Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng và đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khuyến nghị và giải pháp quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI tại Thành phố Hồ Chí Minh. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Điểm luận các công trình nghiên cứu về quản lý thuế nói chung Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy, không nhiều nghiên cứu về đánh giá quản lý thuế (QLT) nói chung.
Các nghiên cứu tập trung vào các nội dung chính của QLT và đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện cải cách QLT. Nghiên cứu của Ott (1998) với trường hợp Croatia cho rằng tiêu chuẩn hiệu quả là quan trọng của QLT [97]. Tác giả cho rằng một sự hiệu quả trong QLT phải được tạo ra trên cơ sở thiết lập cơ cấu quản lý hợp lý, phù hợp với chức năng và nguồn nhân lực của cơ quan thuế. Hiệu quả được coi là thước đo quan trọng của cải cách QLT.
Zhiyoung và Brondolo phân tích cải cách hiệu quả QLT của Cơ quan thuế nhà nước Trung Quốc (SAT) [116]. Trong 20 năm qua, SAT đã thực hiện cải cách và phát triển các bộ phận chuyên trách để thực hiện những mục tiêu ưu tiên trong QLT. Năm 2008, Cục hỗ trợ người nộp thuế và Cục doanh nghiệp lớn được thành lập nhằm cải thiện các chương trình hỗ trợ người nộp thuế (NNT) và tăng cường sự quản lý của nhóm DN lớn, DN vừa và DN nhỏ, siêu nhỏ, các cá nhân có tài sản lớn. Nghiên cứu cũng chỉ ra chức năng, trách nhiệm quản lý ngày càng được chuyên môn hóa giữa các bộ phận của SAT.
Đặc biệt, việc xây dựng chiến lược hiện đại hóa của SAT tạo ra cả cơ hội và nhu cầu cho SAT thường xuyên xem xét, cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, nhằm đạt được sự gắn kết và vận hành hiệu quả hơn. Nghiên cứu của Apollo đánh giá hiệu quả QLT của cơ quan QLT Uganda bằng cách khảo sát 191 các cơ quan QLT [59]. Kết quả kiểm định cho thấy hiệu quả QLT ở địa phương chỉ ở mức trung bình. Điều này có mối quan hệ chặt chẽ với mức độ tuân thủ thuế chưa tốt của NNT.
Luận án ―Quản lý thuế nhằm thúc đẩy tuân thủ thuế của doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Bùi Thị Thu Thảo [39]. Đây là nghiên cứu về thực trạng QLT tại TP.HCM; Cơ sở lý luận của tác giả dựa trên các mô hình tuân 8 thủ thuế, phù hợp với mục tiêu đánh giá thực nghiệm tác động của QLT đến tuân thủ thuế hơn là mục tiêu đánh giá hiệu quả QLT. Có thể nói, QLT hiệu quả là một nhiệm vụ đầy thách thức đối với CQT các cấp, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Thông qua lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy được những vấn đề trong thực trạng QLT nói chung.
Trong đó, các đối tượng DN khác nhau có những đặc trưng khác nhau, tạo ra những thách thức cho công tác QLT.2 Điểm luận các công trình nghiên cứu quản lý thuế đối với doanh nghiệp FDI. Điểm luận các nghiên cứu trước cho thấy, mối quan hệ giữa FDI và QLT hay QLT đối với DN FDI nói riêng được phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Các hướng nghiên cứu chính có thể được khái quát theo những nhóm chính dưới đây: (1) Nghiên cứu tập trung phân tích các chiến lƣợc tránh thuế của các DN FDI cũng nhƣ các thách thức trong công tác QLT đối với DN FDI. Nghiên cứu của Krautheim & Schmidt phân tích các chiến lược tránh thuế tinh vi của các MNEs thông qua việc thành lập các DN FDI tại các quốc gia đang phát triển [75].
Trong đó, lợi nhuận của các MNEs được dịch chuyển thông qua các trung gian tài chính đến các quốc gia có thuế suất thấp hoặc thiên đường thuế nhằm tránh các nghĩa vụ thuế phát sinh. Nghiên cứu đánh giá hoạt động liên kết của các DN FDI, từ đó, khuyến nghị các quốc gia thiết lập cách thức QLT phù hợp, đặc biệt là trên phương diện đa quốc gia. Báo cáo ―Action Plan on Base Erosion and Profit Shifting‖ của OECD (2013) [93] nhấn mạnh sự nghiêm trọng của các chiến lược chuyển lợi nhuận của các MNEs đến cơ sở thuế của các quốc gia (Base Erosion and Profit Shifting – BEPS) và kêu gọi của việc sự hợp tác về thuế giữa các quốc gia nhằm chống lại các chiến lược tránh thuế này. Qua đó, OECD 2013 đề xuất bộ 15 hành động chống xói mòn thuế và chuyển lợi nhuận (15 Actions Anti-BEPS).
Những bộ hành động này bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau từ cơ chế hợp tác, kiểm soát lãi vay, tài sản vô hình đến các thỏa thuận về thuế nhằm chống lại hiện tượng xói mòn cơ sở thuế do các chiến lược tránh thuế của các MNEs gây ra. Việc các quốc gia cùng đồng thuận 9 hợp tác, thực hiện đồng bộ các hành động trên sẽ giúp hạn chế BEPS hiệu quả, đảm bảo nguồn thu và cơ sở tính thuế của mỗi quốc gia. Báo cáo ―Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprises and Tax Administration‖ của OECD trình bày những nguyên tắc chính yếu nhằm xác định các bên có mối quan hệ liên kết, bản chất của GDLK cũng như đưa ra các chỉ dẫn để xác định giá trị thị trường (giá trị độc lập) của các giao dịch liên kết mà MNEs thực hiện, từ đó, xác định đúng nghĩa vụ thuế [94]. Bên cạnh đó, báo cáo không chỉ mô tả các cách thức xác định giá trị thị trường mà còn chỉ dẫn cách thức xử lý để hạn chế tranh chấp và giải quyết tranh chấp về thuế như thế nào trong những trường hợp cụ thể.
Nghiên cứu của Klassen & cộng sự (2017)khảo sát các chuyên viên hoạch định thuế của 219 MNEs về các chiến lược tránh thuế [75]. Nghiên cứu cho thấy bằng chứng về việc các MNEs sử dụng các chiến lược chuyển giá để giảm gánh nặng thuế. Kết quả khảo sát cho thấy sự đa dạng cũng như sự phức tạp của chiến lược tránh thuế tinh vi này trong thực tiễn và nêu lên những thách thức đối với công tác QLT tại các quốc gia. (2) Các nghiên cứu khác tập trung đánh giá ảnh hƣởng của các chiến lƣợc tránh thuế tinh vi của DN FDI đến tổn thất thuế của các quốc gia.
Nghiên cứu của Bolwijn & cộng sự (2018) khám phá mối quan hệ giữa dòng vốn FDI vào và các chiến lược chuyển lợi nhuận của các DN FDI [64]. Nghiên cứu chú trọng phân tích vai trò của các trung gian tài chính như một chủ thể quan trọng trong các kế hoạch tránh thuế của các DN FDI. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chiến lược tránh thuế được thực hiện bởi các DN FDI là nguyên nhân dẫn đến việc rò rỉ đáng kể các nguồn thu từ thuế trên phạm vi toàn cầu. Kết quả mô phỏng cho thấy các chiến lược tránh thuế của các DN FDI đã làm tổn thất khoảng 90 tỷ USD số thu thuế toàn cầu năm 2012.Về mặt chính sách, nghiên cứu kêu gọi sự hợp tác và hiệp lực của các quốc gia trong việc thiết lập các chính sách thuế và cải tiến cách thức QLT hiệu quả hơn đối với đối tượng DN này.
Trong khi đó, sử dụng phương pháp được phát triển bởi Crivelli & cộng sự (2015) [68], Cobham & Janský (2018) ước tính về thiệt hại số thu thuế toàn cầu do 10 các chiến lược tránh thuế của MNEs gây ra vào khoảng 500 tỷ USD hàng năm và chỉ ra rằng mức độ thiệt hại lớn nhất xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp. Về mặt địa lý, tổn thất thuế do các chiến lược này đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia châu Phi cận Sahara, Mỹ La tin và Nam Á [67]. Ở phạm vi hẹp hơn, nghiên cứu của T. Các quốc gia Đông Nam Á đang ngày càng hội nhập, hợp tác với nhau nhiều hơn trên nhiều khía cạnh mà bước ngoặt là việc thành lập cộng đồng kinh tế chung ASEAN – AEC.
Tuy nhiên, ở góc độ thuế, các quốc gia thành viên lại đang duy trì các chính sách thuế khác biệt, các hiệp định về thuế còn hạn chế và lạc hậu [111]. Theo đó, các chiến lược tránh thuế tinh vi của MNEs khai thác những khác biệt này và những điểm chưa phù hợp trong luật thuế của các quốc gia Đông Nam Á để giảm thiểu gánh nặng thuế của mình, qua đó, làm thất thu NSNN tại các quốc gia này. Kết quả mô phỏng của nghiên cứu ước tính các chiến lược tránh thuế của MNEs làm tổn thất khoảng 19 tỷ USD số thu thuế của các quốc gia Đông Nam Á năm 2017. (3) Các nghiên cứu về khám phá các yếu tố ảnh hƣởng hiệu quả QLT Một số nghiên cứu của Benk & cộng sự (2016) và Stephen & cộng sự (2017) đã chỉ ra các thách thức cản trở hiệu quả QLT [62] [107], bao gồm: CQT không có các nỗ lực ưu tiên, hiệu quả quản trị kém, xác định sai thu nhập hoặc cho phép khấu trừ từ thu nhập chịu thuế…Tương tự, Thanh, S.
D và cộng sự (2014 đã chứng minh rằng một hệ thống thuế với nhiều sắc thuế chồng chéo nhau sẽ dẫn đến QLT kém hiệu quả [111]. Trong khi đó, Nzotta (2007) nhận định sự kém hiệu quả của QLT tại các quốc gia Châu Phi xảy ra khi có sự tham nhũng ở các quan chức chính phủ cấp cao và sự thiếu minh bạch tài chính [90]. Theo tác giả, điều này xuất phát từ sự thiếu các biện pháp trừng phạt mạnh mẽ đủ để răn đe những người phạm tội và thiếu nhận thức hoặc thiếu hiểu biết về luật thuế. Một số nghiên cứu khác ở các quốc gia Châu Phi còn chỉ ra rằng chính phủ ở nhiều quốc gia bị coi là tham nhũng.
NNT nghi ngờ rằng tiền thuế không được sử dụng để cung cấp các tiện ích công cộng [106]. Điều này gây ra sự mất niềm tin vào hệ thống thuế của NNT. 11 Nghiên cứu về cải cách thuế ở Hàn Quốc, Choi nhận định kiểm toán thuế nội bộ, cơ chế giám sát mạnh mẽ và năng lực của cán bộ thuế, là yếu tố chính tác động tích cực đến doanh thu thuế cũng như hiệu quả QLT [66]. QLT hiệu quả đòi hỏi phải cải cách chính sách thuế và mô hình QLT, xây dựng quy trình QLT hiện đại bằng cách trao thêm quyền cho cán bộ thuế trong việc xử lý các vấn đề về thuế.