CHƯƠNG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN TRỊ TINH GỌN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu về Quản trị tỉnh gọn trong giáo dục đại học Tổng quan nghiên cứu về QTTG trong giáo dục đại học được trình bày theo từng vấn đề nghiên cứu bao gồm: những nghiên cứu về khái niệm liên quan đến QTTG trong giáo dục đại học, những nghiên cứu về mô hình áp dụng, những nghiên cứu về quy trình triển khai, những nghiên cứu về các công cụ, phương pháp áp dụng và những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng QTTG trong giáo dục đại học. Nghiên cứu về khái niệm liên quan đến QTTG trong giáo dục đại học Những nghiên cứu về các khái niệm lên quan đến QTTG trong giáo dục đại học trên thế giới có thể kế đến các nghiên cứu điển hình của: Balzer (2010), Alagaraja (2010), Theresa Waterbury (2015), Parminder Singh Kang và Lawrence Mukhongo Manyonge, 2014 Balzer (2010) đã tiến hành một loạt các cuộc điều tra về triển khai QTTG ở các trường cao đăng và đại học và cung cấp những lời khuyên thiết thực, các nghiên cứu điền hình và lý thuyết về cách QTTG nên được thực hiện.
Ông đã cung cấp một định nghĩa chuyên biệt và được thiết kế riêng cho QTTG trong giáo dục đại học (được gọi là "LHE") như sau: Xác định được giá tri của quá trình từ quan điểm của người hưởng lợi, xác định dòng chảy của quá trình (từ quan điểm của người hưởng lợi và nhà cung cấp, dé xác định xem mỗi bước và hoạt động của mỗi bước sẽ làm tăng giá trị) và loại bỏ nhiều loại lãng phí mà không làm tăng giá trị quá trình, làm cho dòng chảy quá trình trôi chảy, với các hoạt động hoặc dịch vụ 'kéo' khi cần thiết bởi người thụ hưởng chứ không phải là 'day' bởi nhà cung cấp và theo đuôi sự hoàn hảo thông qua sự kết hop của cải tiến liên tục và chuyển đổi cơ bản của quá trình (Balzer, 2010, trang 25). Định nghĩa của Balzer (2010) phù hợp với các mô hình được tìm thấy trong Hệ thống sản xuất Toyota (TPS) như được thể hiện bởi Womack và Jones (1996); tuy nhiên, ông đã đặt một nhấn mạnh vào khái niệm dòng chảy. Ông đã dựa nhiều 9 vào Womack, Jones & Roos (1990) dé tìm các định nghĩa nguồn về QTTG. Tác gia đã cung cấp các nghiên cứu điển hình với các vi du đi kèm với sơ đồ luồng ghi nhận, đối với mỗi ví dụ, nơi mà các quy trình bị phá vỡ do lãng phí vật liệu hoặc thời gian lãng phí.
Ông nêu bật QTTG có thể có hiệu quả trong việc cải thiện các chức năng thường thấy ở các trường mà có thé được xem là không hiệu quả cao (như là đăng ký nhập học, quá trình di chuyên của sinh viên va thay đối vật chat). Alagaraja trong nghiên cứu “Lean Thinking as applied to the adult education environment” đăng trên Tap chi Quan lý và phát triển nguồn nhân lực, Tập 10, số 1, 2010 đã đưa ra một số các ứng dụng của khái niệm tinh gon trong giáo dục được như Kaizen, Kanban, Poka-yoke, Tiêu chuẩn hóa, Điều khiến trực quan, Quản lý trực quan. Và tác giả cũng đã đưa ra khái niệm liên quan đến việc loại bỏ lãng phí. Theo ông loại bỏ lãng phí là loại bỏ những hoạt động làm tăng thêm chi phí nhưng không có giá trị thực trong mọi quy trình và luồng giá trị tong thé.
Vi dụ về ứng dụng trong giáo dục đại học như: loại bỏ vật liệu bên ngoài; thiết lập tiêu chí thực hiện, kết quả của người học và kỳ vọng của người hướng dẫn ngay từ đầu khóa học. Cu thé hơn về các ứng dụng này được trình bày trong phụ lục 1. Theresa Waterbury cũng đã đưa ra khái niệm về QTTG trong giáo dục. Theo tác giả, QTTG trong giáo dục công nhận rằng: - Nguồn lực khan hiếm.
Các trường học, học viện phải cung cấp các chức năng cốt lõi như dich vụ sinh viên và giảng dạy một cách tốt nhất có thé. - Văn hoá tô chức được xây dựng dựa trên sự điều tra và hợp tác kỷ luật. Phương pháp khoa học khám phá kết hợp kiến thức tập thể của nhân viên về các chức năng của nhà trường và thiết kế lại quy trình theo quan điểm của sinh viên, giảng viên và nhân viên. Theo Theresa Waterbury: Một sự khác biệt chính giữa QTTG và quản lý chất lượng toàn diện (TQM) là QTTG đặt trọng tâm trực tiếp và ngay lập tức vào việc phát hiện và loại bỏ lãng phí.
Trong khi các mô hình cải tiến khác, tập trung vào việc loại bỏ lãng phí không được nêu rõ về các nguyên tắc cốt lõi (giá trị, dòng giá trị, dòng chảy, kéo và hoàn thiện); do đó, triết lý QTTG giúp các tổ chức thiết kế 10 quy trình thêm giá trị đặc biệt cho người dùng hoặc khách hàng của các dịch vụ hoặc kết quả. Một khác biệt trong thuật ngữ giữa QTTG trong môi trường kinh doanh và QTTG trong giáo dục là lãng phí được gọi là các dấu hiệu không có giá trị trong môi trường giáo dục. Các dấu hiệu không có giá trị được trải nghiệm bởi những khách hàng sử dụng dịch vụ giống như bệnh nhân bị các triệu chứng (sốt, đau họng,.) khi họ bị bệnh. Các cá nhân làm việc trong luồng giá tri tìm hiểu cách nhận biết các dấu hiệu này.
Các dấu hiệu không có giá trị chỉ ra rằng quá trình cần được kiểm tra dé xem moi thứ khác nhau va nắm bắt các cơ hội mới dé suy nghĩ lại, tái tạo lại hoặc thiết kế lại quy trình từ góc nhìn của khách hàng.1 minh họa các ví du về các dấu hiệu không có giá tri gặp phải trong giáo dục đại học. Các dấu hiệu không có giá trị trong giáo dục đại học Dau hiệu Ví dụ trong GDĐH Sinh viên tham gia các lớp học không được tính vào hoàn 1. Các nỗ lực bổ | thành chương trình. sung Cung cấp hoặc yêu cầu các dịch vụ hoặc lớp học mà sinh viên không muốn hoặc không cần.
Sinh viên chờ đợi dé nói chuyện với cỗ vẫn của họ, chờ đợi dé có được một lớp học đầy đủ, chờ đợi để có thé được giải quyết vấn đề. Chờ đợi Thủ tục giấy tờ chờ đợi trên bàn làm việc được hoàn thành trước khi người tiếp theo có thé thực hiện một phần công việc của họ. Van đê trao đổi các loại văn bản giấy tờ, thông tin hoặc dữ 3. Vậnan cch hu uy yêén liệu giữa phò ng ban và cá c khoa.
Xử lý thủ tục kiểm tra tốt nghiệp khi đữ liệu có sẵn bằng điện 4. Xử AU lý tứ, a, KopR QUA 222131721. x TẢ to ek VÀ L x y Một sô nhân viên tai xử ly hoặc kiêm tra lại các giây tờ hoặc thông tin tương tự. Các lớp học nằm trong danh mục của chương trình đào tạo 5.
Vật liệu dư thừa | nhưng lại chưa được mở trong nhiều năm. (hàng tồn kho) Các tập tin không cần thiết được lưu trữ ngày càng nhiều trong đữ liệu máy tính. Chuyên động Sinh viên di chuyên từ khoa này đến khoa khác để nhận câu 11 Dau hiệu Ví dụ trong GDĐH trả lời cho các câu hỏi. Lỗi nhập dữ liệu hoặc thiếu dữ liệu trong cơ sở dir liệu.
Thiếu thông tin Thông tin và kỹ năng mà sinh viên cần có để hoàn thành (khuyết tật) chương trình học nhưng không được phát triên trong lớp học. Giáo viên, nhân viên và sinh viên thât vọng vì các quy trình 8. Hành vi không hiệu quả. Đô lỗi cho người khác khi có sự cô.
(Nguồn: Theresa Waterbury, 2015) Từ định nghĩa co bản của nguyên tắc QTTG, dé hiểu được lãng phí trong giáo dục đại học là gì bước đầu tiên là hiểu giá tri là gì và các hoạt động và tai nguyên nào là hoàn toàn cần thiết dé tạo ra giá trị đó còn mọi thứ khác đều lãng phi. Trọng tâm chính là loại bỏ các bước không cần thiết khỏi các quy trình mà không thêm bắt kỳ giá trị nào cho sinh viên, nghiên cứu hoặc nhân viên. Đề hiểu được khái niệm về việc thực hiện, chúng ta hãy xem xét quy trình cơ bản; chang hạn như giảng bài, đăng ký sinh viên mới, nghiên cứu. Mỗi qua trình được tạo thành từ các bước riêng biệt bao gồm bước bắt đầu xác định, bước kết thúc và có một số bước trung gian.
Các bước trung gian này tạo ra sản pham hoặc dịch vụ cần thiết cho khách hàng cuối, tức là sinh viên, nhân viên hoặc nghiên cứu trong trường hợp này. Do đó, điều cần thiết là phải hiểu các bước trung gian mà giá trị của các bước này thêm vào từ góc độ khách hàng cuối cùng. Khi các bước giá trị gia tăng nay được xác định thì lãng phí có thé được loại bỏ. Minh họa rõ hơn những lãng phí trong giáo dục đại học dựa trên quan điểm của sinh viên, nghiên cứu và nhân viên được trình bày cụ thê trong phụ lục Tại Việt Nam cho đến nay có rất ít đề tài đề cập đến khái niệm liên quan đến quan trị tinh gọn trong giáo dục, cụ thé có các dé tài sau: Đề tài “Tiếp cận Lean trong giáo dục” của TS.
Tạ Quang Tuấn đăng trên Tạp chí Giáo dục số 27, kì 1 tháng 1-2012. Bài viết giới thiệu một cách tiếp cận tổng quan về Lean trong công tác giáo dục, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng ứng dụng Lean trong công tác giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên đề tài chỉ mới dừng lại ở cách tiếp cận Lean trong giáo dục như là một hệ 12 thống chứ chưa xây dựng được cụ thể hệ thong Lean sé bao gom các nhân tố cấu thành hệ thống, các công cụ, giải pháp sẽ được triển khai như thế nào và cũng chưa thực hiện việc nghiên cứu điển hình để tìm ra cách tiếp cận Lean trong thực tiễn giáo dục. Đề tài “Lean University- The Solutions for Vietnamese Universities” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hà tại hội thao “Governance — Internationalisation- Quality Assurance: Challenges and Prospects for Universities in Vietnam and SEA” năm 2017.
Đề tai đã xây dựng khái niệm lãng phí và Quan tri tinh gon trong tô chức. Chi ra thực tiễn những lãng phí và việc áp dụng QTTG tại các Trường ĐH ở Việt Nam. Từ đó đưa ra một số giải pháp dé ứng dụng QTTG tại các Trường DH ở Việt Nam. Tuy nhiên đề tài chưa hệ thống được một cơ sở lý luận về QTTG trong giáo dục và giáo dục đại học, chưa đưa ra khái niệm lãng phí và khung phân tích về lãng phí trong giáo dục đại học.