Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Tổng quan các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu ngoài nước về QLNN về BHTN thường tiếp cận theo hai góc độ: Học thuật và tác nghiệp. Các nghiên cứu theo góc độ học thuật chủ yếu nghiên cứu về BHTN và QLNN về BHTN; các nghiên cứu theo góc độ tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý và cách thức quản lý, sử dụng nguồn quỹ bảo BHTN sao cho hiệu quả nhất. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: i) Sách “Các Chương trình bảo đảm xã hội các nước trên thế giới” do Cơ quan Quản lý Bảo đảm xã hội Mỹ xuất bản đã đề cập các vấn đề về: - Khoản TCTN như là một hình thức “đền bù sự mất mát thu nhập do kết quả của tình trạng thất nghiệp bắt buộc” tạo ra. Các chương trình TCTN thường được áp dụng ở các nước công nghiệp phát triển như đã nêu ở trên và được thực hiện dưới hình thức bắt buộc ở hầu hết các nước.
Có một vài nước áp dụng phương thức TCTN thông qua hình thức trợ cấp khó khăn, thanh toán một lần do cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động chi trả và chủ sử dụng lao động thường chi một lần khoản tiền đền bù khi sa thải NLĐ. - Khái niệm thực hiện chương trình TCTN được hiểu là: “TCTN là sự trợ giúp cho người thất nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống của họ trong thời gian mất việc làm từ nguồn quỹ được hình thành do sự đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, của toàn xã hội”; Về bản chất, TCTN cũng như các chế độ trợ cấp khác cùng xuất phát từ quan hệ lao động, cùng bù đắp rủi ro cho NLĐ nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt về đối tượng, mục đích và cách thức giải quyết; đối tượng của TCTN chủ yếu là NLĐ trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm và có nhu cầu đi làm việc. Việc NLĐ bị mất việc làm là do yếu tố khách quan, tức là không tự nguyện. Chính điều này dẫn đến đối tượng hưởng của TCTN hẹp hơn đối tượng thất nghiệp thực tế.
Tuy nhiên, 5 ngoài mục đích này hoạt động của chế độ thất nghiệp còn có một mục đích nữa giúp cho NLĐ quay trở lại thị trường lao động với các biện pháp như cung cấp thông tin về thị trường lao động, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề, tạo việc làm tạm thời; - Công tác quản lý người thất nghiệp giữ vai trò quan trọng trong sự thành công của việc thực hiện chế độ thất nghiệp. Việc đăng ký thất nghiệp, thống kê số người thất nghiệp, phân loại thất nghiệp. Để đưa vào diện đối tượng hưởng TCTN là vấn đề không hề đơn giản. Do vậy, công tác quản lý thống kê người thất nghiệp là công tác giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện thành công của hoạt động TCTN.
Song, hầu hết các nước khác đều thiết lập và tổ chức thực hiện chế độ TCTN với vị trí là một nhánh của BHXH. Một số nước còn thực hiện các chế độ TCTN từ các quỹ công với những điều kiện nhất định về đối tượng (tình trạng kinh tế, mức thu nhập chung hoặc mức thu nhập do lao động của họ), đảm bảo thực hiện dưới các hình thức trợ cấp như trợ cấp mất việc, thôi việc. Lê Hồng Giang trong trong công trình nghiên cứu: “BHTN, lỡ cơ hội thay đổi” đăng trên SGTT vào ngày 01/12/2009 đã đề cập kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) về mô hình hỗn hợp bảo hiểm nhà nước và tư nhân được tổng kết rằng: “Ở các nước phát triển, bên cạnh hệ thống BHTN của nhà nước, khu vực tư nhân cũng cung cấp nhiều hình thức BHTN khác giành cho các đối tượng có thu nhập cao, tuy nhiên những NLĐ có mức lương thấp ít quan tâm đến BHTN do khu vực tư nhân triển khai”. Đối với người nghèo có mức thu nhập thấp, BHTN được xem là một dạng của ASXH (social safety net).
Vì vậy, một số nước đã gộp chung loại hình bảo hiểm này vào Quỹ BHXH vào Quỹ ASXH, từ đó xu hướng vận động của BHTN cũng giống như các hình thức BHXH khác (hưu trí, y tế), nó được chuyển dần từ thể thức quy định lợi tức (defined benefits) sang quy định mức đóng góp (defined contributions). Nghiên cứu của WB về sự chuyển đổi này đã rút ra là, một mô hình hỗn hợp như của Úc, kết hợp thể thức quy định lợi tức từ một quỹ BHXH của Nhà nước, với quy định mức đóng góp dựa vào khu vực tư nhân, sẽ là tối ưu và dễ chuyển đổi. Tác giả đã viện dẫn thực tiễn của Singapore và Malaysia về hình thành Quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình bảo hiểm (hưu trí, sức khỏe, thất nghiệp) đều do quỹ này chi trả và cho rằng, về bản chất thì quỹ 6 này là hình thức tiết kiệm bắt buộc, nên nó là công cụ để Chính phủ định hướng tỷ lệ tiết kiệm của tất cả mọi NLĐ trong dài hạn để đảm bảo nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế. Đối với Việt Nam, tác giả cho rằng, hệ thống BHXH trong đó có BHTN đã bắt chước hệ thống ASXH của Mỹ mà đã bỏ qua kinh nghiệm thành công của Singapore và Malaysia về hình thành quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình BHXH.
Ngoài ra còn có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp. Điển hình như: Ở Cộng hoà Liên Bang Đức có Schmid, G; ở Mỹ có Wernev, H và Wayne Nafziger, E; ở Anh có DaVid, W và Pearce, ở Nga có V. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế giới. Một số nghiên cứu khác đã tiếp cận với BHTN và TCTN, song mới chỉ đưa ra những định hướng về đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian TCTN.
Do đây là một vấn đề kinh tế – xã hội đặc thù của từng nước, cho nên chưa có một công trình nào bàn về tổ chức BHTN. Chính vì vậy, những nghiên cứu của các tác giả kể trên có chăng chỉ là để tham khảo trong quá trình tổ chức BHTN ở Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu nước ngoài mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh của BHTN và TCTN.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước liên quan đến QLNN về BHTN 1.1 Các nghiên cứu có nội dung liên quan đến BHTN tại Việt Nam i). Công trình nghiên cứu của TS Trịnh Thị Hoa -Trung tâm Nghiên cứu khoa học, BHXH Việt Nam với tiêu đề “Những lý luận cơ bản về BHTN hiện đại” Công trình này đã đề cập các vấn đề chính về: - Hiện tượng thất nghiệp.
Thất nghiệp là hiện tượng không mong muốn của NLĐ và Chính phủ, nhưng lại thường xuyên xảy ra trong KTTT. Để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, bảo đảm an toàn cuộc sống cho họ Chính phủ cần triển khai chương trình TCTN. Chương trình TCTN chỉ thực hiện đối với những 7 người bị thất nghiệp bắt buộc (không mong muốn). Một trong những giải pháp tích cực đối với chống thất nghiệp là đầu tư tạo ra chỗ làm việc mới.
- Lịch sử hình thành, phát triển TCTN. Trên thế giới đã hình thành TCTN từ trước thế kỷ 19, áp dụng cho những công nhân ở cao nguyên Bohemia ngành thuỷ tinh, ở Bagel và Thụy Sĩ áp dụng cho công nhân đóng giày. Sau đó được áp dụng rộng rãi ở châu Âu và các nước phát triển nhằm đảm bảo việc làm ổn định của NLĐ, bảo vệ đời sống của công nhân lành nghề và phát triển liên tục của kinh tế. Để thực hiện BHTN, giới chủ sử dụng lao động phải trích một phần thu nhập của Doanh nghiệp để đóng góp vào Quỹ TCTN.
Sau một thời gian thực hiện, một số quốc gia đã cho thành lập Quỹ BHTN do giới chủ đóng góp và sự tham gia tự nguyện của NLĐ. Quỹ thất nghiệp tự nguyện đầu tiên được hình thành ở Thụy Sỹ (Bezne) năm 1893 với sự tham gia của những người có việc làm không ổn định. Công trình nghiên cứu này cũng đưa ra các số liệu thống kê về các nước thực hiện BHTN. Cụ thể, theo thống kê chính thức của ILO, đến năm 1999 đã có 172 nước thiết lập hệ thống ASXH, trong đó 69 nước thiết lập được chế độ BHTN và 1/2 trong số này đã thực hiện BHTN bắt buộc như một nhánh của hệ thống BHXH.
BHTN không đơn giản, thậm chí một số nước đã hình thành rồi lại phải huỷ bỏ vì không bảo đảm thực hiện như quy định (ví dụ như Ấn Độ, Thái Lan). - Nguyên tắc và mục đích của Quỹ thất nghiệp. Quỹ thất nghiệp hoạt động theo nguyên tắc số đông cùng chia sẻ rủi ro với số ít và thực hiện các mục tiêu cụ thể bao gồm: Cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị thất nghiệp; ổn định kinh tế; tạo điều kiện để Doanh nghiệp cơ cấu lại hoạt động kinh doanh; khuyến khích NLĐ nâng cao tay nghề; tăng cường các kỹ năng tìm kiếm việc làm. Theo thời gian, Quỹ BHTN được hình thành với sự đóng góp của: NLĐ, người sử dụng lao động và nhà nước nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ trong thời gian bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động.
- Gợi ý cho Việt Nam. Tác giả đã cho rằng, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thiết lập chế độ BHTN là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bảo vệ NLĐ, nhưng cần có những bước đi thận trọng, tiếp thu kinh nghiệm của các nước.TS Mạc Văn Tiến với công trình nghiên cứu về “Lý luận về BHTN”. Công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn đề về sau: - Bản chất của thất nghiệp. Tác giả cho rằng, thất nghiệp được coi là hiện tượng tất yếu của nền KTTT.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức xã hội nên vấn đề thất nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp được các nhà kinh tế lý giải rất khác nhau. Người đầu tiên nghiên cứu về thất nghiệp là Uyliam Petty.