Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những nghiên cứu liên quan đến phát triển năng lực CNTT trong dạy học cho SVSP ở trường đại học tập trung vào hai hướng chính, đó là: (i) Nghiên cứu về năng lực CNTT trong dạy học; (ii) Nghiên cứu về phát triển năng lực CNTT trong dạy học cho SVSP. Nghiên cứu về năng lực công nghệ thông tin trong dạy học Các tổ chức EU, UNESCO, OECD đã đầu tư nhiều dự án nghiên cứu về năng lực CNTT nhằm giúp chính phủ, các tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân phát triển năng lực CNTT. Từ năm 2005, EU đã thực hiện nhiều dự án và ban hành Khung năng lực điện tử Châu Âu, European e-Competence Framework, mô tả hệ thống năng lực CNTT dành cho nhiều đối tượng, trong đó có các tổ chức và cơ sở giáo dục [72].
Dự án "e-Skill and ICT professionalism: Fostering the ICT Profession in Europe" của EU hỗ trợ phát triển Khung năng lực Châu Âu đối với chuyên gia CNTT, với mục tiêu nâng cao tính chuyên nghiệp và di động trên khắp Châu Âu. Dự án cũng kết hợp hỗ trợ phát triển chương trình đào tạo ở Châu Âu cho các nhà quản lý CNTT [87]. UNESCO chủ yếu tập trung nghiên cứu năng lực CNTT trong giáo dục, cụ thể là năng lực CNTT của giáo viên. Khung năng lực CNTT-TT đối với giáo viên được UNESCO công bố lần đầu tiên vào năm 2008 và hiệu chỉnh vào năm 2011, giúp cho các nhà làm chính sách giáo dục, các nhà phát triển công nghệ chuyên nghiệp, các cơ sở đào tạo xác định, thực hiện và đánh giá việc sử dụng CNTT trong đào tạo giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng GD, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đồng thời, đây cũng là tiêu chuẩn để giáo viên cải thiện việc sử dụng CNTT trong lĩnh vực công tác của mình, tích hợp CNTT trong hoạt động SP, tổ chức dạy học; phát triển chuyên môn để nâng cao các kỹ năng SP, hợp tác, lãnh đạo và đổi mới nhà trường bằng cách sử dụng CNTT [101]. 11 Ananiadou và Claro (2009) xác định những kỹ năng và năng lực của người học trong thế kỷ 21 dựa trên khảo sát từ các nước thuộc OECD. Trong đó, năng lực CNTT là một trong những năng lực người học cần phải có trong thế kỷ mới này. Tác giả cũng phân tích rõ sự khác nhau giữa kỹ năng và năng lực.
Các nước thuộc OECD cũng đã xây dựng khung năng lực CNTT quốc gia cho các lĩnh vực công nghiệp và giáo dục [60]. Pérez và Murray (2010) cho rằng năng lực CNTT liên quan đến học vấn máy tính. Theo các tác giả, học vấn máy tính được xác định dựa trên học vấn công nghệ của cá nhân, thông thạo máy tính, năng lực sử dụng máy tính, học vấn không gian mạng, học vấn kỹ thuật số và điện tử; trong đó tập trung vào khả năng sử dụng các phần mềm ứng dụng cụ thể như xử lý văn bản, bảng tính hoặc các phần mềm trình chiếu. Năng lực CNTT thường được hiểu là những kiến thức và kỹ năng cần thiết để sử dụng có hiệu quả phần cứng và phần mềm [90].
Romani (2009), Ferrari (2012) cùng nghiên cứu về học vấn số và năng lực kỹ thuật số. Theo Romani, trình độ để xây dựng kiến thức mới, dựa trên việc sử dụng CNTT được gọi là học vấn kỹ thuật số. Người có học vấn kỹ thuật số nghĩa là có năng lực sử dụng CNTT để truy cập, lưu trữ, quản lý, chia sẻ thông tin, giao tiếp với nhiều định dạng văn bản hoặc đa phương tiện [92]. Trong khi đó, Ferrari cho rằng năng lực kỹ thuật số là tập hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ được yêu cầu khi sử dụng CNTT-TT và phương tiện truyền thông kỹ thuật số để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, giao tiếp, quản lý thông tin, hợp tác, tạo và chia sẻ nội dung một cách hiệu quả, phù hợp, sáng tạo, tự chủ, linh hoạt và có đạo đức [73].
Tác giả Finegold và Notabartolo tổng hợp các nghiên cứu và đề xuất khung năng lực thế kỷ 21 gồm 15 năng lực phân thành 5 loại. Một trong số đó là Xử lý thông tin bao gồm: Học vấn thông tin, Học vấn phương tiện, Công dân số, Khái niệm và hoạt động CNTT-TT [74]. Tuy có sự khác nhau trong xem xét năng lực CNTT như một năng lực độc lập hoặc hàm chứa, thành phần của học vấn máy tính, học vấn số, năng lực số…, nhưng điểm chung của các nghiên cứu trên là năng lực CNTT gắn liền với kỹ năng sử dụng máy tính để khai thác, xử lý và chia sẻ thông tin. 12 Các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng trong rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ứng dụng CNTT trong giáo dục, năng lực tích hợp CNTT trong dạy học của giáo viên là một yếu tố tác động mạnh mẽ nhất.
Trong môi trường giáo dục, CNTT không tự đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học mà vai trò của giáo viên là hết sức quan trọng. Trong "Instructional Media and Technologies for Learning", Smaldino và các tác giả (2005) chỉ rõ vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học đã thay đổi khi CNTT xuất hiện trong lớp học, từ người trình diễn thông tin đến điều phối viên tài nguyên học tập [96]. Giáo viên trở thành "hướng dẫn viên bên cạnh" chứ không phải là "nhà hiền triết trên sân khấu". Nhu cầu đội ngũ giáo viên có năng lực CNTT của các cơ sở giáo dục ngày càng tăng.
Cùng quan điểm trên, Chaib và Svensson (2005) cho rằng học sinh cần phải hiểu biết về CNTT để thực hiện tốt công việc của người công dân trong tương lai và giáo viên phải có nhiệm vụ giúp đỡ họ có được hiểu biết này. Chỉ có giáo viên đã được đào tạo sử dụng CNTT mới có khả năng giám sát và tư vấn cho học sinh một cách hiệu quả [66]. Các tác giả đã nghiên cứu để tìm giải đáp cho các câu hỏi "Nhận thức của giáo viên về việc tích hợp CNTT với phương pháp sư phạm trong lớp học như thế nào? " và "Những thách thức mới giáo viên sẽ phải đối mặt và vị trí mới của giáo viên trong xã hội thông tin là gì?". Akpan nghiên cứu về năng lực CNTT và hiệu quả công việc của giảng viên các trường đại học thuộc Bang Cross River của Nigeria.
Nghiên cứu cho thấy năng lực CNTT của các giảng viên nâng cao hiệu quả công việc của họ. Những giảng viên có năng lực CNTT cao đạt hiệu quả dạy học cao hơn. Tác giả khuyến nghị giảng viên cần có động lực để phát triển năng lực CNTT và nhà trường nên khuyến khích họ tham gia các chương trình đào tạo CNTT, cung cấp phương tiện CNTT để họ nâng cao hiệu quả dạy học [58]. Các tác giả Sabaliauskas, Bukantaitė và Pukelis (2006) nghiên cứu và lựa chọn các lĩnh vực năng lực CNTT của giáo viên trên cơ sở các quy định và chuẩn đã công bố.
Tác giả khẳng định rằng để sử dụng CNTT trong lớp học, giáo viên cần có: năng lực CNTT cơ bản, năng lực công nghệ, năng lực chính sách CNTT, năng lực trong lĩnh vực đạo đức sử dụng CNTT, năng lực tích hợp CNTT vào các chủ đề 13 giảng dạy, năng lực phương pháp sử dụng CNTT, năng lực quản lý quá trình giảng dạy và học tập với CNTT [93]. Ở Việt Nam, dễ dàng tìm thấy nhiều luận án liên quan đến ứng dụng CNTT trong dạy học các bộ môn thuộc khoa học tự nhiên, công nghệ và kỹ thuật, xã hội và nhân văn ở tất cả các cấp học từ phổ thông đến đại học. Điển hình là các nghiên cứu gần đây của các tác giả Lê Thị Thanh Huyền (2011) về ứng dụng CNTT trong dạy học hình họa - vẽ kỹ thuật ở trường đại học [35], Nguyễn Thị Xuân (2011) về ứng dụng CNTT trong dạy học công nghệ 12 [55], Phạm Ngọc Sơn (2012) về ứng dụng ứng dụng CNTT trong dạy học phần hóa học hữu cơ THPT [47], Nguyễn Quang Thuận (2013) về ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học [49], Đào Thị Lan Hương (2014), về ứng dụng CNTT trong dạy học cơ chế phản ứng hữu cơ ở trường đại học [32]. Các tác giả trên xem CNTT là một phương tiện dạy học hiện đại và nghiên cứu đề xuất các biện pháp sử dụng phương tiện CNTT trong dạy học bộ môn để nâng cao chất lượng dạy học.
Tuy nhiên, tương tự như các nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập, các nghiên cứu ở Việt Nam cũng chưa xây dựng được khung lý luận về năng lực CNTT trong dạy học. Nghiên cứu về phát triển năng lực công nghệ thông tin trong dạy học cho sinh viên sư phạm Về phát triển năng lực CNTT trong dạy học cho SVSP, trước hết phải kể đến các nghiên cứu về chương trình đào tạo giáo viên được UNESCO (2013) giới thiệu [102], bao gồm: - Nghiên cứu của Cher Ping LIM tại Đại học Edith Cowan chỉ ra thách thức đối với đào tạo giáo viên là phải thay đổi niềm tin của SVSP từ sư phạm truyền thống sang phương pháp tiếp cận kiến tạo trong một môi trường học tập CNTT-TT nâng cao. Các khóa học dựa trên nguyên tắc kiến tạo và cung cấp cho họ sự hiểu biết tốt hơn về cách sử dụng CNTT nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. - Nghiên cứu của Jianhua Zhao đánh giá về khóa học "Máy tính trong giáo dục" tại South China Normal University (SCNU).
Khóa học có thể đáp ứng các yêu cầu của giáo dục có sự trợ giúp của máy tính trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Hoạt động giảng dạy và thực tập giảng dạy áp dụng trong khóa học này được sử 14 dụng để cải thiện việc học của sinh viên, tạo động lực phát triển năng lực sử dụng máy tính trong dạy học. - Nghiên cứu của Hyeonjin Kim về khóa học "Lý thuyết và thực hành phát triển phương tiện dạy học" của Đại học giáo dục Quốc gia Hàn Quốc (KNUE). Khóa học giới thiệu về lý thuyết và đánh giá các tài liệu, phương tiện giảng dạy CNTT.
Khóa học thực hiện các dự án. Những bài học kinh nghiệm trong từng dự án trở thành cơ sở cho các kế hoạch và các dự án khác. Febro and Amelia T. Buan tìm hiểu các ứng dụng của hai khóa học công nghệ giáo dục tại Đại học bang Mindanao - Philipin.
Công nghệ giáo dục 1: giới thiệu về công nghệ và phương pháp giáo dục, bao gồm cả lý thuyết, nguyên tắc phát triển và sử dụng trong lớp học.