vực Đông Dương, trong đó ở Việt Nam phạm vi chủ yếu từ vùng núi đá vôi phía Bắc (Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu). Các tác giả đã mô tả thêm 140 loài mới cho khoa học [143], [144], [145], [146], [147], [148], [149]. Mặc dù việc thu mẫu vật rất khó khăn, chỉ thu được ở nơi giao thông thuận tiện, nơi đóng quân của binh lính, điều này cho thấy thấy tiềm năng đa dạng của nhóm động vật này là rất lớn. Dẫn liệu về nhóm ốc ở cạn được Fischer & Dautzenberg (1904) công bố trong báo cáo tổng kết của đoàn khảo sát Pavie thực hiện ở lưu vực sông Mê Kông bao gồm 372 loài, trong đó ốc Mang trước (Prosobranchia) có 108 loài, ốc Có phổi (Pulmonata) có 264 loài [161].
Có thể xem đây là tài liệu cơ bản nhất về khu hệ TMCB ở cạn khu vực Đông Dương nói chung. Các năm tiếp theo, còn có thêm một số tác giả nghiên cứu bổ sung thêm các loài mới phát hiện hoặc mô tả thêm các loài mới cho khoa học như: Dautzenberg & Fischer (1905-1908), bổ sung nhiều loài cho khu hệ Việt Nam và mô tả 25 loài mới cho khoa học [156], [157]; Saurin (1953) mô tả 11 loài mới ở Lào [171]. Có thể nhận thấy các công trình công bố về ốc cạn ở Việt Nam và các nước lân cận trong giai đoạn giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là nền tảng cho các nghiên cứu sau này, nhiều loài mới được mô tả lần đầu đã chứng tỏ khu hệ ốc cạn ở khu vực này rất đa dạng và phong phú, thể hiện rõ ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và thảm thực vật chiếm diện tích lớn. Các tác giả Morlet (1886, 1891, 1892), Dautzenberg & Hamonville (1887), Dautzenberg (1893), Bavay & Dautzenberg (1899, 1900, 1901, 1903), Fischer & Dautzebrg (1905) là 12 những tác giả có nhiều công trình đóng góp cho nghiên cứu ốc cạn trong giai đoạn này.
Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, các nghiên cứu bắt đầu sớm ở phía Nam và muộn hơn ở vùng núi phía Bắc. Số lượng loài sơ bộ đã được công bố có tới 579, trong đó có 118 loài Mang trước và 461 loài Có phổi (Bảng 1. * Các nghiên cứu sau năm 1954 Giai đoạn sau năm 1954 chủ yếu là các công trình nghiên cứu riêng về ốc ở cạn ở các nước khác nhau trong khu vực. Mức độ tiến hành các khảo sát cũng khác nhau: Khu hệ ốc ở cạn ở Lào được nghiên cứu khá đầy đủ, với các công trình tiêu biểu như: Panha và cs.
(2002) [116], Maassen (2008) [92], Inkhavilay và cs. (2016) [81] và Páll-Gergely và cs. Năm 2019, Inkhavilay và cs. tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở Lào dựa vào nguồn mẫu được thu thập từ bảo tàng và nguồn mẫu mới thu thập.
Tổng số loài đã xác định được là 230 (61 loài thuộc phân lớp Prosobranchia, và 169 thuộc phân lớp Heterobranchia), trong đó có 221 loài có hình ảnh minh họa. Có 58 loài được ghi nhận mới và 2 loài tên thay thế mới được đề xuất là Hemiplecta lanxangnica và Chloritis khammouanensis. Bốn loài thuộc giống Amphidromus mới được mô tả gần đây gồm A. phuonglinhae được xem là tên đồng vật của các mô tả trước đây.
Thêm vào đó có 13 loài được liệt kê vào danh sách tuy nhiên chưa chắc chắn [82]. Đây là tài liệu có giá trị tổng kết đầy đủ nhất thành phần loài ốc ở cạn cho tới nay tại Lào. Các dẫn liệu về ốc ở cạn ở Campuchia còn rất hạn chế và chưa có công trình tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở nước này. Các nghiên cứu được công bố bởi Vermeulen và cs.
(2007, 2019a, b) [140], [137], [138] mới chỉ tập trung vào một số giống, họ và công bố loài mới. Gần đây nhất công trình của Sutcharit và cs. Công trình này cũng chỉ mới tổng kết khu hệ ốc ở cạn ở phía Nam của đất nước này. 13 Khu hệ ốc ở cạn ở Malaysia được khảo sát khá đầy đủ.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình đánh giá tổng kết cho khu hệ ốc ở cạn ở đất nước này. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Maassen (2001) ghi nhận 535 loài ốc ở cạn [90], Vermeulen và cs. (2015) công bố 48 loài mới cho khoa học [136], Foon và cs. (2017) tổng kết khu hệ ở ở vùng núi đá vôi Perak, Peninsular với 122 loài được ghi nhận tại khu vực này [77], Phung và cs.
Khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan được nghiên cứu đầy đủ nhất với các công trình tiêu biểu như: Solem (1965, 1966) [128], [129], Panha (1995, 1996) đã công bố 421 loài và phân loài, thuộc 133 giống, 30 họ [114], Siriboon và cs. Panha và cs. Đây được xem là tài liệu mang tính chất tổng kết đầy đủ nhất về khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan. Như vậy, có thể nhận thấy khu hệ ốc ở cạn tại các nước lân cận Việt Nam giai đoạn này được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau.
Các nước như Thái Lan, Lào, Malaysia được nghiên cứu khá đầy đủ. Tuy nhiên, chỉ có khu hệ ốc ở cạn ở Thái Lan và Lào đã có công trình đánh giá tổng kết. Dẫn liệu về ốc ở cạn ở Campuchia còn rất hạn chế và chưa có đánh giá tổng kết cho khu hệ ốc ở cạn ở nước này. Trong thời gian 1954-2003, do thiếu chuyên gia về lĩnh vực ốc cạn, các nghiên cứu hầu như chưa được tái lập ở Việt Nam.
Rải rác có một vài công trình của Szekeres (1969-1970) công bố 4 loài mới ở Ninh Bình và Nghệ An [180], [181]; Varga (1972) phát hiện 4 loài mới từ Ninh Bình và Vĩnh Phúc [182]; Loosjes & Loosjes (1973) công bố 2 loài mới ở Hòa Bình và Ninh Bình [88]. Đến năm 2003, Vermeulen & Maassen công bố danh sách các loài ốc cạn và một số ít ốc nước ngọt ở 5 địa điểm khảo sát (Pù Luông, Cúc Phương, Phủ Lý, Cát Bà và Hạ Long). Trong công bố này chỉ ở một vài địa điểm khảo sát, nhưng có tới 310 loài được phát hiện, tuy nhiên có 142 taxon chưa xác định tên loài, điều này cho thấy khu hệ ốc cạn ở phía Bắc Việt Nam rất phong phú còn rất ít được biết đến [139]. Những năm sau này được bổ sung bởi các công trình nhỏ lẻ về từng nhóm loài được công bố trên 14 phạm vi thế giới như: Maassen (2006) [91], Maassen & Gittenberger (2007) phát hiện 7 loài mới ở Bắc Bộ [93]; Vermeulen và cs.
Tập hợp kết quả các công trình đã công bố trong 3 giai đoạn: trước năm 1900, 1900-1975 và sau năm 1975, Đặng Ngọc Thanh (2008) đã đánh giá tình hình và kết quả điều tra thành phần loài ốc cạn ở Việt Nam với danh sách gồm 776 loài và phân loài ốc cạn. Thành phần ốc Có phổi chiếm đa số; các giống chiếm nhiều loài nhất là: Clausilia (63 loài), Plectopylis (29 loài), Microcystina (28 loài) và Camaena (20 loài). Thành phần loài ốc Có mang ở cạn có số lượng loài ít hơn ốc Có phổi, song cũng có tới 112 loài [38]. Đây là công trình thống kê đầy đủ nhất về thành phần loài trong 3 giai đoạn: trước năm 1900, 1900-1975 và sau năm 1975.
Tuy nhiên, do danh sách loài được thống kê từ tài liệu cũ, chưa sắp xếp lại hệ thống phân loại, nhiều tên loài là synonym, vì vậy danh sách loài trên cần được tu chỉnh lại. Sau công bố của Đặng Ngọc Thanh (2008), đến năm 2011, Schileyko, một chuyên gia về Thân mềm trên cạn của Nga tập hợp các tài liệu đã công bố từ trước đến giai đoạn này về ốc cạn Có phổi (Pulmonata) ở Việt Nam, kết hợp đến một số Bảo tàng xem lại mẫu và tu chỉnh lại các loài. Kết quả, tác giả đã công bố danh sách 477 loài thuộc 96 giống, 20 họ cho khu hệ ốc cạn Có phổi của Việt Nam [122]. Có thể đánh giá đây là công trình đầy đủ nhất, tu chỉnh lại toàn bộ các loài thuộc phân lớp ốc Có phổi (Pulmonata) ở nước ta làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.