Chương 1: Tổng quan các vấn đề liên quan đến công nghiệp hỗ trợ ô tô - Chương 2: Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ ô tô - Chương 3: Phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô tại Hàn Quốc và Thái Lan - Chương 4: Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ ô tô Việt Nam 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ô TÔ 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến công nghiệp hỗ trợ 1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về công nghiệp hỗ trợ Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về CNHT, các nghiên cứu này đã phân tích về khái niệm và vai trò của CNHT trong nền kinh tế nói chung và trong ngành công nghiệp nói riêng. Nền kinh tế thế giới với tính cạnh tranh ngày càng cao, đòi hỏi các quốc gia nâng cao lợi thế cạnh tranh, hợp tác sản xuất trong chuỗi giá trị toàn cầu, giá trị sản phẩm cuối cùng được cấu thành bởi những giá trị bộ phận được tạo ra bởi vô số các công ty vệ tinh của công ty mẹ và mạng lưới sản xuất của các công ty đa quốc gia.
Nhật Bản là một nước công nghiệp phát triển trên thế giới, các thương hiệu nổi tiếng của Nhật Bản về điện tử và ô tô từ lâu đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Để đạt được những thành công như vậy là do Nhật Bản đã xây dựng được một nền CNHT vững mạnh, làm đòn bẩy thúc đẩy các ngành công nghiệp lắp ráp phát triển. Nhật Bản cũng là nước có những nghiên cứu sớm nhất về CNHT. Năm 1985, khái niệm “công nghiệp hỗ trợ” lần đầu tiên được đề cập đến trong “White paper on Industry and Trade‖- một nghiên cứu của Bộ Công nghiệp và Ngoại thương Nhật Bản (MITI) [124].
CNHT ban đầu là thuật ngữ dùng để chỉ các DNNVV đóng góp vào sự phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước châu Á trong trung và dài hạn. CNHT được coi là chân núi nếu coi toàn bộ quy trình sản xuất ra một sản phẩm là một quả núi và công nghiệp lắp ráp là đỉnh núi. Các tác giả đã nhấn mạnh vị trí của các DN sản xuất linh phụ kiện trong quá trình CNH-HĐH của nhóm các nước ASEAN, DNNVV chính là cốt lõi trong sự phát triển của CNHT. Năm 1993, Bộ Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) định nghĩa về CNHT là ngành cung cấp các yếu tố đầu vào cần thiết như nguyên liệu thô, linh kiện, vốn,.
cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện, điện tử). Năm 2004, Phòng năng lượng Hoa Kỳ trong ấn phẩm năm 2004 với tên gọi “Công nghiệp hỗ trợ: công nghiệp của tương lai‖ định nghĩa CNHT là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm 7 trước khi đưa ra ngoài thị trường. Michael Porter đã khẳng định quan điểm một ngành công nghiệp muốn phát triển phải cơ bản dựa vào điều kiện các yếu tố sản xuất, chiến lược cạnh tranh của công ty, điều kiện về nhu cầu và các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ thông qua mô hình kim cương được đề cập trong nghiên cứu ―Competitive Advantage of nation‖ [134]. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản lại một lần nữa khẳng định vai trò của CNHT là nền tảng để có một nền công nghiệp vững mạnh.
Giá trị tạo ra tại khu vực CNHT chiếm tỷ trọng cao trong ngành. Từ đó đưa ra yêu cầu tất yếu phải phát triển CNHT qua Báo cáo “Investigation Report for Industrial Development: Supporting Industry Sector‖ [93] của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Tác giả Thomas Brandt cũng nêu rõ vai trò của CNHT cơ khí đối với tổng thể ngành công nghiệp Malaysia qua nghiên cứu “Industries in Malaysia Engineering Supporting Industry‖ [60]. Ngành cơ khí là ngành CNHT có phạm vi rộng, cung cấp phần lớn yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp khác.
Gia tăng giá trị tại ngành này sẽ tạo thêm giá trị cho ngành thượng nguồn. Khẳng định tầm quan trọng của CNHT trong việc thu hút vốn FDI trong khu vực công nghiệp chế tạo là quan điểm của tác giả Prema-Chandra Athukorala trong nghiên cứu “FDI in Crisis and Recovery: Lessons from the 1997-98 Asian Crisis‖ [56]. Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa việc sản xuất các bộ phận của các sản phẩm công nghiệp chính với việc thu hút vốn FDI, khẳng định việc thu hút vốn FDI phụ thuộc phần lớn vào việc có một nền công nghiệp chế tạo phát triển. Nếu các nước tiếp nhận FDI không có một nền CNHT vững mạnh thì các doanh nghiệp FDI sẽ bị phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu khiến cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn.
Cùng quan điểm trên trong việc xác định những yếu tố ưu tiên đầu tư, Cơ quan Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) thông qua Báo cáo “Japanese - Affiliated Manufactures in Asia‖ [92] đã chú trọng đến khả năng đáp ứng các sản phẩm hỗ trợ của nước tiếp nhận đầu tư. Theo đó khẳng định một trong những yếu tố quyết định đầu tư của Nhật Bản là sự sẵn có của nguồn cung các sản phẩm tại nước sở tại. Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) qua một nghiên cứu khảo sát “Servey Report on Overseas Business Operations by Japanese Manufacturing 8 Companies‖ [90] đã tổng hợp về tình hình hợp tác đầu tư của các công ty Nhật Bản ở Châu Á. Nghiên cứu này phân tích những yếu tố để các nhà đầu tư Nhật Bản tiến hành xây dựng các nhà máy sản xuất tại khu vực Châu Á, trong đó yếu tố về CNHT được đánh giá cao.
Tác giả McNamara trong báo cáo ―Integrating Supporting Industries - APEC‘s Next Challenge‖ [123] của Trung tâm nghiên cứu thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) khẳng định phát triển CNHT để thúc đẩy đầu tư của các nước trong khối APEC. CNHT là điều kiện để thu hút đầu tư nhằm giảm chi phí và tận dụng lợi thế so sánh của mỗi nước. Cùng quan điểm trên có tác giả Peter Larkin với nghiên cứu “Comprehensive Supporting Industries‖ [113] đã khẳng định vai trò của CNHT trong việc thu hút FDI thúc đẩy nền kinh tế Thái Lan phát triển lâu dài và bền vững. Nhóm công trình nghiên cứu về các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Xu hướng toàn cầu hóa đang tạo điều kiện thuận lợi các MNE có thể đa dạng hóa nguồn cung.
Nếu các DN trong nước không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của các nhà sản xuất (chủ yếu là các MNE) thì phương án nhập khẩu từ các nước khác sẽ được lựa chọn. Tác giả Goh Ban Lee trong nghiên cứu ―Linkage between the Multinatinl Corporations and Local Supporting Industries‖ [119] khẳng định chính sự phân công lao động và hợp tác sản xuất sản phẩm công nghiệp với các MNE, đặc biệt là các tập đoàn điện tử của Nhật Bản sẽ là yếu tố thúc đẩy toàn bộ nền CNHT phát triển. Những nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phân tích vai trò của các MNE Nhật Bản trong việc phát triển CNHT tại các nước Châu Á qua Báo cáo “Servey Report on Overseas Business Operations by Japanese Mnufacturing Companies‖ do Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) công bố năm 2004 [90]. Các MNE mở rộng mạng lưới của mình tại các quốc gia khác nhau và tăng cường hoạt động mua ngoài, thúc đẩy sự phát triển của CNHT địa phương.
Tác giả Ryui Chiro Inoue với tác phẩm ―Future prospects of Supporting Industries in ThaiLand and Malaysia‖ [87]; nhóm tác giả Hamlim Mohn Noor, Roger Clarke, Nigel Driffield với nghiên cứu ―Multinational Enterprises and 9 Technological Effort by Local Firms: A Case Study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry‖ [129] phân tích mối liên kết của MNE và các DN nội địa trong lĩnh vực CNHT tại Thái Lan và Malaysia. Các tác giả khẳng định sự liên kết trên là động lực nâng cao công nghệ cho các quốc gia này. Vai trò của DNNVV trong phát triển CNHT được khẳng định qua một số nghiên cứu ―White paper on Industry and Trade‖ [124]; tác giả D.McNamara với nghiên cứu ―Integrating Supporting Industries‖ [123]; và nghiên cứu “The Role of Small and Medium Supporting Industries in Japan and Thailand” [69] của Ratana. Các nghiên cứu này đều đồng quan điểm cho rằng các DNNVV là khu vực chính cung cấp các sản phẩm CNHT.
Phát triển CNHT khiến cho các DN tập trung chuyên môn vào các khâu mà mình có khả năng sản xuất với mức chi phí hợp lý nhất. Kết quả là, nền công nghiệp có sự phân công lao động sâu sắc và cơ cấu kinh tế mới được hình thành. CNHT vững mạnh là điều kiện để phát triển DNNVV. Ngược lại, DNNVV lại là nền tảng cho CNHT.
Phát triển hệ thống thầu phụ bao gồm các DNNVV là một biện pháp hữu hiệu để đối phó với khủng hoảng kinh tế, giảm thiểu rủi ro cho các MNE. Sự mở rộng mạng sản xuất của các tập đoàn này cũng sẽ kéo theo sự phát triển của cả một hệ thống CNHT bao gồm các DNNVV. Nhóm các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam Tác giả Lê Thế Giới trong cuốn ―Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam- Lý thuyết, thực tiễn và chính sách‖ [9] đã đưa ra khái niệm và mô hình phát triển các ngành CNHT, trong đó có ngành CNHT ô tô. Đồng thời phân tích các yếu tố có tác động và các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của CNHT.
Các mô hình phát triển CNHT cũng được đưa ra trong nghiên cứu, trong đó có các quốc gia có thế mạnh về CNHT ô tô như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan. Từ đó đề xuất định hướng chính sách phát triển CNHT tại Việt Nam, đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Tác giả tập trung vào phân tích CNHT dưới góc độ sự tập trung DN trong một vùng tạo nên hệ sinh thái kinh doanh. Các chính sách theo định hướng tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa các DN trong vùng, đặc biệt ưu tiên các DNNVV.
Tác giả Hoàng Văn Châu đã phân tích một số vấn đề lý luận về CNHT và chính sách phát triển CNHT trong cuốn ―Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của 10 Việt Nam‖ [5]. Tác giả đã phân tích khái niệm CNHT dưới góc độ lịch sử và cấu trúc ngành, đánh giá các yếu tố quyết định đến sự phát triển của CNHT bao gồm yếu tố về thị trường, cấu trúc công nghiệp, môi trường chính sách, nguồn thông tin, nguồn nhân lực. Nghiên cứu cũng chỉ ra các mô hình phát triển CNHT đặc trưng trên thế giới bao gồm Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc được phân tích để đưa ra kinh nghiệm cho Việt Nam.