Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

165
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1. Tổng quan các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài

1.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước liên quan đến QLNN về BHTN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

2.1. Quan niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

2.2. Thất nghiệp và phân loại thất nghiệp

2.3. Bảo hiểm thất nghiệp và QLNN về BHTN

2.4. Sự cần thiết phải tăng cường QLNN về BHTN

2.5. Nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN

2.6. Nội dung QLNN về BHTN

2.7. Quan niệm về hiệu quả QLNN về BHTN và các tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN về BHTN

2.8. Các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về BHTN

2.9. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý BHTN

2.10. Kinh nghiệm của một số quốc gia

2.11. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng thất nghiệp

3.2. Thực trạng BHTN và quản lý BHTN

3.3. Khái quát thực trạng BHTN ở Việt Nam

3.4. Thực trạng QLNN về BHTN. Đánh giá chung

3.5. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lý BHTN

3.6. Nguyên nhân của các hạn chế trong quản lý BHTN

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở NƯỚC TA

4.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

4.2. Dự báo những yếu tố thay đổi ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp thời kỳ đến năm 2025

4.3. Mục tiêu phát triển BHTN

4.4. Phương hướng hoàn thiện QLNN về BHTN ở nước ta đến năm 2025

4.5. Giải pháp hoàn thiện QLNN về BHTN ở nước ta đến năm 2020

4.6. Nâng cao nhận thức về vai trò QLNN về BHTN

4.7. Nhóm giải pháp hoàn thiện QLNN đối với BHTN

4.8. Nhóm giải pháp tăng cường nâng cao hiệu lực và hiệu quả QLNN về BHTN

4.9. Các giải pháp khác

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

Tóm tắt

I. Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp

Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án tiến sĩ này tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, từ cơ sở lý luận đến thực tiễn quản lý. Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ là công cụ bảo vệ người lao động mà còn góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Luận án đã chỉ ra những hạn chế trong cơ chế quản lý hiện tại và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước

Luận án đã làm rõ khái niệm quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của nó. Thất nghiệp được phân loại thành nhiều dạng khác nhau, từ thất nghiệp tự nguyện đến thất nghiệp bắt buộc. Bảo hiểm thất nghiệp được xem là một phần của hệ thống an sinh xã hội, giúp người lao động vượt qua khó khăn khi mất việc. Luận án cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của chính sách bảo hiểm.

1.2. Kinh nghiệm quốc tế

Luận án đã tổng hợp kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển như Mỹ, Đức, và Singapore về quản lý bảo hiểm thất nghiệp. Các nước này đã xây dựng hệ thống bảo hiểm hiệu quả, kết hợp giữa nhà nước và khu vực tư nhân. Bài học rút ra là Việt Nam cần học hỏi cách thức tổ chức và vận hành quỹ bảo hiểm thất nghiệp để đảm bảo tính bền vững và công bằng.

II. Thực trạng quản lý bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam

Luận án đã phân tích thực trạng bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam từ năm 2009 đến 2014. Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp tăng từ 5,6 triệu lên 9,2 triệu, nhưng tỷ lệ tham gia vẫn còn thấp so với tổng lực lượng lao động. Tình hình thất nghiệp vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là ở nhóm thanh niên. Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp còn nhiều bất cập, như chậm ban hành văn bản hướng dẫn và thiếu đồng bộ trong tổ chức thực thi.

2.1. Hạn chế trong quản lý

Luận án chỉ ra các hạn chế chính trong quản lý bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm sự chồng chéo trong tổ chức, thiếu thống nhất trong thực thi chính sách, và tình trạng nợ đọng bảo hiểm thất nghiệp tăng nhanh. Những hạn chế này đã ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách bảo hiểm và quyền lợi của người lao động.

2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân chính của các hạn chế là do hệ thống quản lý chưa hoàn thiện, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, và nhận thức của người lao động về bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế. Luận án cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện cơ chế quản lý để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước

Luận án đề xuất các giải pháp quản lý nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam. Các giải pháp bao gồm nâng cao nhận thức về vai trò của bảo hiểm thất nghiệp, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của quản lý nhà nước, và hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm. Mục tiêu là đảm bảo quyền lợi của người lao động và góp phần ổn định xã hội.

3.1. Nâng cao nhận thức

Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức của người lao động và doanh nghiệp về bảo hiểm thất nghiệp. Điều này sẽ thúc đẩy sự tham gia của người lao động và tăng tính minh bạch trong quản lý bảo hiểm.

3.2. Hoàn thiện pháp luật

Luận án đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm để giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn. Điều này bao gồm việc ban hành các văn bản hướng dẫn kịp thời và đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống quản lý.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1 Tổng quan các công trình đã công bố ở trong và ngoài nước liên quan đến quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu ngoài nước về QLNN về BHTN thường tiếp cận theo hai góc độ: Học thuật và tác nghiệp. Các nghiên cứu theo góc độ học thuật chủ yếu nghiên cứu về BHTN và QLNN về BHTN; các nghiên cứu theo góc độ tác nghiệp thường nghiên cứu về quản lý và cách thức quản lý, sử dụng nguồn quỹ bảo BHTN sao cho hiệu quả nhất. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: i) Sách “Các Chương trình bảo đảm xã hội các nước trên thế giới” do Cơ quan Quản lý Bảo đảm xã hội Mỹ xuất bản đã đề cập các vấn đề về: - Khoản TCTN như là một hình thức “đền bù sự mất mát thu nhập do kết quả của tình trạng thất nghiệp bắt buộc” tạo ra. Các chương trình TCTN thường được áp dụng ở các nước công nghiệp phát triển như đã nêu ở trên và được thực hiện dưới hình thức bắt buộc ở hầu hết các nước.

Có một vài nước áp dụng phương thức TCTN thông qua hình thức trợ cấp khó khăn, thanh toán một lần do cơ quan đại diện của Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động chi trả và chủ sử dụng lao động thường chi một lần khoản tiền đền bù khi sa thải NLĐ. - Khái niệm thực hiện chương trình TCTN được hiểu là: “TCTN là sự trợ giúp cho người thất nghiệp nhằm đảm bảo cuộc sống của họ trong thời gian mất việc làm từ nguồn quỹ được hình thành do sự đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước, của toàn xã hội”; Về bản chất, TCTN cũng như các chế độ trợ cấp khác cùng xuất phát từ quan hệ lao động, cùng bù đắp rủi ro cho NLĐ nhưng lại có những đặc điểm riêng khác biệt về đối tượng, mục đích và cách thức giải quyết; đối tượng của TCTN chủ yếu là NLĐ trong độ tuổi lao động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm và có nhu cầu đi làm việc. Việc NLĐ bị mất việc làm là do yếu tố khách quan, tức là không tự nguyện. Chính điều này dẫn đến đối tượng hưởng của TCTN hẹp hơn đối tượng thất nghiệp thực tế.

Tuy nhiên, 5 ngoài mục đích này hoạt động của chế độ thất nghiệp còn có một mục đích nữa giúp cho NLĐ quay trở lại thị trường lao động với các biện pháp như cung cấp thông tin về thị trường lao động, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề, tạo việc làm tạm thời; - Công tác quản lý người thất nghiệp giữ vai trò quan trọng trong sự thành công của việc thực hiện chế độ thất nghiệp. Việc đăng ký thất nghiệp, thống kê số người thất nghiệp, phân loại thất nghiệp. Để đưa vào diện đối tượng hưởng TCTN là vấn đề không hề đơn giản. Do vậy, công tác quản lý thống kê người thất nghiệp là công tác giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện thành công của hoạt động TCTN.

Song, hầu hết các nước khác đều thiết lập và tổ chức thực hiện chế độ TCTN với vị trí là một nhánh của BHXH. Một số nước còn thực hiện các chế độ TCTN từ các quỹ công với những điều kiện nhất định về đối tượng (tình trạng kinh tế, mức thu nhập chung hoặc mức thu nhập do lao động của họ), đảm bảo thực hiện dưới các hình thức trợ cấp như trợ cấp mất việc, thôi việc. Lê Hồng Giang trong trong công trình nghiên cứu: “BHTN, lỡ cơ hội thay đổi” đăng trên SGTT vào ngày 01/12/2009 đã đề cập kết quả nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) về mô hình hỗn hợp bảo hiểm nhà nước và tư nhân được tổng kết rằng: “Ở các nước phát triển, bên cạnh hệ thống BHTN của nhà nước, khu vực tư nhân cũng cung cấp nhiều hình thức BHTN khác giành cho các đối tượng có thu nhập cao, tuy nhiên những NLĐ có mức lương thấp ít quan tâm đến BHTN do khu vực tư nhân triển khai”. Đối với người nghèo có mức thu nhập thấp, BHTN được xem là một dạng của ASXH (social safety net).

Vì vậy, một số nước đã gộp chung loại hình bảo hiểm này vào Quỹ BHXH vào Quỹ ASXH, từ đó xu hướng vận động của BHTN cũng giống như các hình thức BHXH khác (hưu trí, y tế), nó được chuyển dần từ thể thức quy định lợi tức (defined benefits) sang quy định mức đóng góp (defined contributions). Nghiên cứu của WB về sự chuyển đổi này đã rút ra là, một mô hình hỗn hợp như của Úc, kết hợp thể thức quy định lợi tức từ một quỹ BHXH của Nhà nước, với quy định mức đóng góp dựa vào khu vực tư nhân, sẽ là tối ưu và dễ chuyển đổi. Tác giả đã viện dẫn thực tiễn của Singapore và Malaysia về hình thành Quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình bảo hiểm (hưu trí, sức khỏe, thất nghiệp) đều do quỹ này chi trả và cho rằng, về bản chất thì quỹ 6 này là hình thức tiết kiệm bắt buộc, nên nó là công cụ để Chính phủ định hướng tỷ lệ tiết kiệm của tất cả mọi NLĐ trong dài hạn để đảm bảo nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế. Đối với Việt Nam, tác giả cho rằng, hệ thống BHXH trong đó có BHTN đã bắt chước hệ thống ASXH của Mỹ mà đã bỏ qua kinh nghiệm thành công của Singapore và Malaysia về hình thành quỹ tiết kiệm chung cho các loại hình BHXH.

Ngoài ra còn có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp. Điển hình như: Ở Cộng hoà Liên Bang Đức có Schmid, G; ở Mỹ có Wernev, H và Wayne Nafziger, E; ở Anh có DaVid, W và Pearce, ở Nga có V. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế giới. Một số nghiên cứu khác đã tiếp cận với BHTN và TCTN, song mới chỉ đưa ra những định hướng về đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian TCTN.

Do đây là một vấn đề kinh tế – xã hội đặc thù của từng nước, cho nên chưa có một công trình nào bàn về tổ chức BHTN. Chính vì vậy, những nghiên cứu của các tác giả kể trên có chăng chỉ là để tham khảo trong quá trình tổ chức BHTN ở Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu nước ngoài mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh của BHTN và TCTN.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước liên quan đến QLNN về BHTN 1.1 Các nghiên cứu có nội dung liên quan đến BHTN tại Việt Nam i). Công trình nghiên cứu của TS Trịnh Thị Hoa -Trung tâm Nghiên cứu khoa học, BHXH Việt Nam với tiêu đề “Những lý luận cơ bản về BHTN hiện đại” Công trình này đã đề cập các vấn đề chính về: - Hiện tượng thất nghiệp.

Thất nghiệp là hiện tượng không mong muốn của NLĐ và Chính phủ, nhưng lại thường xuyên xảy ra trong KTTT. Để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, bảo đảm an toàn cuộc sống cho họ Chính phủ cần triển khai chương trình TCTN. Chương trình TCTN chỉ thực hiện đối với những 7 người bị thất nghiệp bắt buộc (không mong muốn). Một trong những giải pháp tích cực đối với chống thất nghiệp là đầu tư tạo ra chỗ làm việc mới.

- Lịch sử hình thành, phát triển TCTN. Trên thế giới đã hình thành TCTN từ trước thế kỷ 19, áp dụng cho những công nhân ở cao nguyên Bohemia ngành thuỷ tinh, ở Bagel và Thụy Sĩ áp dụng cho công nhân đóng giày. Sau đó được áp dụng rộng rãi ở châu Âu và các nước phát triển nhằm đảm bảo việc làm ổn định của NLĐ, bảo vệ đời sống của công nhân lành nghề và phát triển liên tục của kinh tế. Để thực hiện BHTN, giới chủ sử dụng lao động phải trích một phần thu nhập của Doanh nghiệp để đóng góp vào Quỹ TCTN.

Sau một thời gian thực hiện, một số quốc gia đã cho thành lập Quỹ BHTN do giới chủ đóng góp và sự tham gia tự nguyện của NLĐ. Quỹ thất nghiệp tự nguyện đầu tiên được hình thành ở Thụy Sỹ (Bezne) năm 1893 với sự tham gia của những người có việc làm không ổn định. Công trình nghiên cứu này cũng đưa ra các số liệu thống kê về các nước thực hiện BHTN. Cụ thể, theo thống kê chính thức của ILO, đến năm 1999 đã có 172 nước thiết lập hệ thống ASXH, trong đó 69 nước thiết lập được chế độ BHTN và 1/2 trong số này đã thực hiện BHTN bắt buộc như một nhánh của hệ thống BHXH.

BHTN không đơn giản, thậm chí một số nước đã hình thành rồi lại phải huỷ bỏ vì không bảo đảm thực hiện như quy định (ví dụ như Ấn Độ, Thái Lan). - Nguyên tắc và mục đích của Quỹ thất nghiệp. Quỹ thất nghiệp hoạt động theo nguyên tắc số đông cùng chia sẻ rủi ro với số ít và thực hiện các mục tiêu cụ thể bao gồm: Cung cấp nguồn tài chính hỗ trợ thu nhập cho NLĐ bị thất nghiệp; ổn định kinh tế; tạo điều kiện để Doanh nghiệp cơ cấu lại hoạt động kinh doanh; khuyến khích NLĐ nâng cao tay nghề; tăng cường các kỹ năng tìm kiếm việc làm. Theo thời gian, Quỹ BHTN được hình thành với sự đóng góp của: NLĐ, người sử dụng lao động và nhà nước nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho NLĐ trong thời gian bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động.

- Gợi ý cho Việt Nam. Tác giả đã cho rằng, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thiết lập chế độ BHTN là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bảo vệ NLĐ, nhưng cần có những bước đi thận trọng, tiếp thu kinh nghiệm của các nước.TS Mạc Văn Tiến với công trình nghiên cứu về “Lý luận về BHTN”. Công trình nghiên cứu đã đề cập những vấn đề về sau: - Bản chất của thất nghiệp. Tác giả cho rằng, thất nghiệp được coi là hiện tượng tất yếu của nền KTTT.

Tuy nhiên do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức xã hội nên vấn đề thất nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp được các nhà kinh tế lý giải rất khác nhau. Người đầu tiên nghiên cứu về thất nghiệp là Uyliam Petty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay là một nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm thất nghiệp, tập trung vào thực trạng, thách thức và giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế pháp lý, chính sách và thực tiễn áp dụng, giúp độc giả hiểu rõ hơn về vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Đặc biệt, nghiên cứu đề xuất các giải pháp thiết thực để cải thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay của Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về quản lý nhà nước và các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhân dân quận theo mô hình chính quyền đô thị của thành phố hà nội, Luận văn thạc sĩ luật học hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố hà nội thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, và Luận án tiến sĩ luật học cải cách bộ máy hành chính nhà nước cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào watermark. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của quản lý nhà nước và cải cách hành chính.