Luận án: Pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại ở Việt Nam - TS. Nguyễn Thị Hương

Luận án tiến sĩ pháp luật chuyên sâu về cơ chế xử lý tài chính hiệu quả cho tái cấu trúc ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phân tích các khía cạnh pháp lý và

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2021

182
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại

Tái cấu trúc ngân hàng thương mại là quá trình tổ chức lại hoạt động nhằm khắc phục yếu kém, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Xử lý tài chính đóng vai trò then chốt trong toàn bộ tiến trình này. Pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung quy định tương đối đầy đủ về vấn đề này. Các quy định trải rộng trên nhiều văn bản từ Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ Luật dân sự đến các quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu cốt lõi là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, duy trì an toàn hệ thống tài chính quốc gia. Quá trình xử lý tài chính bao gồm đánh giá tài sản, xử lý nợ xấu, phân bổ vốn và thanh toán các nghĩa vụ tài chính. Pháp luật cũng quy định rõ trình tự, thủ tục áp dụng cho từng hình thức tái cấu trúc như sáp nhập, hợp nhất, mua lại bắt buộc. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có vai trò giám sát quan trọng trong quá trình này.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của xử lý tài chính

Xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại là tổng hợp các biện pháp pháp lý nhằm sắp xếp lại tình hình tài chính của ngân hàng yếu kém. Bản chất pháp lý thể hiện ở việc Nhà nước can thiệp bằng công cụ pháp luật để điều chỉnh quan hệ tài chính phát sinh. Các biện pháp bao gồm định giá tài sản, xử lý nợ tồn đọng, thu hồi vốn và phân chia quyền lợi giữa các bên liên quan. Pháp luật yêu cầu quá trình này phải đảm bảo tính minh bạch, công bằng và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đặc biệt, quyền lợi của người gửi tiền luôn được đặt lên hàng đầu trong mọi quyết định xử lý tài chính.

1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật tái cấu trúc

Cơ sở lý luận của pháp luật xử lý tài chính dựa trên nhiều nền tảng khoa học pháp lý quan trọng. Lý thuyết về nhà nước và pháp luật theo chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng gốc rễ. Lý thuyết về tự do thỏa thuận trong kinh doanh giúp giải quyết quyền lợi cổ đông trong quá trình tái cấu trúc. Lý thuyết về hợp đồng bảo vệ quyền lợi khách hàng, đặc biệt người gửi tiền. Thực tiễn cho thấy pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động kinh tế-xã hội. Quá trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu tuân thủ các chuẩn mực Basel về an toàn vốn ngân hàng.

II. Phân tích thực trạng pháp luật xử lý tài chính tái cấu trúc ngân hàng

Thực trạng pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 bộc lộ nhiều hạn chế. Hệ thống văn bản pháp luật còn phân tán, thiếu tính hệ thống giữa các cấp độ quy định. Nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình áp dụng thực tiễn. Giai đoạn này ghi nhận nhiều thương vụ tái cấu trúc thành công nhưng cũng không ít trường hợp gặp vướng mắc. Nợ xấu tại các ngân hàng yếu kém vẫn là bài toán nan giải với tỷ lệ duy trì ở mức cao. Việc xử lý tài sản bảo đảm gặp nhiều trở ngại do cơ chế định giá chưa đồng bộ. Pháp luật về phá sản ngân hàng gần như chưa được quy định cụ thể, tạo khoảng trống pháp lý lớn. Vai trò của Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam đã phát huy hiệu quả nhưng vẫn cần hoàn thiện thêm.

2.1. Kết quả đạt được trong xử lý tài chính tái cấu trúc

Giai đoạn 2010-2020, nhiều ngân hàng thương mại đã tái cấu trúc thành công thông qua sáp nhập và hợp nhất. Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giảm đáng kể từ mức hơn 17% xuống dưới 3%. Các ngân hàng đạt chuẩn Basel II ngày càng tăng, nâng cao năng lực tài chính. VAMC đã thu mua và xử lý hàng trăm nghìn tỷ đồng nợ xấu. Hệ thống pháp luật dần hoàn thiện với Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2017. Các quy định về an toàn vốn, quản trị rủi ro từng bước tiếp cận chuẩn mực quốc tế. Người gửi tiền được bảo vệ tốt hơn qua cơ chế bảo hiểm tiền gửi.

2.2. Hạn chế và bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về phá sản ngân hàng thương mại. Cơ chế định giá tài sản khi tái cấu trúc thiếu đồng bộ, gây thiệt hại cho các bên liên quan. Quyền lợi cổ đông nhỏ chưa được bảo vệ đầy đủ trước cổ đông lớn trong quá trình sáp nhập. Pháp luật chưa quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tái cấu trúc thất bại. Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm phức tạp, kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ thu hồi nợ. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý chưa nhịp nhàng, dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót. Các quy định về M&A ngân hàng còn thiếu chi tiết, đặc biệt trong định giá thương hiệu.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật xử lý tài chính tái cấu trúc ngân hàng

Hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại đòi hỏi tiếp cận đa chiều. Trước hết, cần xây dựng Luật riêng về tái cấu trúc tổ chức tín dụng thay vì quy định rải rác như hiện nay. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế định giá tài sản độc lập, minh bạch đảm bảo quyền lợi các bên. Thứ ba, bổ sung quy định về phá sản ngân hàng với trình tự đặc biệt bảo vệ người gửi tiền. Thứ tư, nâng cao vai trò của VAMC trong xử lý nợ xấu theo cơ chế thị trường. Thứ năm, xây dựng tiêu chuẩn rõ ràng về đánh giá năng lực tài chính trước khi tiến hành tái cấu trúc. Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế trong giám sát ngân hàng liên quốc gia. Thứ bảy, hoàn thiện cơ chế bảo hiểm tiền gửi phù hợp với thông lệ Basel. Cuối cùng, đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu về pháp lý ngân hàng phục vụ quá trình tái cấu trúc.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm

Xử lý nợ xấu là nhiệm vụ trọng tâm trong tái cấu trúc ngân hàng thương mại. Pháp luật cần quy định rõ cơ chế mua bán nợ theo giá thị trường thay vì giá mệnh giá như trước. Cần xây dựng sàn giao dịch nợ xấu tập trung nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Quy định về bán nợ cho nhà đầu tư nước ngoài cần được nới lỏng đi kèm điều kiện bảo vệ an ninh tài chính. Cơ chế xử lý tài sản bảo đảm cần đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian. Đặc biệt, pháp luật phải quy định rõ thứ tự ưu tiên thanh toán khi ngân hàng giải thể để bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.

3.2. Nâng cao hiệu quả giám sát và quản trị rủi ro ngân hàng

Giám sát hiệu quả là điều kiện tiên quyết để phát hiện sớm ngân hàng yếu kém cần tái cấu trúc. Ngân hàng Nhà nước cần áp dụng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên tiêu chí Basel III về tỷ lệ an toàn vốn. Pháp luật phải quy định rõ tiêu chí đánh giá sức khỏe tài chính ngân hàng theo chu kỳ. Cần tăng cường vai trò độc lập của kiểm toán nội bộ và hội đồng quản trị. Quy định về công khai thông tin tài chính phải nghiêm ngặt hơn nhằm tăng tính minh bạch. Hợp tác quốc tế trong giám sát ngân hàng xuyên quốc gia cần được luật hóa thành quy định cụ thể.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn pháp luật tái cấu trúc ngân hàng

Luận án tiến sĩ về pháp luật xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị. Kết luận chính khẳng định pháp luật hiện hành đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng nhưng vẫn cần hoàn thiện đáng kể. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu thể hiện ở nhiều khía cạnh. Các kiến nghị chính sách được đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng học thuật về pháp luật ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý ngân hàng và nhà đầu tư. Quá trình tái cấu trúc ngân hàng tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2021-2030. Pháp luật cần đồng bộ hóa với thực tiễn để đảm bảo quá trình tái cấu trúc diễn ra thuận lợi, hiệu quả.

4.1. Đóng góp khoa học và giá trị học thuật của luận án

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về pháp luật xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng pháp luật giai đoạn 2010-2020. Các đánh giá, phân tích dựa trên dữ liệu thực tiễn phong phú từ nhiều thương vụ tái cấu trúc cụ thể. Luận án đề xuất mô hình pháp lý hoàn chỉnh, có tính ứng dụng cao cho Việt Nam. Đóng góp quan trọng nhất là khung tiêu chí đánh giá hiệu quả xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng. Nghiên cứu cũng bổ sung góc nhìn so sánh với pháp luật quốc tế, đặc biệt kinh nghiệm từ các nước phát triển.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng nghiên cứu tiếp theo

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trực tiếp cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng thương mại yếu kém trong thời gian tới. Các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật có thể được Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ xem xét đưa vào dự thảo luật. Ngân hàng Nhà nước có thể tham khảo mô hình giám sát được đề xuất trong luận án. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào pháp luật phá sản ngân hàng và vai trò fintech trong tái cấu trúc. Nghiên cứu so sánh pháp luật các nước ASEAN về tái cấu trúc ngân hàng cũng là hướng đi tiềm năng. Tác giả khuyến nghị đào tạo nguồn nhân lực pháp lý chuyên sâu phục vụ lĩnh vực này.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài chính và pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và nâng cao hiệu quả thực thi 7 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình liên quan đến khái niệm tái cấu trúc ngân hàng thương mại, xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại Nội dung đầu tiên, quan trọng cần phải giải quyết khi nghiên cứu pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM là khái niệm TCT NHTM và XLTC khi TCT NHTM. Bởi vì, nếu như nghiên cứu sinh không làm rõ được hai khái niệm này thì sẽ không xác định được hoặc xác định không chính xác các nội dung khác đặc biệt là nội dung của pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM.

Thứ nhất, đối với khái niệm TCT NHTM, nghiên cứu sinh xin kế thừa những thành công của các công trình khoa học trước đó. Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu khoa học đều có những nhận định riêng về khái niệm này. Vì thế, tác giả vẫn phân tích và chỉ ra quan điểm của một số nhà khoa học nổi bất về khái niệm TCT NHTM. Cụ thể: Trong bài nghiên cứu: “Tiếp tục TCT hệ thống ngân hàng Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng số 128/2013, hai tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh Hùng đã trình bày quan điểm của Ngân hàng thế giới về TCT ngân hàng như sau: “TCT ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng”.

Chúng ta cần lưu ý rằng, Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm về TCT ngân hàng nói chung chứ không chỉ riêng TCT NHTM. Khi đưa ra khái niệm TCT NHTM, Ngân hàng thế giới quan tâm nhiều tới mục tiêu của quá trình này. Chính khái niệm này đã giúp cho các nhà nghiên cứu trong đó có nghiên cứu sinh nhìn nhận được tổng quát về TCT ngân hàng nói chung và TCT NHTM nói riêng. Theo đó, đây là nhiệm vụ cấp bách giúp duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng.

Đồng thời trong bài viết này, hai tác giả Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh Hùng đã trình bày quan điểm của Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu về TCT ngân hàng. Cụ thể: “TCT ngân hàng là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng”. Điều quan trọng nhất mà nghiên cứu sinh học hỏi được từ quan điểm của Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu đó là xác định được những hoạt 8 động cụ thể của TCT ngân hàng. Những hoạt động đó bao gồm: TCT tài chính, TCT hoạt động và giám sát an toàn.

Như vậy, TCT tài chính là một bộ phận quan trọng của TCT ngân hàng. Chính nhận thức này đã giúp nghiên cứu sinh xác định được mối quan hệ giữa XLTC và TCT NHTM. XLTC thành công góp phần rất lớn thúc đẩy quá trình TCT NHTM. Trong bài viết: “TCT hệ thống NHTM ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập số tháng 10/2013, tác giả Vũ Văn Thực đã đưa ra định nghĩa TCT NHTM như sau: “TCT NHTM là việc thay đổi một, một vài hoặc tất cả các phương diện ngồn vốn, tài sản, tài chính, cơ cấu tổ chức, tư duy quản lý, cách thức quản trị, điều hành… để giúp các NHTM hoạt động an toàn, lành mạnh, có hiệu quả”.

Theo quan điểm này, TCT NHTM có thể diễn ra với quy mô lớn nhưng cũng có thể diễn ra với quy mô nhỏ tùy thuộc vào từng NHTM cụ thể. Mục đích cuối cùng của hoạt động TCT NHTM đó là giúp các NHTM hoạt động an toàn, lành mạnh, có hiệu quả. Trong cuốn sách “TCT hệ thống tài chính ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017), tác giả Lê Trung Thành phân tích định nghĩa TCT NHTM của Ủy ban Basel Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng. Theo đó: “TCT NHTM theo chuẩn mực Basel II là việc thay đổi, điều chỉnh các yếu tố liên quan như cấu trúc chiến lược, cấu trúc sở hữu, quản trị, tài chính, hoạt động và các thành phần khác… tạo nên cấu trúc tổng thể của NHTM cho phù hợp với các quy định của Hiệp ước Basel II”.

Như vậy, Ủy ban Basel đưa ra định nghĩa TCT NHTM dựa trên chuẩn mực mà Ủy ban này đã đưa ra. Các quốc gia là thành viên của hiệp ước khi thực hiện TCT NHTM cần phải quan tâm tới các chuẩn mực này như một nghĩa vụ quan trọng. Trong Luận án tiến sĩ kinh tế (năm 2014): “TCT hệ thống NHTM Việt Nam”, tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa lập luận và đưa ra quan điểm về TCT NHTM như sau: “TCT NHTM là thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống NHTM nhằm mục đích duy trì sự phát triển ổn định (bền vững, an toàn) và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và trung gian tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM”. Nhìn chung, quan điểm của tác giả Nguyễn Quỳnh Hoa có nhiều điểm giống so với các nhà khoa học khác.

Tuy nhiên, tác giả lại nhấn mạnh quá trình TCT NHTM nhằm khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống NHTM. Với quan điểm như vậy, nghiên cứu sinh sẽ đặt ra câu hỏi vậy TCT NHTM chỉ đặt ra khi hệ thống NHTM có khiếm khuyết? Trong điều kiện hoạt động bình thường, ổn định thì NHTM có nhất thiết phải TCT không? 9 John Hawkins và Philip Turner (1999), Bank restructuring in practice: An over view, Moneytary and economic Department Basel, Switzerland. Trong bài viết này, các tác giả phân tích tổng quát bản chất của quá trình TCT ngân hàng. Các tác giả đưa ra các lập luận nhằm xác định sự cần thiết phải TCT NHTM, bản chất của TCT NHTM, những nội dung cần thiết trong TCT NHTM… Những nội dung này trong bài viết có giá trị tham khảo rất lớn đối với nghiên cứu sinh.

Nghiên cứu sinh sẽ hiểu rõ được bản chất và những hoạt động chủ yếu trong quá trình TCT NHTM. Sau khi nghiên cứu một số quan điểm của các nhà khoa học đi trước về khái niệm TCT NHTM, nghiên cứu sinh thấy rằng tuy câu từ của mỗi định nghĩa có khác nhau nhưng về cơ bản nội dung có nhiều điểm tương đồng. Những điểm tương đồng đó là: - TCT NHTM là việc sửa chữa yếu kém để phát triển, thay đổi để phát triển mạnh hơn, tốt hơn và hoàn thiện hơn. TCT diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định chứ không phải trong suốt quá trình hoạt động của các NHTM.

- TCT NHTM bao gồm nhiều hoạt động như: TCT tài chính, TCT hoạt động sản xuất kinh doanh, TCT nhân sự… - Mục đích của TCT là làm cho các NHTM hoạt động hiệu quả hơn, an toàn hơn. Với những điểm kế thừa được của các công trình nghiên cứu đi trước về khái niệm TCT NHTM như vậy, nghiên cứu sinh sẽ lập luận và đưa ra khái niệm TCT NHTM của riêng mình. Thứ hai, về khái niệm XLTC khi TCT NHTM Khái niệm XLTC khi TCT NHTM, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào lập luận một cách sâu sắc để đưa ra khái niệm XLTC khi TCT NHTM. Vì thế, tác giả dự kiến sẽ phân tích từng khái niệm thành phần đó là: Xử lý là gì? Tài chính là gì? XLTC là gì? Và sau đó kết hợp với khái niệm TCT NHTM phân tích trước đó, nghiên cứu sinh sẽ đưa ra khái niệm XLTC khi TCT NHTM.

Đối với khái niệm xử lý, nghiên cứu sinh dự kiến sẽ xem trong Từ điển Tiếng Việt là phù hợp nhất. Bởi vì đây là khái niệm mang tính phổ thông chứ không phải là khái niệm của chuyên ngành nào đó. Khái niệm tài chính, nghiên cứu sinh dự kiến tham khảo những công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành kinh tế. Theo đó, trong bài viết: “Khái niệm về tài chính” đăng trên Website: quantri.vn, tác giả Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn đã phân tích và đưa ra khái niệm tài chính như sau: “Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.

Phát sinh 10 trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định”. Theo quan điểm này, hai tác giả muốn nhấn mạnh vào quá trình phân phối các nguồn của cải, vật chất trong xã hội. Tuy nhiên, trước khi đưa ra khái niệm này, hai tác giả cũng chỉ ra rằng: Nguồn tài chính không chỉ hình thành từ các quỹ tiền tệ mà còn từ những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ. Những tài sản này khi cần có thể chuyển hóa thành tiền tệ để trở thành các nguồn tài chính.

Như vậy, nghiên cứu sinh cho rằng, khái niệm tài chính phải được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tài chính sẽ là quá trình phân phối của cải vật chất. Theo nghĩa hẹp, tài chính là tiền tệ và những tài sản hiện vật có khả năng chuyển hóa thành tiền tệ. Và với đề tài: “Pháp luật về XLTC khi TCT NHTM ở Việt Nam”, nghiên cứu sinh sử dụng khái niệm tài chính theo nghĩa hẹp.

Trong Luận án tiến sĩ Kinh tế: “Giải pháp TCT tài chính các doanh nghiệp trong ngành thép ở Việt Nam” – Học viện Tài chính, năm 2016, tác giả Đặng Phương Mai đưa ra khái niệm TCT tài chính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ