CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1. Tổng quan về quản trị chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Các doanh nghiệp nói chung và ngành quản trị kinh doanh nói riêng luôn phải thay đổi và phát triển để thích ứng với sự biến đổi không ngừng và khó lường của nền kinh tế. Chính vì vậy các chuyên gia không ngừng nghiên cứu, phân tích để tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi này, hàng loạt các khái niệm mới được ra đời như tư duy tinh gọn, hoạch định cung ứng vật tư, quản lý nguồn nhân lực,.Và bên cạnh những công cụ trên không thể không nhắc đến một giải pháp giúp nâng cao hiệu suất và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management - SCM). Đây là một giải pháp mang tính đột phá, liên tục được xây dựng và hoàn thiện nhằm giúp các doanh nghiệp có thể áp dụng, đem đến nguồn lợi kinh tế khổng lồ. Tuy nhiên, để tìm hiểu rõ hơn về khái niệm quản trị chuỗi cung ứng, chúng ta cần phân tích và hiểu rõ về khái niệm chuỗi cung ứng. Việc hiểu rõ bản chất của khái niệm chuỗi cung ứng sẽ là căn cứ quan trọng để đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu về khái niệm quản trị chuỗi cung ứng.
Sau đây là một số khái niệm về chuỗi cung ứng tiêu biểu của các chuyên gia kinh tế đưa ra. “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các nhà máy và các phương án phân phối thực hiện các chức năng thu mua nguyên vật liệu; chế biến những nguyên vật liệu này tạo ra các thành phẩm và bán thành phẩm và phân phối các sản phẩm hoàn thiện tới tay người tiêu dùng” (Ganeshan và Harrison,1995) “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các doanh nghiệp kinh doanh độc lập hoặc bán hàng độc lập về trách nhiệm thu mua nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối và tạo mối liên kết với một hay nhiều các sản phẩm liên quan” (Janyashakar M.Swaminathan 1996) 7 Hai khái niệm kể trên đã phần nào khái quát được những đặc điểm cơ bản của chuỗi cung ứng. Tuy nhiên đến năm 2001, Chopra Sunil và Peter Meindl đã đưa ra khái niệm hoàn thiện hơn. Khi này chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm sản xuất và phân phối mà được mở rộng ra và nhấn mạnh tới nhu cầu của khách hàng.
“Chuỗi cung ứng bao gồm các tất cả các bên liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất và các nhà cung cấp mà còn gồm các bên vận chuyển, lưu kho, các nhà bán lẻ và thậm chí là cả khách hàng” – (Chopra Sunil và Peter Meindl, 2001) Tương đồng với quan điểm trên, Chen and Paulraj (2004) chỉ ra rằng “Một chuỗi cung ứng điển hình là một mạng lưới các liên kết xử lý nguyên vật liệu, thông tin và dịch vụ với các đặc điểm của nguồn cung, quá trình sản xuất và nhu cầu của khách hàng”. Đồng tình với hai quan điểm trên, tác giả cho rằng chuỗi cung ứng là một mạng lưới liên kết các quá trình xử lý nguyên vật liệu, thông tin, dịch vụ bắt nguồn từ các nhà cung cấp, tiếp sau là các nhà sản xuất, các bên vận chuyển, lưu kho, các nhà bán lẻ và đưa đến tay người tiêu dùng nhằm đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng cuối cùng. Quan điểm trên sẽ là nền tảng để tác giả tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về khái niệm quản trị chuỗi cung ứng.
Sau đây là một số khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng được đưa ra trong các công trình nghiên cứu khoa học cũng như sách, báo, tạp chí kinh tế. “Quản trị chuỗi cung ứng là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới, nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian, và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối (Hau Lee và Corey Billington, The Evolution of Supply Chain Management Models and Practice at Hewlett Packard, 1995) “Quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt, tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. 8 Sự phát triển và tích hợp nguồn lực con người và công nghệ là then chốt cho việc tích hợp chuỗi cung ứng thành công” (The Institute for Supply Management, Glossary of key purchasing and supply terms, 2000) Hai quan điểm trên được đưa ra cách đây hơn hai thập kỉ và chúng vẫn còn đơn giản, khiến người đọc khó hình dung về những thành phần tham gia vào quản trị chuỗi cung ứng cũng như cách hoạt động của chuỗi. Dưới đây là các khái niệm tương đồng nhưng được đưa vào thời điểm sau và có tính hoàn thiện hơn rõ rệt.
“Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp có tính hệ thống, chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống, và các chiến thuật để áp dụng các chức năng này cho một công ty cụ thể, đồng thời liên kết các doanh nghiệp trong một chuỗi các cung ứng nhằm mục đích nâng cao hiệu quả dài hạn cho từng công ty riêng lẻ cũng như cho toàn ngành” (Mentzer, Dewitt, Min, Nix, Smith và Zachia, 2001) “Quản trị chuỗi cung ứng là sự tổng hợp của quá trình kinh doanh mấu chốt từ người tiêu dùng cuối cùng tới các nhà cung cấp nguồn các sản phẩm, dịch vụ và thông tin, đem lại giá trị cho người tiêu dùng và những người hưởng lợi khác” (Douglas M. Lambert, 2004) “Quản trị chuỗi cung ứng là một chuỗi các giải pháp được tận dụng để tập hợp các nhà cung cấp, nhà sản xuất, cửa hàng một cách hiệu quả, qua đó các hàng hóa được sản xuất và phân phối với đúng số lượng, tới đúng địa điểm ở đúng thời điểm để tối thiểu hóa chi phí toàn hệ thống mà vẫn đáp ứng được mức độ yêu cầu dịch vụ” (David Simchi-Levi , Philip Kaminsky và Edith Simchi-Levi, 2008) Các quan điểm trên đã phần nào trình bày cụ thể hơn về các thành phần cũng như chức năng, nhiệm vụ của quản trị chuỗi cung ứng. Tuy nhiên quan điểm của tác giả về quản trị chuỗi cung ứng sát nhất với khái niệm được đưa ra bởi Hiệp hội chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (Coucil of Supply Chain Management Proffesional) “Quản trị chuỗi cung ứng gồm việc đưa ra kế hoạch và quản trị toàn bộ các hoạt động từ quá trình tìm kiếm nguồn hàng, thu mua nguyên vật liệu, phân phối và 9 quản lý logistics. Thêm vào đó, nó gồm sự liên kết và phối hợp với các cộng sự, đó có thể là nhà cung cấp, các đối tác cung ứng dịch vụ là bên thứ 3 hay thậm chí là khách hàng.
Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng là tổng hợp quản lý các nhu cầu của từng công ty” (Coucil of Supply Chain Management Proffesional) Dựa vào các quan điểm trên, tác giả xin được tổng hợp và đưa ra quan điểm về khái niệm quản trị chuỗi cung ứng: Quản trị chuỗi cung ứng là mỗi chuỗi các liên kết hoạt động từ việc từ tìm kiếm nguồn hàng, thu mua nguyên vật liệu, sản xuất và quản lý logistics đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả và tối ưu hóa năng lực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều người hay nhầm lẫn giữa quản trị chuỗi cung ứng và quản trị logistics. Khác với khải niệm quản trị chuỗi cung ứng được nêu ở trên, Hiệp hội chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng CSCMP đưa ra khái niệm về quản trị logistics như sau: “Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng gồm việc lên kế hoạch, thực hiện, và kiểm soát các dòng đi ra và đi về một cách hiệu suất, hiệu quả và lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và các thông tin liên quan giữa điểm xuất pháp tới điểm tiêu thu hàng hóa để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Các hoạt động quản trị logistics điển hình bao gồm quản trị vận tải xuất và nhập, quản lý các phương vận tải, kho hàng, nguyên vật liệu chế biến, đáp ứng đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản lý hàng tồng kho, lập kế hoạch nguồn cung và nguồn cầu và quản lý các nhà cung cấp dịch vụ logistics là bên thứ ba.
Ở các mức độ khác nhau, chức năng logistics còn bao gồm cả nguồn cung ứng và thu mua, lên kế hoạch và lịch trình sản xuất, đóng gói và lắp ráp, cung cấp dịch vụ khách hàng. Nó tham gia vào tất cả các mức độ lên kế hoạch và thực hiện chiến lược, vận hành và chiến thuận. Quản trị logistics là một chức năng tích hợp điều phối và tối ưu tất cả các hoạt động logistics, cung như tích hợp logistics với các chức năng khác, bao gồm tiếp thị, bán hàng, sản xuất, tài chính và thông tin công nghệ. (Council of Supply Chain Management Proffesionals) Từ hai định nghĩa trên có thể tóm tắt những điểm khác biệt giữa quản trị chuỗi cung ứng và quản trị logistics như sau: 10 Về quy mô: Logistics là những hoạt động xảy ra trong ranh giới một công ty vừa và nhỏ còn chuỗi cung ứng là mạng lưới các công ty cùng làm việc và hợp tác để phân phối sản phẩm đến thị trường.
Logistics truyền thống chỉ tập trung chú ý vào các hoạt động như thu mua, phân phối, bảo trì và quản lý tồn kho. Trong khi đó Quản trị chuỗi cung ứng không chỉ gồm Logistics truyền thống mà còn bao gồm các hoạt động như tiếp thị, phát triển sản phẩm mới, tài chính, và dịch vụ khách hàng. Về mục tiêu: Logistics mong muốn đạt được là giảm chi phí và tăng được chất lượng dịch vụ còn quản lý chuỗi cung ứng lại đặt mục tiêu ở giảm được chi phí toàn thể dựa trên tăng cường khả năng cộng tác và phối hợp, do đó tăng hiệu quả trên toàn bộ hoạt động Logistics. Về công việc: Quản trị Logistics quản lý các hoạt động bao gồm vận tải, kho bãi, dự báo, đơn hàng, giao nhận, dịch vụ khách hàng… còn quản lý chuỗi cung ứng bao gồm cả quản trị Logistics và quản trị nguồn cung cấp, sản xuất, hợp tác và phối hợp của các đối tác, khách hàng Về tầm ảnh hưởng: Logistics có tầm ảnh hưởng ngắn hoặc trung hạn, còn Supply Chain có tầm ảnh hưởng dài hạn.