Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng - Học viện Hành chính Quốc gia

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

181
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước đào tạo điều dưỡng

Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng là hệ thống các hoạt động tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá của các cơ quan chức năng nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo. Hoạt động này bao gồm việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, ban hành chính sách và tiêu chuẩn chuyên môn. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra đội ngũ điều dưỡng viên có đủ năng lực, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội. Ở Việt Nam, lĩnh vực này chịu sự quản lý của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Công tác quản lý phải thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ và mô hình bệnh tật. Một hệ thống quản lý hiệu quả là nền tảng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế quốc gia.

1.1. Đối tượng và phạm vi quản lý nhà nước

Đối tượng quản lý bao gồm hệ thống các cơ sở đào tạo điều dưỡng từ trung cấp đến đại học và sau đại học. Phạm vi quản lý trải rộng từ quy hoạch mạng lưới trường lớp, xây dựng chương trình đào tạo, đến quản lý đội ngũ giảng viên và kiểm định chất lượng. Nhà nước cũng quản lý việc cấp phát văn bằng, chứng chỉ và giấy phép hành nghề cho điều dưỡng viên. Quản lý còn bao gồm cả chính sách tài chính, đầu tư cơ sở vật chất và hợp tác quốc tế trong đào tạo. Đây là một hệ thống liên ngành, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan.

1.2. Mục tiêu và vai trò của quản lý nhà nước

Mục tiêu cốt lõi là đảm bảo nguồn nhân lực điều dưỡng có số lượng phù hợp, cơ cấu hợp lý và chất lượng đáp ứng chuẩn nghề nghiệp. Quản lý nhà nước đóng vai trò định hướng, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho đào tạo phát triển. Nó giúp chuẩn hóa chương trình, nội dung đào tạo theo khung trình độ quốc gia và khu vực. Vai trò quản lý còn thể hiện ở việc huy động nguồn lực, điều phối và thanh tra, giám sát toàn bộ quá trình đào tạo. Qua đó, nhà nước bảo vệ quyền lợi của người học và đảm bảo an sinh xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề đào tạo điều dưỡng

Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Hệ thống văn bản pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành. Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo chưa gắn chặt với nhu cầu thực tế của hệ thống y tế, dẫn đến tình trạng thừa, thiếu cục bộ. Chương trình đào tạo ở nhiều nơi còn nặng về lý thuyết, thiếu thực hành lâm sàng và kỹ năng mềm cần thiết. Đội ngũ giảng viên vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về kinh nghiệm lâm sàng và phương pháp sư phạm hiện đại. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo, đặc biệt là mô hình mô phỏng và phòng thực hành, còn lạc hậu. Công tác kiểm định chất lượng đào tạo chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong hệ thống chính sách và thể chế

Hệ thống pháp luật về đào tạo và hành nghề điều dưỡng còn nhiều khoảng trống, chưa theo kịp sự phát triển của nghề nghiệp. Các quy định về chuẩn năng lực nghề nghiệp, khung chương trình khung còn chung chung, thiếu tính đặc thù. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng lao động còn lỏng lẻo. Vai trò của Hội đồng Điều dưỡng quốc gia trong tư vấn chính sách và kiểm định chưa được phát huy đầy đủ. Thể chế quản lý còn tập trung, chưa tạo đủ động lực cho các cơ sở đào tạo tự chủ và đổi mới sáng tạo.

2.2. Thách thức về chất lượng đào tạo và nguồn lực

Chất lượng đầu ra của sinh viên điều dưỡng chưa đồng đều, nhiều người chưa đáp ứng được yêu cầu công việc ngay sau khi tốt nghiệp. Nguyên nhân chính là do chương trình đào tạo thiếu tính thực tiễn và cập nhật. Đội ngũ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ còn thấp, đặc biệt ở các trường ngoài công lập. Đầu tư ngân sách nhà nước cho đào tạo điều dưỡng còn hạn chế, trong khi học phí chưa phản ánh đúng chi phí đào tạo. Sự chênh lệch về chất lượng đào tạo giữa các vùng miền, giữa đào tạo công lập và tư thục là một vấn đề nan giải.

III. Giải pháp hoàn thiện quản lý đào tạo điều dưỡng

Để hoàn thiện quản lý nhà nước, cần xây dựng và ban hành Luật Nghề điều dưỡng, tạo nền tảng pháp lý vững chắc. Hệ thống đào tạo phải được quy hoạch lại theo hướng mở, linh hoạt, gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực y tế từng vùng miền. Chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường thực hành và kỹ năng lâm sàng. Cần đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở vật chất, đặc biệt là các trung tâm mô phỏng lâm sàng hiện đại. Đội ngũ giảng viên phải được đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn và phương pháp giảng dạy. Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo độc lập, minh bạch và công khai kết quả.

3.1. Hoàn thiện thể chế và chính sách pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đào tạo và hành nghề điều dưỡng. Xây dựng khung trình độ quốc gia cho nghề điều dưỡng làm chuẩn mực cho mọi chương trình đào tạo. Ban hành quy định cụ thể về quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. Tăng cường vai trò của tổ chức nghề nghiệp trong việc xây dựng chuẩn nghề nghiệp và đánh giá chất lượng. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả trong quản lý đào tạo nguồn nhân lực y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng.

3.2. Đổi mới mô hình đào tạo và kiểm định chất lượng

Chuyển đổi mạnh mẽ mô hình đào tạo từ thầy giảng - trò nghe sang học theo năng lực, lấy người học làm trung tâm. Tăng thời gian thực hành lâm sàng, áp dụng mô hình đào tạo tại bệnh viện (clinical school). Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, mô phỏng và thực tế ảo trong giảng dạy. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực đầu ra thống nhất, có thể áp dụng rộng rãi. Thành lập các tổ chức kiểm định độc lập, chuyên đánh giá chương trình đào tạo y khoa theo tiêu chuẩn quốc tế.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn đào tạo điều dưỡng

Nghiên cứu khẳng định quản lý nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng. Các giải pháp đề ra cần được triển khai đồng bộ, có lộ trình và phân công trách nhiệm rõ ràng. Ứng dụng thực tiễn đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ trung ương đến địa phương. Các cơ sở đào tạo phải chủ động đổi mới, thích ứng với yêu cầu mới của thị trường lao động y tế. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách tham khảo, điều chỉnh chiến lược phát triển nhân lực y tế. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một đội ngũ điều dưỡng viên Việt Nam chuyên nghiệp, hội nhập và phục vụ nhân dân.

4.1. Định hướng phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng

Định hướng phát triển cần gắn với Chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2025-2030. Cần ưu tiên đào tạo điều dưỡng có trình độ đại học và sau đại học, giảm dần đào tạo trung cấp. Xây dựng hệ thống đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức thường xuyên cho điều dưỡng viên hành nghề. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, công nhận văn bằng và chuẩn hóa theo khu vực. Phát triển các chuyên ngành điều dưỡng sâu như điều dưỡng gây mê hồi sức, điều dưỡng ung bướu, điều dưỡng cộng đồng.

4.2. Khuyến nghị cho thực tiễn quản lý và đào tạo

Khuyến nghị Bộ Y tế chủ trì xây dựng Đề án tổng thể phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng đến năm 2030. Các cơ sở đào tạo cần rà soát, điều chỉnh chương trình theo hướng tiếp cận năng lực và chuẩn quốc tế. Cần có cơ chế tài chính phù hợp để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và đào tạo giảng viên. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, bệnh viện trong quá trình đào tạo và đánh giá chất lượng. Nghiên cứu tiếp tục đi sâu vào các khía cạnh quản lý chuyên ngành và đào tạo chuyên sâu cho điều dưỡng.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN MINH LỢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG Hà Nội – 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN MINH LỢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG MÃ SỐ: 62 34 04 03 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. Nguyễn Viết Tiến Hà Nội - 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các tư liệu, số liệu được sử dụng và trích dẫn trong luận án này là trung thực và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, chính xác. Kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Minh Lợi LỜI CẢM ƠN Nhân dịp bản Luận án được hoàn thành, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành tới: Ban Giám đốc, các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học và Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội của Học viện đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại Học viện. Đinh Văn Mậu và GS. Nguyễn Viết Tiến đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận án này. Ban Lãnh đạo và tập thể cán bộ, công chức Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế qua các thời kỳ; đồng nghiệp, các vị chuyên gia trong và ngoài nước, bạn bè và Gia đình đã tạo mọi điều kiện, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập thực hiện Luận án. Hà Nội, ngày tháng 8 năm 2017 TÁC GIẢ LUẬN ÁN Nguyễn Minh Lợi MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ . vii MỞ ĐẦU . 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN . Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án . Kết quả nghiên cứu tổng quan và những nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu30 Chương 2 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG . Điều dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng . Quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng . Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng . Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của một số nước và giá trị tham khảo đối với Việt Nam . 70 Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM . Khái quát quá trình phát triển ngành điều dưỡng ở Việt Nam . Khái quát thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam . 108 Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐIỀU DƯỠNG Ở VIỆT NAM . Dự báo nhu cầu và xu hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng của Việt Nam 120 4. Định hướng đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam . Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng ở Việt Nam. 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN . 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 160 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CSĐT: Cơ sở đào tạo CTĐT: Chương trình đào tạo CSSK: Chăm sóc sức khỏe ĐDV: Điều dưỡng viên GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo KB, CB: Khám bệnh, chữa bệnh NLYT Nhân lực y tế NNL: Nguồn nhân lực NNLĐD: Nguồn nhân lực điều dưỡng NNLYT Nguồn nhân lực y tế QLNN: Quản lý nhà nước WHO: Tổ chức Y tế thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ Danh mục các bảng Bảng 3. Tổng số CSĐT điều dưỡng theo vùng miền qua các năm (2005-2015) . Tổng chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo điều dưỡng các trình độ 2010-2015 . Tỷ lệ điều dưỡng/ đầu dân theo vùng kinh tế . Tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ theo vùng kinh tế . Tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ tuyến TW theo vùng kinh tế . Phân loại điều dưỡng viên theo trình độ . Cơ cấu giảng viên điều dưỡng trong các CSĐT theo ngành. Cơ cấu giảng viên điều dưỡng trong các CSĐT theo độ tuổi . Dự báo nhu cầu nhân lực điều dưỡng tới năm 2020 . So sánh nhu cầu điều dưỡng Việt Nam đến năm 2020 . Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Nhật Bản . Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Hàn Quốc . Quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Thái Lan . Mô hình đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam . Đề xuất mô hình đào tạo điều dưỡng Việt Nam . Đề xuất mô hình quản lý đào tạo và hành nghề điều dưỡng Việt Nam . Tính cấp thiết của đề tài Trong cơ cấu nhân lực y tế (NLYT), vị trí, vai trò của điều dưỡng viên (ĐDV) đã được khẳng định. Cùng với đội ngũ các y, bác sỹ, ĐDV đã trở thành một bộ phận độc lập và không thể tách rời trong ngành Y tế, vừa chiếm đa số về số lượng, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân. Chăm sóc điều dưỡng là một hoạt động nghề nghiệp chuyên môn, đòi hỏi có tri thức và kỹ thuật thành thạo, ĐDV cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có kiến thức lẫn kỹ năng, là người cộng sự không thể thiếu được của bác sỹ và cũng là người thực hiện các hoạt động chuyên môn trên cơ sở chẩn đoán của bác sỹ. Như vậy, ĐDV phải có những năng lực thông qua những kiến thức, thái độ, kỹ năng cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt 3 vai trò là: độc lập, phối hợp và phụ thuộc. Thực hiện đường lối đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng hội nhập quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng (NNLĐD) đã có những bước phát triển nhất định cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống đào tạo, về các loại hình, quy mô và trình độ đào tạo, góp phần quan trọng tăng cường chất lượng bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đào tạo cũng như quản lý nhà nước (QLNN) về đào tạo NNLĐD vẫn còn nhiều bất cập và có những khó khăn, thách thức. Thứ nhất về lý luận, đường lối chiến lược để đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao chất lượng đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần là cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, 2 trong đó nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực quốc phòng, an ninh được tăng cường vững chắc. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không đơn giản chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội làm cho xã hội đổi mới về chất, trong đó động lực cho sự phát triển đó là con người. Phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là những điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ có thể thành công khi chúng ta có được một nguồn nhân lực (NNL) có chất lượng. Do vậy, đầu tư cho việc phát triển NNL có chất lượng được coi là khâu quan trọng nhất so với các loại đầu tư khác cho việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đầu tư cho việc phát triển NNL bao gồm: chăm sóc sức khỏe (CSSK), nâng cao chất lượng sống cho con người và phát triển GD&ĐT. Như vậy, có thể nói đào tạo NNLĐD có vai trò rất quan trọng, vừa góp phần tác động đến chất lượng CSSK, nâng cao chất lượng sống cho con người vừa góp phần phát triển và nâng cao chất lượng NNL. Vấn đề đào tạo NNLĐD đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng chưa có một nghiên cứu nào được tiếp cận dưới góc độ khoa học về QLNN, đặc biệt là cấp độ tiến sĩ. Thứ hai về thực tiễn, sự phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến có những thay đổi rất lớn về yêu cầu cũng như nhu cầu đối với công tác y tế, đòi hỏi cần có những thay đổi về cách tiếp cận và xác định cơ cấu nhân lực phù hợp, đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ với những thách thức trong quá trình nâng cao chất lượng bảo vệ, CSSK nhân dân và hội nhập quốc tế. Công tác điều dưỡng có vai trò quan trọng trong hoạt động CSSK nhân dân, đội ngũ ĐDV chiếm tỷ lệ đa số trong cơ cấu NLYT. Hoạt động đào tạo NNLĐD của nước ta đã đạt được một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ những vấn đề bất cập như chưa xác định rõ cơ cấu nhân lực cần thiết trong hệ thống y tế, số lượng các cơ sở đào 3 tạo (CSĐT) và quy mô đào tạo tăng nhanh chưa gắn với yêu cầu hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực của ngành y tế. Hoạt động QLNN về đào tạo NNLĐD cũng bộc lộ những vấn đề cần phải giải quyết như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, bộ máy quản lý còn chồng chéo chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan QLNN về GD&ĐT với cơ quan quản lý ngành. Về hội nhập quốc tế, ngày 31/12/2015, Cộng đồng Kinh tế các nước khu vực Đông Nam Á (ASEAN) đã chính thức thành lập, hình thành thị trường lao động tự do lưu chuyển đối với những người đã qua đào tạo, trong đó có nhân lực điều dưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ