Chương 1: Giới thiệu về lý do chọn đề tài và bối cảnh nghiên cứu, đề xuất các mục tiêu nghiên cứu, động cơ nghiên cứu và những đóng góp của luận án. 11 Chương 2: Trình bày lược khảo tổng quan về các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu thực nghiệm về QTCT ở thị trường phát triển cũng như mới nổi. Từ đó, xây dựng khung đa lý thuyết nghiên cứu của đề tài, sau đó đề tài sẽ sử dụng khung lý thuyết, các kết quả nghiên cứu trước và bối cảnh nghiên cứu để phát triển giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài.
Ở đây, chúng tôi trình bày phương pháp thu thập dữ liệu bằng tay và các bước tiến hành chấm điểm chỉ số QTCT. Bên cạnh đó, đề tài mô tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy và dấu kỳ vọng của biến, cùng với phương pháp chọn mô hình hồi quy phù hợp, kiểm tra và xử lý nội sinh đối với biến nội sinh trong mô hình để tăng tính vững. Các phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm ở chương 4. Chương 4: Trình bày dữ liệu nghiên cứu và thảo luận kết quả đạt được từ phân tích định lượng.
Ở đây, thống kê mô tả sẽ so sánh mức độ tuân thủ của thực hành QTCT ở Việt Nam ở các giai đoạn khác nhau. Sự tương quan sẽ đo lường độ mạnh của mối quan hệ và sự phân tích các biến sẽ kiểm tra các giả thuyết trong nghiên cứu và giải thích sự tác động lẫn nhau giữa các biến QTCT và các biến hiệu quả tài chính; cũng như nghiên cứu riêng về quan hệ giữa chỉ số công khai minh bạch với hiệu quả tài chính, và đây được xem như là một tình huống đặc trưng của chỉ số QTCT. Cuối cùng, có sự thảo luận về kết quả đạt được so với giả thuyết nghiên cứu cũng như với các nghiên cứu trước sau khi đã sử dụng các kỹ thuật thống kê để tăng độ tin cậy, từ đó, đưa ra nhận định về thực hành QTCT đối với thị trường Việt Nam. Chương 5: Kết luận và đề xuất.
Trong chương này chúng tôi tóm tắt các kết quả đạt được và đưa ra các khuyến nghị liên quan đối với các bên liên quan cũng như các nhà làm chính sách. Ngoài ra, những hạn chế nghiên cứu và các đề nghị cho hướng nghiên cứu mới sẽ được đề cập trong nội dung chương. 12 Chương 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT Để xác định khoảng trống nghiên cứu và hình thành giả thuyết nghiên cứu, nội dung chương này sẽ trình bày các lý thuyết nền cũng như các khái niệm liên quan đến QTCT và hiệu quả tài chính, đồng thời tóm tắt hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm về các chỉ số QTCT cũng như các biến đại diện QTCT tác động đến hiệu quả tài chính. Qua đó, luận án sẽ dự kiến tác động của các chỉ số QTCT và các biến độc lập liên quan đến hiệu quả tài chính công ty.
Các nhận xét và kết luận được rút ra từ nội dung chương này sẽ là cơ sở cho các chương tiếp theo.1 Giới thiệu Hơn hai thập niên qua đã chứng kiến sự gia tăng sâu sắc các nghiên cứu về quản trị công ty – QTCT (Corporate governance – CG) rộng lớn từ các lĩnh vực học thuật như tài chính, kế toán, quản trị, kinh tế và xã hội (Aguilera et al. 2015; Aguilera & Jackson 2010; Filatotchev & Boyd 2009). QTCT có vai trò quan trọng trong công ty để làm giảm đi căng thẳng trong mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, giữa công ty và các bên liên quan, đặc biệt giúp nâng cao hiệu quả tài chính công ty. Chương này trình bày các nghiên cứu khác nhau về QTCT.
Các nền tảng lý thuyết về QTCT chủ yếu tập trung vào các lý thuyết chính như lý thuyết đại diện (Agency theory), lý thuyết bên liên quan (Stakeholder theory) và lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information theory). Các bằng chứng của các nghiên cứu này sẽ được tổng hợp và so sánh ở các nước phát triển và các nền kinh tế mới nổi. Cấu trúc của chương này được thiết kế như sau: mục 2.2 trình bày các lý thuyết nền liên quan đến QTCT, trong khi ở mục 2.3 là các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa QTCT và hiệu quả công ty.4 mô tả môi trường QTCT ở Việt Nam.5 xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và phương pháp đo lường các biến, trong khi mục 2.6 là kết luận của chương này.2 Các lý thuyết nền về QTCT 2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 2.1 Giới thiệu Lý thuyết đại diện là một trong những lý thuyết nền phổ biến được sử dụng để khám phá các chủ đề khác nhau về tài chính công ty, nhất là các nghiên cứu và phân tích về QTCT (Dedman, 2004). Khi nghiên cứu về QTCT, lý thuyết này được các nhà nghiên cứu phân biệt thành hai nhóm lý thuyết theo cách tiếp cận gồm: mâu thuẫn người chủ - đại diện (agency-principal conflict) (chi phí đại diện loại I) liên quan đến mối quan hệ 13 giữa người quản lý và cổ đông (Jensen & Meckling 1976); và mâu thuẫn người chủ - người chủ (principal-principal conflict) (chi phí đại diện loại II) liên quan đến mâu thuẫn giữa các cổ đông lớn và thiểu số (La Porta et al.
2000; Porta et al. a) Lý thuyết đại diện – người chủ (Agency-principal theory) Lý thuyết này được xuất phát từ bài báo của Berle & Means (1932) về sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý trong các công ty lớn (cổ phần). Theo lý thuyết này, người chủ (cổ đông) mà sở hữu công ty thuê hoặc ủy quyền các đại diện (nhà quản lý) để điều hành công ty mang lại lợi ích tốt nhất cho các người chủ là phần thưởng về lợi nhuận (Jensen & Meckling 1976). Nghiên cứu này cho thấy sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý tạo nên sự mâu thuẫn về lợi ích người chủ và người đại diện.
Sự bất đồng này được gây ra bởi các nhà quản lý, cổ đông và chủ nợ có các mục đích riêng của họ. Vì sự bất đồng về lợi ích của người đại diện (có quyền quản lý) với người chủ (quyền sở hữu tài sản) nên có thể dẫn đến nhà quản lý hành động phản bội lại lợi ích của chủ sở hữu hay chủ nợ, đó là không nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị cho cổ đông, mà có thể vì lợi ích của chính bản thân họ; do đó, cần có một cơ chế kiểm soát được thiết kế để bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Về cơ bản, các cổ đông kỳ vọng nhà quản lý có các quyết định nhằm đem lại lợi ích cho các cổ đông; tuy nhiên, sự ưu tiên của nhà quản lý đôi khi không giống với sự ưu tiên của các cổ đông, mục tiêu riêng của họ có thể khác với việc tăng giá trị công ty, nói khác đi họ muốn tối đa hóa lợi ích cá nhân. Bởi vì mục đích của các nhà quản lý không phải luôn luôn hướng về tối đa giá trị công ty, nên các người chủ công ty có thể cố gắng để giám sát và kiểm soát các hành vi của nhà quản lý, các hành động giám sát và kiểm soát làm phát sinh chi phí đại diện của vốn chủ sở hữu.
Vì vậy, tình trạng khác nhau về lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý có thể sinh ra các chi phí đại diện, và nếu mâu thuẫn này kéo dài có thể ảnh hưởng đến hiệu quả công ty trong dài hạn. Điểm chung cuối cùng của lý thuyết đại diện là đưa ra cấu trúc quản trị mà nếu cấu trúc này yếu, công ty sẽ có các vấn đề đại diện lớn và nhà quản lý có thể lấy được các lợi ích cá nhân lớn, và điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả công ty (Core et al. Do đó, vai trò của QTCT chủ yếu được thiết lập để bảo vệ và nâng cao quyền lợi của các cổ đông cũng như các bên liên quan (Jensen & Meckling 1976). Vì vậy, lý thuyết đại diện được sử dụng trong đề tài để xem xét mối quan hệ giữa chủ sở hữu và nhà quản lý, cũng như mối quan hệ giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ thông qua chỉ số quyền cổ đông, đối xử bình đẳng các cổ đông và trách nhiệm HĐQT của các công ty niêm yết trên HOSE, từ đó kiểm tra mối quan hệ này với hiệu quả công ty.1 Các loại đại diện và rủi ro thường gặp trong công ty Các loại đại diện Các rủi ro của đại diện Quản lý Đặc quyền vượt mức (Management) (excessive prequisites) Các chủ nợ, các cổ đông Đầu tư kém hiệu quả (Debtholders, shareholders) (underinvestment) Chính phủ/xã hội Đầu tư quá mức (Government/Society) (overinvestment) Các chủ nợ, Chính phủ Thay đổi rủi ro (Debtholders, Government) (risk shifting) Các chủ sở hữu mới Thông tin bất cân xứng (New equityholders (asymmetric information) Các chủ nợ, các bên liên quan Phá sản và kiệt quệ tài chính (Debtholders, stakeholders) (Bankruptcy and financial distress) (Source: John & Senbet (1998)) b) Lý thuyết người chủ - người chủ (Principal – principal theory – PP) Một vấn đề đại diện khác xảy ra là mâu thuẫn giữa cổ đông kiểm soát và không kiểm soát (Denis & McConnell 2003; Faccio & Lang 2002; Federowicz & Aguilera 2003; Gospel & Pendleton 2005; Thomsen 2006).
Mâu thuẫn này xảy ra khi có quyền sở hữu tập trung kết hợp với các cơ chế quản trị bên ngoài không hiệu quả như sự bảo vệ của pháp luật cho các cổ đông thiểu số yếu (Connelly et al. 2012; Morck et al. Đặc biệt, mâu thuẫn này chỉ xảy ra ở các nền kinh tế mới nổi nơi mà bối cảnh pháp lý yếu làm cho sự ép buộc tuân thủ hợp đồng đại diện tốn kém và không chắc chắn hơn (North 1990; Wright et al. Điều này dẫn đến sự phát triển một nhận thức mới về QTCT là tập trung vào mâu thuẫn giữa các nhóm người chủ (principal) khác nhau, được biết đến mô hình người chủ - người chủ (principal-principal model) của QTCT, trong đó trung tâm là mâu thuẫn giữa các cổ đông kiểm soát và cổ đông thiểu số (Dharwadkar et al.
Từ đó cho thấy, mâu thuẫn PP là đối mặt với vấn đề chiếm đoạt (risk of expropriation). Các cổ đông kiểm soát lợi dụng quyền kiểm soát để rút các tài nguyên của công ty làm giàu cho lợi ích cá nhân của họ (Johnson et al. Đặc biệt, các cổ đông thiểu số là người chia sẻ rủi ro tài chính với công ty chỉ nhận được một ít cổ tức được chia (Bae, et al.