Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến công nghiệp công nghệ thông tin 1.Các công trình nghiên cứu trong nước - TS. Trần Quý Nam (2012), Nghiên cứu, đề xuất mục tiêu, nội dung thực hiện và các giải pháp phát triển công nghiệp CNTT tại một số địa phương, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Thông tin và Truyền thông. Đề tài này nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách phát triển CNCNTT, vẽ được bức tranh tổng thể phát triển CNCNTT tại các địa phương Việt Nam, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá lựa chọn một số địa phương tiềm năng, và đề xuất một số giải pháp phát triển cho địa phương.
Tuy nhiên, việc đánh giá nguồn nhân lực CNTT dựa trên số lượng học sinh phổ thông không phù hợp, các giải pháp còn chung chung thiếu thuyết phục. - Nguyễn Anh Tuấn (2011), Nghiên cứu nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp CNTT Việt Nam giai đoạn 2011-2015, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Thông tin và Truyền thông. Đề tài này xác định quan điểm DN đóng vai trò chủ lực trong phát triển CNCNTT, Nhà nước tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ thông qua cơ chế, chính sách. Đầu tư phải kết hợp nguồn lực trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển phần mềm.
Đối với công nghiệp phần cứng ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, các nội dung nghiên cứu chưa sâu, chung chung và số liệu nghiên cứu lạc hậu. Bài báo nghiên cứu trường hợp điển hình của FPT Software trong việc triển khai áp dụng chuẩn CMMi (mô hình trưởng thành năng lực tích hợp), từ đó rút kinh nghiệm để các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam học hỏi khi triển khai áp dụng CMMi nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Tác giả đã đúc rút ra 8 thực tiễn hữu ích là: (i) cam kết của lãnh đạo; (ii) chuẩn bị nguồn vốn; (iii) phát triển nhân lực; (iv) ngoại ngữ; (v) quản lý và tổ chức cấu trúc dự án; (vi) biến chỉ tiêu chất lượng thành văn hóa; (vii) xây dựng công cụ; (viii) tư vấn chuyên nghiệp.
Nguyễn Trọng (2009), Toàn cảnh thị trường CNTT quốc tế và suy nghĩ về chỗ đứng của công nghiệp phần mềm Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước, Báo cáo Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam 2009, Hà Nội. Báo cáo cung cấp bức tranh toàn cảnh về thị trường CNTT gồm cả công nghiệp bán dẫn, công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm và dịch vụ để rút ra nhận định cho tương lai. Tác giả khẳng định vị thế chiến lược của công nghiệp phần mềm, có khả năng đưa đất nước phát triển nhanh, phát huy lợi thế tương đối của Việt Nam. Bài báo chứng minh rằng khả năng để Việt Nam có mặt trong các quốc gia hàng đầu về công nghiệp phần mềm và dịch vụ vào khoảng 2025 là hiện thực.
Nguyễn Quang Hưng (2015), Sự phát triển của ngành CNTT&TT, Tạp chí CNTT và Truyền thông, 6(2015):54-56. Bài báo đề cập xu hướng chính trong lĩnh vực CNTT và Truyền thông đó là các thiết bị có xu hướng di động, nhỏ và đa năng hơn, mỗi vòng đời của công nghệ tính toàn mới có năng lực gấp 10 lần công nghệ cũ; xu hướng của Internet của vạn vật (IoT); và xu hướng phát triển của không gian dữ liệu lớn, khoảng 44 nghìn tỷ Gbyte vào năm 2020. Đối với CNCNTT thì xu hướng công nghệ thay đổi nhanh sẽ tác động rất lớn đến hoạt động QLNN đối với ngành này. Bài báo 10 chỉ ra quy trình phát triển của các doanh nghiệp ICT gắn liền với các giải pháp công nghệ, xây dựng danh mục bằng sáng chế.
Đối với các soanh nghiệp CNTT Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, cần chú trọng đầu tư R&D để có thể phát triển bền vững, phát triển nhân lực chất lượng cao. Bài báo cung cấp các số liệu cụ thể về sản phẩm, doanh nghiệp, doanh thu, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam thực hiện các quyết tâm của Chính phủ, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Các số liệu này sẽ là tài liệu tham khảo để phân tích, đánh giá đúng hiện trạng ngành công nghiệp phần mềm, từ đó các hoạt động QLNN sẽ hiệu quả hơn. - Phạm Ngọc Dương (2013), Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty CMCSOFT giai đoạn 2013-2015, Luận văn Thạc sĩ Học viện công nghệ bưu chính viễn thông.
Luận văn này nghiên cứu cơ sở lý luận chiến lược sản phẩm, phân tích thực trạng để đề xuất giải pháp sản phẩm phần mềm cho CMCSoft. Giải pháp đề xuất là tập trung tăng cường R&D, ưu đãi thu hút nhân tài, tăng cường kiểm soát chất lương nội bộ, truyền thông nội bộ, gắn kết chặt chẽ giữa marketing và sản phẩm và hỗ trợ khách hàng.Các công trình nghiên cứu trên thế giới - H. Baetjer (1997), Software as capital: An economic perspective on software engineering, IEEE Computer Society Press Los Alamitos, USA. Sách này tập trung nghiên cứu các điểm trọng yếu của ngành công nghiệp phần mềm so với các ngành công nghiệp khác.
Đó chính là thiếu nguồn nhân lực phần mềm chất lượng cao vì giá trị gia tăng rất cao của ngành nằm ở con người, không phải máy móc, tài nguyên. Tác giả đã phân tích, tìm nguyên nhân tại sao nhân lực phần mềm chất lượng cao chưa đáp ứng cả về số lượng và chất lượng; đề xuất các giải pháp khái quát, chỉ ra lợi ích to lớn đạt được 11 khi tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp này. Bài báo giới thiệu “Mô hình bầu dục” bao gồm 8 yếu tố làm cho công nghiệp phần mềm thành công trong xuất khẩu. Đó là: (1) chính sách của chính phủ, thể hiện vai trò quan trọng của Quản lý nhà nước, điều tiết, định hướng, trợ giúp sự phát triển công nghiệp phần mềm; (2) nhân lực, đây là yếu tố trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng của ngành công nghiệp tri thức, ít tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên này; (3) lương bổng, nhân lực là quan trong nhưng để thu hút, giữ chân các chuyên gia giỏi cần có chế độ lương thưởng xứng đáng, do đó đây cũng là yếu tố cần được quan tâm đúng mức; (4) Chất lượng cuộc sống, yếu tố này là đáng chú ý vì khi đời sống vật chất được nâng cao thì người lao động cần được thỏa mãn nhiều hơn về tinh thần, đặc biệt là nhân lực phần mềm phải làm việc nhiều giờ trong nhà, trước máy tính; (5) Kết nối, trong xuất khẩu yếu tố này đặc biệt quan trọng tạo sự giao thương giữa con người, doanh nghiệp với nhau và cả tính tương thích của sản phẩm với nhau; (6) hạ tầng kỹ thuật, chính là công cụ không thể thiếu để sản xuất, gia công phần mềm tạo nên sự kết nối, hỗ trợ kết nối; (7) Vốn đầu tư, yếu tố về vốn có vai trò đảm bảo sự vận hành cho toàn bộ hệ thống sản xuất, hoạt động xuất khẩu phần mềm; (8) đặc tính công nghiệp, là yếu tố cuối cùng khẳng định quy mô, tính chuyên nghiệp trong hoạt động sản xuẩt, tạo ra thương hiệu, sự tin tưởng của khách hàng.
Mô hình trong bài báo là thông tin tham khảo rất tốt giúp công tác quản lý nhà nước về CNCNTT sát thực tế, khả thi và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp (xem hình 1. “Mô hình bầu dục” mô tả các yếu tố tạo nên sự thành công trong xuất khẩu phần mềm của quốc gia (Nguồn: Eran Carmel [33, tr3]) - Gezinus J. Bài báo nghiên cứu, phân tích và chứng minh rằng, trong ngành CNCNTT, doanh nghiệp tiên phong trong đổi mới không phải là các doanh nghiệp dẫn đầu mà lại là các doanh nghiệp tốp sau. Do đó, khi muốn cải tiến, đổi mới cần tập trung vào các doanh nghiệp tốp sau trước, họ có quyết tâm cao hơn các doanh nghiệp tốp đầu.
Bên cạnh đó, tác giả bài báo không cho rằng các nguồn lực bổ trợ có vai trò đáng kể để 01 doanh nghiệp mới có thể chiếm lĩnh quyền lãnh đạo thị trường, việc đó còn phụ thuộc và quyết tâm đổi mới, sáng tạo, tạo ra sự khác biệt của doanh nghiệp. 13 - LYY Lu, C Yang (2004), “The R&D and marketing cooperation across new product development stages: An empirical study of Taiwan’s IT industry”, Industrial marketing management, 33 (7): 593-605. Bài báo này nghiên cứu quá trình phát triển các sản phẩm mới trong bối cảnh mới (CNCNTT tại Đài Loan) và kiểu sản xuất mới (thiết kế chế tạo theo đơn đặt hàng – OEM/ODM). Kinh nghiệm thành công của CNCNTT Đài Loan rất có giá trị cho các nước đang phát triển và bắt đầu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển đổi sang mô hình sản xuất công nghệ cao có giá trị gia tăng cao.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng càng nhận thức được tầm quan trọng trong sự gắn kết giữa nghiên cứu phát triển (R&D) và tiếp thị (marketing) thì mức độ gắn kết đạt được càng cao, do đó tạo ra sản phẩm mới tốt hơn. Tuy nhiên, khái niệm CNCNTT trong bài báo này chỉ giới hạn trong phạm vi sản xuất các sản phẩm phần cứng điện tử. - Imbs, Uean and Romain Wacziarg (2003), “Stages of Diversification”, American Economic Review, 93(1): 63-86. Tác giả bài báo cho rằng có một mối liên hệ hình chữ U ngược giữa mức độ tập trung các ngành công nghiệp (gồm cả CNCNTT) và thu nhập quốc gia gia theo đường Kuznet (hay còn gọi là Parabol lồi, xem Hình 1.
Theo đó, các nước nghèo chỉ sản xuất một vài loại sản phẩm trong khi các nước giàu hơn sản xuất nhiều loại sản phẩm hơn. Khi các nước nghèo giàu lên, nền công nghiệp của họ trở nên ít tập trung hơn và bắt đầu đa dạng hóa sang nhiều loại sản phẩm. Quá trình tiếp diễn cho đến khi các quốc gia đạt mức bình quân đầu người khoảng 9.637 USD thì các nước lại bắt đầu tập trung chuyên môn hóa cao hơn. Nghiên cứu cho thấy phát triển công nghiệp không chỉ là sự chuyển đổi cơ cấu mà còn là một quá trình đa dạng hóa giữa các hoạt động khác nhau, việc đầu tiên phải làm không phải là tập trung vào làm một việc tốt mà phải học cách làm nhiều việc khác nữa.
14 Mức độ tập trung các ngành công Đường nghiệp cong U ngược Thu nhập quốc gia Hình 1.