Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về dự án nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu. Trên cơ sở này, mô hình nghiên cứu được xây dựng cùng với các giả thuyết về mối quan hệ giữa các khái niệm trong mô hình. Chương này bao gồm hai phần chính sau: - Cơ sở lý thuyết về giá trị cảm nhận, sự hài lòng, ý định hành vi và mối quan hệ giữa các khái niệm này trong mô hình.
- Mô hình nghiên cứu. Giá trị cảm nhận của khách hàng 2. Khái niệm Theo một nghiên cứu khám phá của Zeithaml (1988), khái niệm giá trị được xây dựng dựa trên quan điểm của khách hàng và doanh nghiệp nên dựa trên quan điểm của khách hàng để nhận ra giá trị. Trong khái niệm của Zeithaml, “giá trị” được làm rõ qua 4 định nghĩa: (1) giá trị là giá cả thấp, (2) giá trị là những gì muốn ở một sản phẩm, (3) giá trị là chất lượng người tiêu dùng nhận được, (4) giá trị là cái người tiêu dùng nhận được so với giá mà họ đã trả.
Dựa trên kết quả nghiên cứu này, Zeithaml đã đưa ra định nghĩa về giá trị cảm nhận của khách hàng: “Giá trị cảm nhận của khách hàng là những đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về lợi ích của sản phẩm/dịch vụ dựa trên sự cảm nhận về những gì họ bỏ ra và những gì họ nhận được. Giá trị cảm nhận luôn thay đổi, nó khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa và thời gian”. Định nghĩa của Zeithaml đã được chấp nhận và ứng dụng phổ biến. Dodds và cộng sự (1991) cho rằng giá trị cảm nhận còn được chú ý rất nhiều từ các nhà làm tiếp thị và nghiên cứu thị trường bởi nó ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc dự đoán hành vi mua hàng của người tiêu dùng và giành được lợi thế cạnh tranh bền vững.
Anderson, Jain, and Chintagunta (1993) lại định nghĩa giá trị cảm nhận của khách hàng là giá trị được cảm nhận tính theo đơn vị tiền tệ của lợi ích về mặt kỹ 123doc 8 thuật, kinh tế, dịch vụ và xã hội mà khách hàng có thể nhận được so với giá mà họ trả cho một sản phẩm, đặt trong việc xem xét giá cả và chào hàng của các nhà cung cấp sẵn có. Woodruff (1997) cho rằng giá trị cảm nhận khách hàng là sự yêu thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về những thuộc tính của sản phẩm, tính hiệu quả hay hậu quả phát sinh từ việc sử dụng đó. Những thuộc tính này là điều kiện để khách hàng đạt được các mục tiêu và mục đích của mình trong quá trình sử dụng sản phẩm. Petrick (2002) lại định nghĩa giá trị cảm nhận của khách hàng là sự cân đối giữa những gì khách hàng nhận được (lợi ích) và những gì họ bỏ ra (sự hy sinh) để có được sản phẩm hay dịch vụ.
Khách hàng bỏ ra ở đây không chỉ là giá cả mang tính tiền tệ mà còn bao gồm cả những chi phí cơ hội được gọi là giá cả hành vi: đó là thời gian, nỗ lực bỏ ra để có được sản phẩm hay dịch vụ. Bên cạnh giá cả tiền tệ và giá cả hành vi (phi tiền tệ) còn có chất lượng cảm nhận, danh tiếng và phản ứng cảm xúc cùng ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận của khách hàng. Qua các khái niệm trên, tác giả thấy rằng có rất nhiều khái niệm về giá trị cảm nhận của khách hàng. Nhưng các khái niệm đều có điểm chung đó là: Giá trị cảm nhận là một sự hoán đổi giữa những gì khách hàng nhận được (lợi ích) và những gì họ bỏ ra (sự hy sinh).
Giá trị cảm nhận luôn thay đổi, nó khác nhau giữa các khách hàng, văn hóa và thời gian. Các nghiên cứu về giá trị cảm nhận Sheth, Newman and Gross (1991) đề nghị năm yếu tố giá trị ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng là: Giá trị chức năng (functional value), Giá trị tri thức (epistemic value), Giá trị xã hội (social value), Giá trị cảm xúc (emotional value) và Giá trị hoàn cảnh (conditional value). - Giá trị chức năng: là những lợi ích bắt nguồn từ những thuộc tính nổi bật của sản phẩm/dịch vụ như chất lượng, độ bền, giá cả, hiệu suất… - Giá trị tri thức: là tính mới lạ, bất ngờ, khả năng khơi dậy sự hiếu kỳ, tò mò mà sản phẩm/dịch vụ mang lại. 123doc 9 - Giá trị xã hội: theo Sheth giá trị xã hội đóng vai trò quan trọng trong cảm nhận của khách hàng.
Sản phẩm/dịch vụ đó có thể làm tăng giá trị của khách hàng chẳng hạn làm gia tăng địa vị của họ. Giá trị xã hội thường thể hiện rõ đối với các sản phẩm/dịch vụ cao cấp có giá trị cao. Ví dụ: thời trang cao cấp, xe hơi… - Giá trị cảm xúc: là trạng thái cảm xúc, tình cảm vui, buồn khi mua sản phẩm/dịch vụ và cũng như những ấn tượng trong quá trình sử dụng sản phẩm/dịch vụ. - Giá trị hoàn cảnh: tính tiện ích hữu dụng của sản phẩm/dịch vụ phụ thuộc vào một tình huống hay điều kiện cụ thể nào đó.
Ví dụ sản phẩm chỉ có giá trị trong ngày lễ hội nhất định như các sản phẩm trang trí, hóa trang Halloween… Dựa theo nghiên cứu của Sheth, Newman và Gross (1991), Sweeney và Soutar (2001) đã xây dựng mô hình giá trị cảm nhận với bốn yếu tố tác động: Giá trị chất lượng, Giá trị tính theo giá cả, Giá trị xã hội và Giá trị cảm xúc. Đồng thời đề xuất thang đo giá trị cảm nhận của khách hàng cho các sản phẩm lâu bền gọi là PERVAL với 12 biến quan sát. Khác với (Sheth và cộng sự, 1991) trong nghiên cứu này Sweeney và Soutar đã không xem xét nhân tố giá trị tri thức và giá trị hoàn cảnh vì hai nhân tố này không được áp dụng (hoặc ít quan trọng) khi xem xét việc mua một hàng hóa lâu bền. Sweeney và Soutar đã phân chia giá trị chức năng thành giá trị chất lượng và giá cả, họ lập luận đó là hai yếu tố độc lập tác động lên giá trị cảm nhận vì vậy chúng nên được đo lường riêng biệt, có người tiêu dùng chỉ cảm nhận giá trị tính theo giá là giá cả thấp, có người tiêu dùng lại cảm nhận có sự cân bằng giữa giá trị chất lượng và giá cả.
Nghiên cứu của Petrick (2002) cũng đã xây dựng thang đo SER-PERVAL để đo lường giá trị cảm nhận. Nghiên cứu của ông dựa trên cơ sở nền tảng khái niệm giá trị cảm nhận được phát triển bởi nghiên cứu của Zeithaml. Mô hình giá trị cảm nhận theo Petrick gồm 5 yếu tố tác động: Chất lượng cảm nhận, Giá cả tiền tệ, Giá cả hành vi, Danh tiếng và Phản ứng cảm xúc. - Chất lượng cảm nhận: là đánh giá của người tiêu dùng về sự nổi trội, ưu việt về chất lượng của sản phẩm/dịch vụ.
123doc 10 - Giá cả tiền tệ: là giá cả của sản phẩm/dịch vụ mà khách hàng phải hy sinh bằng tiền để có được sản phẩm/dịch vụ đó. - Giá cả hành vi: là giá cả không tính bằng tiền (phi tiền tệ) bao gồm chi phí cơ hội như thời gian, công sức bỏ ra để tìm kiếm và sử dụng dịch vụ. - Danh tiếng: là sự uy tín của sản phẩm/dịch vụ được cảm nhận bởi người mua, dựa vào hình ảnh thương hiệu của nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ đó. - Phản ứng cảm xúc: là mô tả niềm vui thích mà sản phẩm/dịch vụ mang lại cho khách hàng.
Chất lượng cảm nhận Giá cả tiền tệ Giá trị hành vi Giá trị cảm nhận của khách hàng Danh tiếng Phản hồi cảm xúc Hình 2. Mô hình giá trị cảm nhận của khách hàng (Petrick, 2002) 2. Sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng khách hàng là một nội dung chủ yếu trong hoạt động kinh doanh. Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng với nhiều bài luận và công trình nghiên cứu khác nhau.
Từ đó cũng có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của khách hàng về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi (Parasuraman và ctg, 1988; Spreng và ctg, 1996). Nghĩa là, kinh nghiệm đã biết của khách hàng khi sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ và kết quả sau khi sản phẩm/dịch vụ được cung cấp. 123doc 11 Spreng, MacKenzie, và Olshavsky (1996) sự hài lòng của khách hàng được xem là nền tảng trong khái niệm của marketing về việc thỏa mãn nhu cầu và mong ước của khách hàng.
Theo Kotler và Keller (2006) sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả nhận được từ một sản phẩm/dịch vụ so với mong đợi của người đó. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau: - Nếu kết quả nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không hài lòng. - Nếu bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận hài lòng. - Nếu kết quả nhận được lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là hài lòng hoặc thích thú.
Theo định nghĩa của Giese và Cote (2000) khách hàng như là người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng. Nghiên cứu của họ đề nghị 3 thành phần tổng quát cấu tạo thành biến tiềm ẩn sự hài lòng của khách hàng: (1) Sự hài lòng của khách hàng là một đáp ứng cảm xúc tổng thể, đó là các biến đổi về cường độ cảm xúc, (2) Đáp ứng cảm xúc đó gắn liền với mục tiêu riêng biệt, đó là sự lựa chọn sản phẩm, mua hàng hoá hoặc tiêu dùng sản phẩm, (3) Đáp ứng cảm xúc chiếm dụng tại một thời điểm riêng biệt, đó là các biến đổi về trạng thái, nhưng có giới hạn chung trong khoảng thời gian mà sự việc tồn tại. ` Qua ý kiến của các chuyên gia, có thể nhận thấy sự hài lòng khách hàng có vai trò tác động đối với mục tiêu, chiến lược phát triển của tổ chức, doanh nghiệp. Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng trong nỗ lực nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp.
Khách hàng được hài lòng là một yếu tố quan trọng để duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thu hút và duy trì khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng là đánh giá phản hồi của khách hàng sau khi tiêu dùng một sản phẩm/dịch vụ.