Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp Vùng Duyên hải Bắc Bộ theo hướng CNH-HĐH - Phạm Ngọc Quỳnh

Dưới đây là meta tags cho bài viết 'Quản lý nhà nước kinh tế nông nghiệp Vùng Duyên hải Bắc Bộ hướng CNH-HĐH': { "ai_description": "Tìm hiểu về quản lý nhà

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

246
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước kinh tế nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ

Vùng duyên hải Bắc Bộ bao gồm các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và một số địa phương lân cận. Đây là vùng có truyền thống nông nghiệp lâu đời với nhiều sản phẩm chủ lực như lúa nước, thủy sản, chăn nuôi. Quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đòi hỏi sự đồng bộ giữa chính sách phát triển, quy hoạch sử dụng đất đai, đầu tư hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng phát triển thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế khuyến khích và giám sát thực hiện. Quá trình CNH-HĐH nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ hướng tới chuyển đổi mô hình sản xuất từ nhỏ lẻ sang tập trung, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu tổng thể công tác quản lý nhà nước là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp phù hợp.

1.1. Vị trí địa lý và tiềm năng nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ

Vùng duyên hải Bắc Bộ nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp Vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài hơn 400km. Địa hình chủ yếu là đồng bằng châu thổ, đất đai màu mỡ phù hợp phát triển lúa nước và cây trồng nhiệt đới. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa phân bổ không đều tạo điều kiện cho đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp. Tài nguyên nước từ hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình cung cấp nguồn nước tưới dồi dào. Ngoài ra, vùng có lợi thế lớn về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, đặc biệt tại các tỉnh ven biển. Đây là nền tảng vững chắc để triển khai các chính sách CNH-HĐH nông nghiệp.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp

Quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp là tổng thể các hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh, định hướng và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp. Bao gồm ban hành thể chế chính sách, quy hoạch kế hoạch, tổ chức thực hiện và thanh tra giám sát. Lý thuyết quản lý công hiện đại nhấn mạnh vai trò kiến tạo của nhà nước, tức là tạo môi trường pháp lý minh bạch, khuyến khích đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền lợi người sản xuất. Trong bối cảnh CNH-HĐH, quản lý nhà nước cần tập trung vào chuyển giao công nghệ, phát triển chuỗi giá trị và hội nhập quốc tế.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước kinh tế nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ

Thực tế triển khai cho thấy công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao từng bước hoàn thiện. Đầu tư hạ tầng thủy lợi, giao thông nông thôn được tăng cường. Nhiều mô hình sản xuất tập trung, liên kết chuỗi giá trị hình thành tại Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục. Thứ nhất, quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thiếu tính tổng thể, chồng chéo giữa các ngành. Thứ hai, nguồn lực đầu tư phân tán, hiệu quả sử dụng thấp. Thứ ba, trình độ lao động nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH. Thứ tư, cơ chế liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và nhà nước còn lỏng lẻo. Các vấn đề trên làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp vùng.

2.1. Kết quả đạt được trong quản lý phát triển nông nghiệp

Giai đoạn 2010-2018, vùng duyên hải Bắc Bộ ghi nhận tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân đạt 3-4% mỗi năm. Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới được đưa vào sản xuất. Diện tích áp dụng quy trình VietGAP tăng đáng kể tại các tỉnh trọng điểm. Công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản đạt kết quả tích cực. Hệ thống khuyến nông cơ sở được củng cố, mạng lưới đào tạo nghề cho nông dân mở rộng. Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước

Bên cạnh kết quả đạt được, nhiều hạn chế vẫn tồn tại trong quản lý nhà nước. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp trong tổng chi ngân sách, thiếu cơ chế huy động hiệu quả nguồn lực xã hội. Chất lượng quy hoạch chưa cao, thiếu tầm nhìn dài hạn. Năng lực cán bộ quản lý cấp cơ sở còn yếu, đặc biệt trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin. Tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn gia tăng do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật quá mức. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu sự phối hợp liên ngành, cơ chế giám sát lỏng lẻo và nhận thức chưa đầy đủ về phát triển bền vững.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nông nghiệp theo hướng CNH HĐH

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ theo hướng CNH-HĐH, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp thứ nhất liên quan đến hoàn thiện thể chế chính sách, bao gồm sửa đổi Luật Đất đai tạo điều kiện tích tụ ruộng đất, ban hành chính sách ưu đãi thuế tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Nhóm giải pháp thứ hai tập trung vào phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ. Cần đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, giao thông logistics và xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp thông minh. Nhóm giải pháp thứ ba liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ quản lý và kỹ năng lao động nông thôn. Đặc biệt, cần tăng cường liên kết chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ, phát triển thương hiệu sản phẩm đặc trưng vùng.

3.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và quy hoạch phát triển nông nghiệp

Giải pháp trọng tâm là rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan đến đất đai, đầu tư và khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Cần xây dựng quy hoạch tổng thể vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, xác định rõ sản phẩm chủ lực từng địa phương. Ban hành cơ chế đặc thù khuyến khích liên kết hộ nông dân thành hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động hiệu quả. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực nông nghiệp, giảm thiểu giấy phép con gây khó khăn cho doanh nghiệp. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nông sản đồng bộ, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

3.2. Phát triển hạ tầng và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

Đầu tư xây dựng hạ tầng nông nghiệp hiện đại là điều kiện tiên quyết cho CNH-HĐH. Cần nâng cấp hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu chủ động, xây dựng kho bảo quản nông sản đạt chuẩn. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát sản xuất và truy xuất nguồn gốc nông sản. Khuyến khích áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa trong trồng trọt và chăn nuôi. Phát triển nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu. Xây dựng sàn giao dịch nông sản điện tử kết nối thị trường tiêu thụ, giảm khâu trung gian và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng quản lý nhà nước nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ

Nghiên cứu cho thấy quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp vùng duyên hải Bắc Bộ theo hướng CNH-HĐH là yêu cầu cấp thiết, phù hợp với chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Qua phân tích thực trạng, luận án xác định được những tồn tại chính trong cơ chế chính sách, quy hoạch, đầu tư và đào tạo nguồn nhân lực. Từ đó, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các tỉnh vùng duyên hải Bắc Bộ và các vùng nông nghiệp khác trên cả nước. Định hướng phát triển giai đoạn tới cần tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế nông thôn bền vững và nâng cao đời sống nông dân. Vai trò của nhà nước kiến tạo, hỗ trợ và giám sát là yếu tố then chốt quyết định thành công của quá trình chuyển đổi nông nghiệp.

4.1. Kết quả nghiên cứu chính và đóng góp của luận án

Luận án đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH. Phân tích đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước tại vùng duyên hải Bắc Bộ giai đoạn 2010-2018. Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, có tính ứng dụng cao. Đóng góp mới của luận án là xây dựng khung đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước nông nghiệp phù hợp đặc thù vùng duyên hải, đồng thời đề xuất mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản đặc trưng.

4.2. Định hướng phát triển và kiến nghị ứng dụng thực tiễn

Để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, các địa phương vùng duyên hải Bắc Bộ cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Giai đoạn 2020-2025, ưu tiên hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, đầu tư hạ tầng thiết yếu. Giai đoạn 2025-2030, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phát triển nông nghiệp thông minh. Kiến nghị Trung ương ban hành cơ chế đặc thù cho vùng, tăng cường phân cấp quản lý cho địa phương. Các Sở Nông nghiệp cần chủ động phối hợp liên ngành, nâng cao năng lực dự báo thị trường và hỗ trợ nông dân tiếp cận tiến bộ kỹ thuật mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp trên địa bàn vùng duyên hải bắc bộ theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Kinh tế nông nghiệp và QLNN đối với kinh tế nông nghiệp không phải là một chủ đề mới; nội dung này đã được các học giả, các nhà nghiên cứu và các học viên sau đại học lựa chọn làm đề tài nghiên cứu tương đối phổ biến. Sở dĩ như vậy bởi từ trước đến nay nông nghiệp vẫn luôn giữ vai trò chủ chốt trong phát triển kinh tế ở nước ta, kể cả trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu luận án này, NCS đã thu thập được gần 100 đầu tài liệu có liên quan đến luận án, bao gồm cả những tài liệu trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau: bài tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học, đề án, văn bản QLNN, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, giáo trình, các sách tham khảo và chuyên khảo.

Các tư liệu này tập trung vào 3 hướng nghiên cứu chính sau đây: Thứ nhất, nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp bao gồm 3 tiểu ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản…, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Thứ hai, nghiên cứu về CNH-HĐH nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Thứ ba, nghiên cứu về QLNN đối với kinh tế nông nghiệp theo các nội dung của quản lý như các chính sách phát triển, quy hoạch và kế hoạch phát triển, công tác thanh kiểm tra và giám sát, đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp… Phần dưới đây, luận án tổng hợp lại các tài liệu có liên quan đã thu thập được theo 3 nội dung đã đề cập ở trên, tuy nhiên việc phân loại này chỉ mang tính chất tương đối bởi vì đa phần các công trình nghiên cứu đi xuyên suốt từ thực trạng đến chính sách, quản lý của Nhà nước. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những nội dung phục vụ cho việc nghiên cứu luận án này cũng như những 8 điểm khác biệt của các công trình khoa học đã công bố trước đó so với luận án của tác giả. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp Công trình nghiên cứu “Effects of Trade Liberalisation on Agriculture in Vietnam: Institutional and Structural Aspects” (Ảnh hưởng của Tự do hóa thương mại đến nông nghiệp ở Việt Nam: xem xét khía cạnh thể chế và cơ cấu kinh tế)được thực hiện bởi tác giả Nguyen Trung Que 12/2008 – Trung tâm Điều phối vùng về Nghiên cứu và Phát triển khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (CGPRT).

Nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò rất quan trọng của nền nông nghiệp đối với kinh tế của Việt Nam cũng như những biến chuyển trong nước và quốc tế tác động đến nông nghiệp Việt Nam. Theo tác giả Nguyễn Trung Quế, trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức một cách rõ ràng vấn đề này, từ đó, rất nhiều định hướng, giải pháp cũng như chiến lược đã được thực thi, khuyến khích nông dân và đại lý nông sản tăng cường sản xuất nông nghiệp, tạo khả năng cho việc mở rộng thị trường. Nghiên cứu này cũng khẳng định rằng, những thành tựu mà Việt Nam có được trong nông nghiệp chủ yếu và quan trọng nhất là do Việt Nam đã định hướng sự phát triển của nông nghiệp theo kinh tế thị trường. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích hộ gia đình và doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, tự do lưu thông hàng hóa trong nước và xuất khẩu sang khu vực cũng như thị trường thế giới.

Các chính sách về thuế, đầu tư, vốn, cơ sở hạ tầng v.v… đã dần từng bước vững chắc bắt kịp với tình hình phát triển kinh tế. Mặc dù, nghiên cứu này cho biết bức tranh tương đối toàn diện về tình hình sản xuất nông nghiệp cũng như xuất khẩu nông sản ở nước ta cùng với những hạn chế cốt lõi trong ngành này, tuy vậy, phần nội dung đề cập đến chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp còn tương đối ít và tính cập nhật không cao, chủ yếu chỉ phân tích về thực trạng của ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian cách đây khoảng 20 năm về trước. [79] Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Đánh giá những đóng góp của kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp đến tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam” (2009) – Chủ nhiệm đề tài TS Nguyễn Thị Tuệ Anh – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương CIEM. Mục tiêu cuối cùng của đề tài là đánh giá đóng góp của các ngành kinh tế và 9 chuyển dịch cơ cấu ngành vào tăng trưởng NSLĐ ở Việt Nam.

Trên cơ sở đó kiến nghị một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH. Ưu điểm nổi bật của đề tài là đã sử dụng phương pháp định lượng SSA tổng quát, chạy mô hình kinh tế lượng để đánh giá đóng góp của các ngành kinh tế, trong đó bao gồm cả ngành nông nghiệp cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành vào tăng trưởng NSLĐ. Kết quả của nghiên cứu đã đưa ra những nhận định khá bất ngờ về đóng góp của ngành nông nghiệp đến gia tăng NSLĐ ở nước ta. Ngành nông nghiệp đóng góp cao vào nhịp tăng NSLĐ nội bộ các ngành mà nếu không qua nghiên cứu này có thể nhận định rằng nông nghiệp làm giảm tốc độ tăng trưởng NSLĐ tổng thể là do vấn đề năng suất của ngành.

Kết quả phân tích định lượng đã chứng tỏ đó là do tác động của chuyển dịch cơ cấu. Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp là rất cần thiết không chỉ mang lại giá trị gia tăng cao cho ngành mà còn có đóng góp lớn vào việc gia tăng NSLĐ của cả nước.[2] Kết quả nghiên cứu dự án mang tên: “Srategic Choices for Agricultural and Rural Development in Vietnam” (Lựa chọn chiến lược cho phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020) của các tác giả Ian Coxhead, Kim N.B Ninh, Vu Thi Thao, Nguyen Thi Phuong Hoa thuộc Quỹ Châu Á (The Asia Foundation) tháng 1/2010. Đây là công trình nghiên cứu nằm trong khuôn khổ thực hiện “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam 2011-2020”. Cũng như những nghiên cứu khác, tài liệu này trước hết cũng trình bày tổng quan về phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam như nông nghiệp với tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập cho nông thôn.

Có một điểm khác biệt trong nghiên cứu này là có đề cập đến việc phát triển nông nghiệp ở một số nền kinh tế Châu Á như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia, Phillippines… và đồng thời có sự so sánh với nông nghiệp Việt Nam trên các mặt: GDP trong nông nghiệp, lao động nông nghiệp, đất nông nghiệp bình quân đầu người… Phần nội dung này rất hữu ích cho tác giả trong việc nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế trong QLNN đối với kinh tế nông nghiệp để rút ra các bài học có thể vận dụng vào luận án. Phần cuối của nghiên cứu, các tác giả đã dành 6 trang để phân tích lựa chọn chính sách phát triển nông nghiệp mang tính gợi mở cho Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Trong báo cáo này, phần đầu đề cập đến hiện trạng phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam giai đoạn 2012-2016. Báo cáo nhấn mạnh đến những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong suốt 25 năm đổi mới trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản như tốc độ tăng trưởng 5,22% mỗi năm, cơ cấu nông nghiệp đã và đang thay đổi mạnh mẽ theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và tăng trưởng hướng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu… Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, báo cáo cũng chỉ ra những hạn chế trong khu vực nông nghiệp ở nước ta.

Cụ thể là, tăng trưởng nông nghiệp bị chững lại do các yếu tố như đất đai, phân bón, thuốc trừ sâu cũng như hệ thống tưới tiêu đã đạt ngưỡng giới hạn. Việc chia cắt đất đai, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp và chất lượng sản phẩm kém, vệ sinh thực phẩm yếu, dây chuyền cung cấp manh mún và quản lý, kiểm soát yếu kém đã và đang là những nguyên nhân chính dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp của sản xuất nông nghiệp.Báo cáo cũng đã đề cập mang tính liệt kê các chính sách và chương trình của Chính phủ trong nông nghiệp, nông thôn như: (1) Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ; (2) Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020; (3) Nghị quyết 26/NQ-TU về Tam nông (Nông nghiệp, nông dân và nông thôn); (4) Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu khu vực nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững; (5) Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến 2020; (6) Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; (7) Chương trình cắt giảm khí thải nhà kính trong phát triển nông nghiệp và nông thôn 2010-2020… Nhìn chung, báo cáo này đã cho NCS có một cái nhìn khách quan về hiện trạng nông nghiệp của Việt Nam, những thành công, những hạn chế cũng như hệ thống các chính sách và chương trình của Nhà nước đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, do mục đích của báo cáo là làm căn cứ cho việc thiết lập các chương trình hỗ trợ của FAO cho Việt Nam nên phần nội dung có liên quan đến QLNN mới chỉ dừng lại ở mức hệ thống hóa chứ chưa đề cập đến việc thực thi và đánh giá. [76] Công trình nghiên cứu: “Moving out of agriculture: structural change in Vietnam”(Những bước tiến trong nông nghiệp: thay đổi cơ cấu ở Việt Nam) (2013) của các tác giả Brian McCaig và Nina Pavenick.

Tài liệu này tập 11 trung nghiên cứu vai trò của sự thay đổi cấu trúc trong phát triển kinh tế ở Việt Nam từ 1990 đến 2010.Các tác giả đã thảo luận về vai trò của cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp, doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế. Cùng với sự dịch chuyển mạnh mẽ lực lượng lao động từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và gia công sản xuất, nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự di chuyển nhân công từ các hộ gia đình sang các hãng trong khu vực doanh nghiệp, và sự phân phối lại công nhân từ doanh nghiệp Nhà nước sang khu vực tư nhân trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ