Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng - Tác giả Quách Ngọc Dũng

Dưới đây là kết quả tạo meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Tìm hiểu phương pháp quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng Đồng bằng sông

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ quản lý công

2018

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng

Vùng đồng bằng sông Hồng tập trung nhiều di tích quốc gia đặc biệt với giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc tiêu biểu. Quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt bao gồm việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách pháp luật cùng tổ chức bộ máy thực thi. Mục tiêu cốt lõi là bảo tồn lâu dài các yếu tố gốc cấu thành giá trị di tích đồng thời phát huy giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước gồm thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa truyền thống và trình độ dân trí. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 đã khẳng định quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trong thời kỳ đổi mới. Công tác quản lý đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.

1.1. Khái niệm di tích quốc gia đặc biệt và vùng đồng bằng sông Hồng

Di tích quốc gia đặc biệt là di tích được xếp hạng cao nhất trong hệ thống di tích Việt Nam, có giá trị đặc biệt tiêu biểu cấp quốc gia về lịch sử, khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật. Vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh, thành phố với diện tích tự nhiên khoảng 21.256 km². Đây là vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, nơi phát tích của nền văn minh lúa nước và nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên. Số lượng di tích quốc gia đặc biệt tại vùng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số di tích cấp quốc gia đặc biệt toàn quốc.

1.2. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt

Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt dựa trên nhiều nền tảng lý luận. Về mặt chính trị, quản lý nhà nước phải phù hợp với đường lối chủ trương của Đảng và pháp luật nhà nước. Về mặt kinh tế, quản lý phải dựa trên nguồn lực kinh tế đảm bảo thực hiện các chính sách hữu hiệu. Về mặt văn hóa, cần kế thừa truyền thống và tập quán tốt đẹp của dân tộc. Các yếu tố này tác động qua lại, tạo thành hệ thống hoàn chỉnh cho công tác quản lý di tích quốc gia đặc biệt.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng

Thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng cho thấy nhiều kết quả đạt được song vẫn tồn tại hạn chế. Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch đã được quan tâm triển khai tại các địa phương. Hệ thống văn bản pháp luật từ trung ương đến địa phương từng bước được hoàn thiện. Tổ chức bộ máy quản lý được kiện toàn với sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên môn. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho bảo tồn và phát huy giá trị di tích còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ chuyên trách thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên và thiếu hiệu lực. Tình trạng xâm phạm di tích, xây dựng trái phép trong khu vực bảo vệ di tích vẫn xảy ra tại nhiều địa phương.

2.1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về di tích

Nhiều địa phương vùng đồng bằng sông Hồng đã ban hành quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa được xây dựng từ Luật Di sản văn hóa năm 2001 đến các nghị định, thông tư hướng dẫn. Công tác lập hồ sơ di tích quốc gia đặc biệt được đẩy mạnh với nhiều hồ sơ đạt tiêu chuẩn UNESCO. Nguồn lực xã hội hóa trong bảo tồn di tích được huy động bước đầu đạt kết quả tích cực.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước về di tích

Các hạn chế chủ yếu gồm thiếu nguồn kinh phí bảo tồn, trùng tu; thiếu nhân lực chuyên môn; sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa chặt chẽ. Nguyên nhân do cơ chế phân cấp quản lý chưa rõ ràng, thiếu quy chuẩn kỹ thuật bảo tồn di tích, nhận thức của một bộ phận người dân và chính quyền địa phương chưa đầy đủ.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng cần triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia. Thứ hai, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên gia đủ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ phục vụ công tác bảo tồn quốc tế. Thứ ba, quy định quy chuẩn kỹ thuật bảo tồn di tích đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Thứ tư, huy động nguồn lực xã hội hóa đa dạng từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực di sản văn hóa. Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức cho thấy vai trò chủ đạo của nhà nước kết hợp với giáo dục cộng đồng là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Hoàn thiện thể chế chính sách và tổ chức bộ máy quản lý

Cần đánh giá lại toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa để điều chỉnh phù hợp. Xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo tồn di tích theo thông lệ quốc tế. Nâng cấp tổ chức bộ máy quản lý di tích tại địa phương với biên chế đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trong quản lý và bảo vệ di tích quốc gia đặc biệt.

3.2. Huy động nguồn lực và phát huy vai trò cộng đồng

Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Xây dựng cơ chế khuyến khích xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Giáo dục cộng đồng nhận thức về giá trị di sản văn hóa và trách nhiệm bảo vệ. Học tập kinh nghiệm Nhật Bản về vai trò chủ đạo của nhà nước và Hàn Quốc về huy động toàn xã hội tham gia bảo vệ di sản.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về di tích

Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước. Thực trạng quản lý tại vùng đồng bằng sông Hồng đạt được kết quả bước đầu song còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính toàn diện, từ hoàn thiện thể chế đến huy động nguồn lực và phát huy vai trò cộng đồng. Kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức cung cấp bài học giá trị áp dụng tại Việt Nam. Ứng dụng thực tiễn của luận án giúp các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị di tích hiệu quả hơn.

4.1. Đóng góp lý luận của luận án tiến sĩ về quản lý di tích

Luận án đã làm rõ khái niệm, bản chất và nội dung quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt. Hệ thống hóa các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước trên bốn chiều: chính trị, kinh tế, văn hóa và trình độ dân trí. Xây dựng khung phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng. So sánh kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học áp dụng cho Việt Nam.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng phát triển đề tài nghiên cứu

Kết quả luận án được áp dụng cho công tác quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt tại các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng. Hệ thống giải pháp đề xuất hỗ trợ cơ quan quản lý xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Hướng phát triển đề tài bao gồm nghiên cứu chuyên sâu mô hình quản lý di tích theo từng loại hình và ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn di sản văn hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông hồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích quốc gia đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nhóm công trình nghiên cứu về di sản văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt Nghiên cứu về di sản văn hoá, di tích QGĐB được rất nhiều các nhà nghiên cứu thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau tiếp cận. Có thể kể đến một số công trình khoa học tiêu biểu như: - Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm 2008: “Di sản văn hóa truyền thống với vấn đề phát triển du lịch (trên cơ sở khảo sát địa bàn tỉnh Hưng Yên)” của tác giả Lê Hồng Hạnh [34], đã đưa ra vấn đề nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ di sản văn hóa và hoạt động khai thác phục vụ du lịch; đề cập giải pháp phân cấp quản lý để khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường văn hóa trong quá trình phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong đó có các công trình di tích quốc gia trên địa bàn.

Những phân tích của tác giả cung cấp những luận cứ cho luận án khi nghiên cứu đánh giá thực trạng di tích QGĐB ở vùng ĐBSH cũng như thực trạng QLNN về di tích QGĐB vùng ĐBSH. - Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm 2015:“Quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá” của tác giả Trần Đức Nguyên [72], đã đề cập phân tích thực trạng hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa, những tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đối với các di tích và hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hoá ở Bắc Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh nói chung và các di tích QGĐB trong giai đoạn hiện nay. 10 - Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa năm 2015: “Quản lý Di sản thế giới ở Việt Nam qua trường hợp cố đô Huế và đô thị cổ Hội An” của tác giả Trịnh Ngọc Chung [16] đã đề cập, đánh giá thực trạng việc QLNN cụ thể tại Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế và Trung tâm quản lý, bảo tồn di sản văn hoá Hội An; nghiên cứu mô hình quản lý di sản thế giới ở Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất mô hình và giải pháp quản lý di sản thế giới ở Việt Nam. Đây là những di tích QGĐB ở khu vực miền Trung.

Những phân tích của tác giả có thể giúp luận án so sánh đối chiếu với di tích QGDB ở vùng ĐBSH. - Luận án tiến sĩ kinh tế năm 2013:“Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử văn hoá quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững” của tác giả Nguyễn Văn Đức [30], đã đề cập nghiên cứu 03 di tích QGĐB ở Hà Nội gồm Văn Miếu Quốc Tử Giám, Đền Ngọc Sơn và di tích Cổ Loa, đã phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức các hoạt động du lịch tại di tích, đề xuất giải pháp phát triển du lịch bền vững. Đây cũng là một hướng nghiên cứu để luận án tham khảo. Bởi mục đích của QLNN đối với di tích QGDB là phải hướng tới bảo tồn, bảo tàng và phát triển bền vững.

- Bài viết của tác giả Nguyễn Thế Hùng: “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước [55], đề cập khái quát hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam, nhận định rằng số lượng di tích của cả nước rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt là nguồn tài nguyên vô giá của đất nước. Nội dung bài viết nêu thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh còn bộc lộ những thiếu sót cơ bản, lúng túng trong việc xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển; chưa nhận thức thật sâu sắc vị trí, vai trò của di tích trong quá trình đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; có nơi, có lúc vẫn tồn tại xu thế thương mại hóa di tích, đặt các mục tiêu, dự án phát triển kinh tế cao hơn các mục tiêu về bảo vệ di tích, thậm chí có 11 những dự án về phát triển kinh tế được triển khai tại khu vực di tích nhưng dự án không hề đề xuất bất cứ biện pháp nào để bảo tồn di tích. Cơ sở hạ tầng tại các di tích còn nhiều yếu kém đồng thời tác giả đã đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Bài viết góp phần giúp luận án tham chiếu, so sánh khi đánh giá thực trạng di tích QGDB ở vùng ĐBSH hiện nay.

- Bài viết của tác giả Phạm Mai Hùng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc” [45], nhân kỷ niệm lần thứ 70 ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 ngày 23/11/1945 - Sắc lệnh đầu tiên đặt nền móng pháp lý cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, tác giả đã phân tích, đánh giá về hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, xây dựng bảo tàng ở Việt Nam và việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa. - Bài viết:“Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá”, của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam) [54], đề cập đến việc bảo vệ các di tích của cộng đồng dân cư ở các địa phương, đánh giá vai trò to lớn của cộng đồng đã góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhà nước cần có chính sách phù hợp hỗ trợ, hướng dẫn nhằm huy động sức mạnh của cộng đồng để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta ngày một tốt hơn. Bài viết cùng tác giả: “Một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá và thiên nhiên”, Tạp chí Di sản văn hoá số 3 (44), 2013, đề cập nội dung Công ước liên quan trực tiếp đến bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên mà nước ta đã phê chuẩn hoặc tham gia.

Đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên qua nghiên cứu một số hoạt động của UNESCO và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á và châu Âu về bảo vệ di sản văn hóa, cần phải có những công cụ pháp lý hữu hiệu như là Công ước quốc tế. 12 - Bài viết của tác giả Nguyễn Viết Cường: “Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay”, [21], đề cập thực tế bảo tồn di tích hiện nay, đáng chú ý trong bài viết đưa ra đề xuất cần thiết phải có quy định cụ thể cho một tổ chức mang chức năng bảo trợ di tích để đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hiện nay. Bài viết cùng tác giả: “Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định quốc tế trong thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở nước ta”, Tạp chí Di sản văn hoá số 1 (46), 2014, [22] đề cập mô hình quản lý các di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới của UNESCO với đầy đủ các cơ quan, bộ phận chức năng có vai trò, vị trí và nhiệm vụ được xác định cụ thể trong quy chế hoạt động của các cơ quan đó để bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản ở các quốc gia thành viên trên toàn thế giới. Các tổ chức xã hội nghề nghiệp có khả năng huy động các nguồn lực xã hội, tư vấn, hỗ trợ cho Nhà nước và cộng đồng trong việc bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên, tư vấn về những vấn đề liên quan tới di sản văn hóa và thiên nhiên.

Thực tiễn bảo tồn các di sản văn hóa và thiên nhiên trong thời gian qua ở Việt Nam cho thấy nghiên cứu các vấn đề thuộc Công ước quốc tế đang ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. - Bài viết: “Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích tại cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Tạp chí Di sản văn hoá số 1 (2015) của tác giả Nguyễn Văn Phong [74], đề cập công tác quy hoạch chi tiết di tích QGĐB, một số di tích quốc gia tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, việc quản lý, bảo vệ di tích cần thiết có sự tham gia tích cực của các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức chính trị xã hội đồng thời nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh. - Bài viết của tác giả Phạm Thị Khánh Ngân: “Xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong ngành di sản văn hoá - thực trạng và một số giải pháp”, [69] đề cập thực tế hiện nay, chưa có những quy chuẩn kỹ thuật mang tính quốc gia đối với lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dẫn đến việc không thống nhất khi thực thi các hoạt động tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát 13 huy giá trị di tích. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành di sản văn hoá với chính quyền các cấp chưa tích cực và kịp thời.

Để có cơ sở và hành lang pháp lý giúp cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có hiệu quả, cần phải xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa càng trở nên cấp thiết trong thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước hiện nay. - Bài viết của tác giả PGS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ