CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Các nghiên cứu quốc tế về quản trị chất lượng chuỗi cung ứng Các nghiên cứu về tích hợp quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng Khái niệm Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) hình thành từ trong thập niên 1980 và ban đầu liên quan đến các hoạt động quản trị mua hàng, quản trị tồn trữ, vận chuyển trong chuỗi cung ứng. Khái niệm này sau đó đã được mở rộng bao gồm việc quản lý tất cả các chức năng trong một chuỗi cung ứng. Theo Chopra và Meindl [39], “Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc quản lý các dòng chảy giữa các quá trình trong chuỗi cung ứng để tối đa hóa tổng lợi nhuận”. Định nghĩa này cho thấy rằng SCM liên quan đến việc quản trị của các dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính theo cả 2 chiều: xuôi chiều (hướng tới khách hàng) và ngược chiều (hướng tới nhà cung ứng) trong chuỗi cung ứng.
SCM cũng đòi hỏi phải đưa ra quyết định về lựa chọn địa điểm đặt cơ sở sản xuất, lựa chọn sản phẩm và công suất sản xuất, làm thế nào để sản xuất, và cuối cùng, làm thế nào để phân phối các sản phẩm tới khách hàng và các dịch vụ có liên quan trước, trong và sau bán hàng [93] Giai đoạn trước 2000, các lĩnh vực nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến chủ đề hiệu suất và đánh giá kết quả hoạt động chuỗi cung ứng; tích hợp chuỗi cung ứng, thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng v. nhằm mục tiêu tạo ra các lợi thế tiềm năng cho doanh nghiệp như giảm chi phí, tăng sự hài lòng của khách hàng, doanh thu, lợi nhuận, tính cạnh tranh, tinh giản các hoạt động. Đến giữa thập kỷ 2000, các nghiên cứu về chuỗi cung ứng tập trung làm rõ cơ sở lý luận và một số nguyên tắc vận hành chuỗi cung ứng, quan hệ giữa quản trị chuỗi cung ứng và kết quả hoạt động như: các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển chuỗi cung ứng, mô hình, phương pháp và khung đo lường hiệu suất và kết quả hoạt động chuỗi cung ứng; sự chia sẻ thông tin và hợp tác giữa các đối tác của chuỗi cung ứng, nhận dạng các hoạt động thực hành tốt (best practices) tạo điều kiện cho việc 7 liên kết và tích hợp các quá trình chuỗi cung ứng, ứng dụng các hệ thống thông tin quản trị và các công nghệ Internet mới nhất thúc đẩy hiệu quả, hiệu suất trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Quản trị chất lượng (QM) được Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) định nghĩa là “…tất cả những hoạt động của chức năng quản trị chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp khác như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng” [14].
Những năm 1980, sau sự thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Hoa Kỳ với các sản phẩm có chất lượng vượt trội, các học giả, doanh nghiệp Hoa Kỳ nghiên cứu cách thức kiểm soát, quản trị chất lượng của Nhật Bản và ứng dụng các phương pháp này vào thực tiễn hoạt động, thu được các thành tựu đáng kể. Kể từ đó, thuật ngữ Quản trị chất lượng toàn diện (TQM) được sử dụng như một cụm từ đại diện cho các chiến lược, chương trình và kỹ thuật tập trung vào cải tiến chất lượng dựa trên các nguyên tắc, kỹ thuật, công cụ được phát triển bởi các doanh nghiệp Nhật Bản như: chất lượng định hướng bởi khách hàng, chất lượng được tạo nên bởi sự tham gia của tất cả mọi người, chất lượng bắt đầu bằng đào tạo và kết thúc cũng bằng đào tạo, Kaizen, 5S, TPM,…Trong Tiêu chuẩn ISO 8402:1998, TQM được định nghĩa: “…là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng dựa vào sự tham gia của tất cà các thành viên, nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên của tổ chức và cho xã hội” [14]. Nghiên cứu thực nghiệm về quản trị chất lượng đã phát triển trong suốt 20 năm qua và đã giúp bổ sung các kiến thức về lý luận và thực hành ứng dụng khoa học quản trị chất lượng. Các nghiên cứu thực nghiệm đã định nghĩa và đánh giá các hoạt động thực hành QM [43], [90], [92].
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa các hoạt động thực hành quản trị chất lượng và các khía cạnh khác nhau của kết quả hoạt động của doanh nghiệp như chi phí sản xuất, giao hàng đúng hạn, năng lực sản xuất linh hoạt [89]. Đến trước những năm 2000, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng 8 nỗ lực quản trị chất lượng chủ yếu tập trung vào cải thiện chất lượng sản phẩm tại các quá trình sản xuất trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp. Tuy nhiên, với sự không chắc chắn ngày càng gia tăng của môi trường kinh doanh, chất lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào toàn bộ dòng chảy liên tục trong chuỗi cung ứng. Việc đáp ứng sự hài lòng của khách hàng chỉ có thể đạt được khi toàn bộ chuỗi cam kết, tích hợp, phối hợp chặt chẽ để theo đuổi các mục tiêu, hoạt động và sự đổi mới [94].
Các hoạt động thực hành quản trị chất lượng toàn diện truyền thống cần phải được chuyển đến một cách tiếp cận khác về chuỗi cung ứng [85], mở rộng hoạt động với các đối tác chuỗi cung ứng cả xuôi dòng và ngược dòng để thu được toàn bộ lợi ích tiềm năng của cải tiến chất lượng, nâng cao chất lượng để làm hài lòng khách hàng [85], [93]. Tích hợp hai khái niệm quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng được đề xuất bởi nhiều học giả [47], [85], [35], [93], dẫn tới sự ra đời của khái niệm quản trị chất lượng chuỗi cung ứng (Supply Chain Quality Management - SCQM), mang lại các tiềm năng để đối phó với những thách thức trong tương lai của chuỗi cung ứng [45]. Các nghiên cứu về khái niệm, nội hàm và tác động của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng Quản trị chất lượng chuỗi cung ứng là khái niệm tích hợp hai lĩnh vực khoa học quản trị – quản trị chất lượng và quản trị chuỗi cung ứng được đề xuất bởi nhiều học giả từ những năm 2000. Đề xuất này được hình thành dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực chứng hoạt động quản trị chuỗi cung ứng của các tập đoàn sản xuất và dịch vụ đa quốc gia.
Giai đoạn đầu, SCQM được định nghĩa là “sự tham gia của tất cả các thành viên kênh cung ứng, vượt qua ranh giới giữa các doanh nghiệp trong quá trình phát triển liên tục và đồng nhất của tất cả các quy trình, sản phẩm, dịch vụ và văn hoá làm việc, tập trung vào việc tạo ra năng suất khác biệt, cạnh tranh thông qua việc quảng bá sản phẩm và giải pháp dịch vụ mang lại giá trị và sự hài lòng của khách hàng” [35] Sau đó, Kuei và Madu [66] đưa ra định nghĩa về SCQM với 3 phương trình cơ bản là: 9 SC = mạng lưới các nhà cung cấp, nhà sản xuất, khách hàng Q = đáp ứng nhu cầu thị trường chính xác và đạt được sự hài lòng của khách hàng nhanh chóng, có lợi nhuận; và M = tạo điều kiện, khuyến khích các quá trình và hoạt động chất lượng, tăng sự tin tưởng cho chất lượng chuỗi cung ứng với định nghĩa này có thể nhận thấy Kuei ủng hộ quan điểm lòng tin trong mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp là điều kiện tiên quyết cho hiệu suất chất lượng bền vững trên toàn bộ chuỗi cung ứng. Gần đây, SCQM được xem xét như hiệu ứng cộng hưởng giữa quản trị chuỗi cung ứng và quản trị chất lượng, trong đó QM trong doanh nghiệp là chìa khóa để cải thiện kết quả hoạt động trên toàn chuỗi. Như vậy, nó mở rộng khía cạnh của QM và SCM tới sự hợp tác giữa toàn bộ các thành viên, chỉ ra mối quan hệ gần gũi giữa QM và SCM giúp nâng cao hiệu suất của chuỗi cung ứng [45]. Phát triển cách tiếp cận này, Robinson và Malhotra [85] đã xác định "quản trị chất lượng chuỗi cung ứng là sự phối hợp chính thức và tích hợp các quá trình kinh doanh liên quan đến tất cả các tổ chức đối tác trong kênh cung cấp để đo lường, phân tích và liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ và quá trình để tạo ra giá trị và đạt được sự hài lòng của khách hàng trung gian và cuối cùng trên thị trường".
Nhằm hướng tới kết quả hoạt động chuỗi cung ứng hiệu quả hơn, Foster [47] định nghĩa "SCQM là một cách tiếp cận dựa trên hệ thống để cải tiến hiệu suất sử dụng các cơ hội tạo ra bởi các liên kết xuôi dòng (downstream) và ngược dòng (upstream) với các nhà cung cấp và khách hàng. Ông cũng đã chỉ ra 7 chủ đề liên quan đến quản trị chất lượng chuỗi cung ứng bao gồm: (1) Tập trung vào khách hàng, (2) Thực hành về chất lượng, (3) Quan hệ với nhà cung cấp, (4) Lãnh đạo, (5) Thực hành quản trị nguồn nhân lực, (6) Kết quả kinh doanh, và (7) An toàn. Mới đây nhất, các nhà nghiên cứu xem xét SCQM như một khái niệm đa hướng bao gồm quản trị chất lượng nội bộ (IQM) (quản trị quá trình, thiết kế sản phẩm/quy trình, đào tạo chất lượng,…) và các hoạt động quản trị chất lượng ở cấp độ chuỗi 10 cung ứng (hợp tác với khách hàng và nhà cung cấp, đào tạo chất lượng ở cấp độ chuỗi cung ứng, sự tham gia của các thành viên trong quá trình thiết kế sản phẩm) [55]. Có thể nhận thấy, tồn tại một loạt các định nghĩa khác nhau về SCQM được đề xuất.
Những định nghĩa này phản ánh sự khác biệt về lý thuyết, thực nghiệm và quan trọng hơn là trọng tâm và phạm vi nghiên cứu của các học giả. Các nghiên cứu về thành phần của quản trị chất lượng chuỗi cung ứng Để nghiên cứu cách thức SCQM tác động tới kết quả hoạt động, các học giả đã phát triển khía cạnh của SCQM, hay còn gọi là các hoạt động thực hành SCQM. Hoạt động thực hành SCQM được định nghĩa là tập hợp các hoạt động hàng ngày được thực hiện bởi các tổ chức để đạt được các mục tiêu SCQM [83]. Các hoạt động thực hành SCQM đã được nghiên cứu bởi nhiều học giả nhằm phát triển các cấu trúc, biểu thị đặc tính của SCQM, cũng như đánh giá tác động của từng thực hành này tới kết quả hoạt động [95].