Luận án tiến sĩ pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước

Luận án tiến sĩ pháp luật phân tích cơ chế kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, đánh giá hiệu quả và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

169
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ pháp luật này tập trung vào việc nghiên cứu kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Phần tổng quan đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này. Ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, các công trình này thường thiếu tính hệ thống và chưa đầy đủ. Ở nước ngoài, các nghiên cứu về quản lý vốn nhà nướcchính sách tài chính đã được thực hiện rộng rãi, đặc biệt là ở các nước như Trung Quốc, Hungary, và Singapore. Những nghiên cứu này cung cấp nhiều kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật liên quan.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính và quản trị doanh nghiệp. Các công trình như của PGS.TS Lê Hồng Hạnh và TS. Hoàng Đức Long đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nướcquản lý vốn nhà nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường thiếu tính hệ thống và chưa đầy đủ, đặc biệt là trong việc áp dụng pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật.

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nghiên cứu ở nước ngoài, đặc biệt là ở Trung Quốc, Hungary, và Singapore, đã cung cấp nhiều kinh nghiệm quý giá trong việc quản lý vốn nhà nướcđầu tư công. Các mô hình quản lý như Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước (SASAC) ở Trung Quốc và Temasek ở Singapore là những ví dụ điển hình. Những nghiên cứu này giúp Việt Nam có cái nhìn tổng quan về việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật.

II. Những vấn đề lý luận về kiểm soát vốn

Phần này làm rõ các khái niệm cơ bản về vốn nhà nướckiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Vốn nhà nước được hiểu là nguồn lực tài chính do nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp. Kiểm soát vốn là quá trình giám sát và quản lý việc sử dụng vốn này để đảm bảo hiệu quả kinh tế. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc kiểm soát vốn bao gồm quyền của chủ sở hữu, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, và yêu cầu hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp.

2.1. Khái niệm về vốn nhà nước

Vốn nhà nước là nguồn lực tài chính do nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp. Việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát vốn nhà nước.

2.2. Cơ sở lý luận của kiểm soát vốn

Cơ sở lý luận của kiểm soát vốn bao gồm quyền của chủ sở hữu, chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, và yêu cầu hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp. Việc kiểm soát vốn nhà nước cần được thực hiện một cách nghiêm ngặt để đảm bảo hiệu quả kinh tế và tránh thất thoát vốn.

III. Thực trạng pháp luật và thực tiễn kiểm soát vốn

Phần này phân tích thực trạng pháp luật về kiểm soát vốn và thực tiễn hoạt động kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Các phương thức kiểm soát vốn bao gồm kiểm soát thông qua đại diện chủ sở hữu, hoạt động của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC), kiểm soát nội bộ, kiểm toán, và giám sát đầu tư. Thực tiễn cho thấy, mặc dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật.

3.1. Các phương thức kiểm soát vốn

Các phương thức kiểm soát vốn bao gồm kiểm soát thông qua đại diện chủ sở hữu, hoạt động của SCIC, kiểm soát nội bộ, kiểm toán, và giám sát đầu tư. Mỗi phương thức có những ưu điểm và hạn chế riêng, cần được áp dụng linh hoạt để đạt hiệu quả cao nhất.

3.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật

Thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát vốn cho thấy nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc áp dụng quy định pháp luậtpháp luật doanh nghiệp. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế này và nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn.

IV. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật

Phần này đề xuất các quan điểm và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Các giải pháp bao gồm hoàn thiện pháp luật về tài chính, kế toán, thống kê, kiểm toán; thành lập cơ quan chuyên trách về đại diện chủ sở hữu nhà nước; và tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp. Những giải pháp này nhằm đảm bảo việc kiểm soát vốn được thực hiện một cách hiệu quả và nghiêm túc.

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật

Quan điểm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn cần đảm bảo sự đồng bộ và hệ thống. Việc hoàn thiện pháp luật cần được đặt trong tổng thể hoàn thiện pháp luật doanh nghiệpquy định pháp luật liên quan.

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát vốn bao gồm thành lập cơ quan chuyên trách, tăng cường tính công khai, minh bạch, và hoàn thiện các quy định về tài chính, kế toán, thống kê, kiểm toán. Những giải pháp này nhằm đảm bảo việc kiểm soát vốn được thực hiện một cách hiệu quả và nghiêm túc.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ pháp luật về kiểm soát vốn tại các doanh nghiệp có 100 vốn nhà nước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cổ phần hóa DNNN và chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam; Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa từ 1992 đến nay ở Việt Nam; Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam. Tại Chương 3, tác giả đề xuất một số giải pháp, trong đó đáng lưu ý nhất là: (1) đổi mới quy chế người đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa; (2) và giải pháp về tổ chức quản lý vốn nhà nước sau cổ phần hóa; (3) tăng cường năng lực cho Cục Tài chính DN (thuộc Bộ Tài chính); (4) tăng cường vai trò của SCIC trong quản lý và kinh doanh vốn nhà nước. Đặc biệt, luận án đã cho rằng, cần phải thành lập một cơ quan chuyên trách về quản lý vốn nhà nước với tên gọi là Tổng cục quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan ngang Bộ: Tổng Cục trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, tác giả luận án mới chỉ tập trung vào việc quản lý vốn nhà nước sau cổ phần hóa mà chưa đi vào việc kiểm soát vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp để trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung.

Mặt khác, ngay chỉ ra mô hình Tổng Cục quản lý vốn nhà nước cũng chưa tách được rõ ràng chức năng chủ sở hữu vốn và chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn góp nhà nước. Bài viết đăng trên tạp chí + Nguyễn Như Phát, “ An toàn pháp lý trong DNNN và quyền tự chủ về vốn và tài sản của DNNN”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/ 1997 và số 9/ 1999 Trong bài viết, tác giả cho rằng, với quan niệm tài sản trong DNNN thuộc sở hữu nhà nước, còn doanh nghiệp chỉ là người sử dụng (định đoạt trong một số trường hợp) sẽ phát sinh những hệ lụy như quyền tự chủ về vốn và tài sản của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế và điều đó sẽ cản trở tự do kinh doanh, hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNN, không phù hợp với kinh tế thị trường. Hơn nữa, khi DNNN thua lỗ không thanh toán được nợ thì sẽ gây rủi ro cho khách hàng, lúc này chủ sở hữu là nhà nước sẽ có vai trò gì? Tác giả kết luận an toàn pháp lý về mặt tài sản trong DNNN là rất thấp. Nguyễn Duy Long: “Cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Những vấn đề đặt ra”.

Tạp chí Tài chính số 9/2012. 13 Tại bài viết này, tác giả nhấn mạnh tới công tác quản lý, giám sát tài chính như một giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này, theo tác giả, cần phải đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước từ quản lý hành chính sang quan hệ đầu tư, kinh doanh vốn; xác định rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu vốn, người quản lý điều hành doanh nghiệp; tăng cường tính tự chủ cho doanh nghiệp có vốn nhà nước. Tác giả đã khẳng định rằng nếu hệ thống cơ chế quản lý, giám sát vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện thì chắc chắn sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng điều hành sản xuất kinh doanh của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước…Đề cập đến cơ chế kiểm soát hiện hành, tác giả cho rằng, pháp luật đã bước đầu xác lập rõ được quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tạo sự phân công, phân cấp giữa các cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố, Hội đồng quản trị (nay là Hội đồng thành viên) của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; thay đổi phương thức quản lý, giám sát từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, gắn với việc phân loại, đánh giá doanh nghiệp.

Bên cạnh đó tác giả cũng đã nêu ra một số hạn chế trong công tác thực thi pháp luật, đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp chưa được thực hiện một cách thường xuyên và thực chất. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn tại doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian tới. + Nguyễn Thị Minh Hằng - Cục tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính): “Quản lý và giám sát vốn nhà nước tại các DNNN hiện nay”. Tạp chí Tài chính số 9/2012, ngày 4/10/2012.

Giám sát vốn, tài chính được xem như là một trong những biện pháp quản lý, trong đó chủ sở hữu thông qua các hình thức, phương thức và các chỉ tiêu giám sát để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá của mình đối với các hoạt động của doanh nghiệp nói chung, DNNN nói riêng. Cũng qua việc giám sát tài chính, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có cơ sở để đánh giá hiệu quả hoạt động và phát hiện những rủi ro để cảnh báo cho doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng của giám sát vốn là nhằm bảo toàn và phát triển số vốn chủ sở hưu đã đầu tư vào doanh nghiệp, đặc biệt là DNNN. Phạm Tiến Đạt “ Một số giải pháp đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước”, Tạp chí quản lý nhà nước số 233 (6/2015) 14 Bài viết phân tích những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình tái cơ cấu DNNN.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc DNNN. Trong 6 giải pháp đưa ra, đáng lưu ý nhất là những giải pháp liên quan đến thay đổi cơ cấu sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Theo giải pháp này thì để nâng cao hiệu quả kinh doanh và vai trò dẫn dắt nền kinh tế của các doanh nghiệp có vốn nhà nước ta cần thay đổi cơ cấu sở hữu vốn tại doanh nghiệp theo hướng: thứ nhất: Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với tập đoàn nhà nước hoạt động ở các lĩnh vực tư nhân chưa làm được; thứ hai: các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải được cổ phần hóa trở thành các công ty cổ phần, hoạt động theo quy tắc và thông lệ thị trường. Ngoài ra, tác giả còn kiến nghị sớm nghiên cứu và triển khai tách chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu và chức năng quản lý hành chính nhà nước, chức năng thực hiện quyền chủ sở hữu với quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp 1.

Báo cáo, hội thảo khoa học + Ngày 30-1-2013, Bộ Tài chính phối hợp với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức hội thảo về “Định hướng và quan điểm xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp”. Đây là hội thảo đầu tiên được tổ chức trong chương trình xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu là trao đổi rộng rãi về quan điểm, mục tiêu và định hướng của việc xây dựng Luật cũng như những quy định nhằm quản lý, sử dụng vốn của nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Theo TS Vũ Như Thăng - Viện Chiến lược và Chính sách tài chính thì để kiểm soát vốn nhà nước tại các DNNN cần “xây dựng các quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu, mô hình giám sát đối với phần vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp”. Cũng theo tác giả, để thực hiện được điều này thì cần “quy định một cơ quan thực hiện giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp” và giao cho Cơ quan đó có các nhiệm vụ: thực hiện công tác quản lý, giám sát tài chính của cơ quan quản lý nhà nước và chủ sở hữu nhà nước đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp; xây dụng và tổ chức hệ thống giám sát tài chính doanh nghiệp; thực hiện quyền và nghĩa vụ về tài chính của chủ sở hữu đối với phần vốn nhà nước tại các doanhh nghiệp.

+ Toạ đàm: “Đổi mới cơ chế quản lý và sử dụng tài sản nhà nước trong doanh nghiệp”, “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của DNNN trong bối cảnh chuyển sang hoạt động theo LDN 15 2005”, do Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ tư pháp tổ chức ngày 24/11/2011. Nội dung toạ đàm tập trung vào hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là đổi mới cơ chế quản lý và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư và tìm ra giải pháp nhằm quản lý có hiệu quả và vấn đề thứ hai là khi các DNNN chuyển sang hoạt động theo LDN 2005 thì sẽ phát sinh những vấn đề pháp lý gì và các vấn đề đó cần phải được giải quyết theo phương hướng nào. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 1.

Sách nước ngoài OECD (2016), Broadening the Ownership of State-Owned Enterprises: A Comparison of Governance Practices, OECD Publishing, Paris (http://dx.1787/9789264244603-en) Cuốn sách này bàn về xu hướng mở rộng phạm vi quyền sở hữu của các DNNN tại một số quốc gia trên thế giới dưới góc nhìn so sánh như Trung Quốc, Ấn Độ, New Zealand, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ. Các tác giả tập trung đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: nguyên nhân nào dẫn đến xu hướng nói trên tại các quốc gia được khảo sát. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng nghiên cứu mối tương quan và ảnh hưởng của hai mục tiêu điều tiết kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội của DNNN với hoạt động quản trị doanh nghiệp của doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước. Từ những kinh nghiệm của năm nền kinh tế nói trên, cuốn sách kết luận rằng quyền sở hữu mở rộng thường có tác động tích cực vào kết quả hoạt động quản trị doanh nghiệp và hiệu suất của các DNNN.

Thực tiễn của các nước cho thấy xu hướng đa dạng hóa thành phần sở hữu trong DNNN không đi ngược lại với những lợi ích của Nhà nước. Tuy nhiên, vai trò của nhà nước thực tế đã tạo ra một số khác biệt trong quản trị doanh nghiệp so với thông lệ quản trị doanh nghiệp được nêu trong Hướng dẫn của OECD về quản trị doanh nghiệp của DNNN. Điều này dẫn đến một số quan ngại về quyền của các cổ đông khác trong DNNN; định hướng kinh doanh; tính độc lập của hội đồng quản trị, mâu thuẫn giữa mục tiêu thực hiện chính sách của nhà nước với mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp; tính minh bạch, công khai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ pháp luật: Kiểm soát vốn tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là một nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát vốn trong các doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào việc đảm bảo hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý, thách thức thực tiễn, và giải pháp nhằm tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý vốn. Độc giả sẽ được hưởng lợi từ những phân tích chi tiết và đề xuất cụ thể, giúp nâng cao hiểu biết về quản trị tài chính trong khu vực nhà nước.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan đến doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2020 từ thực tiễn tại thành phố hà nội, nghiên cứu về vai trò và trách nhiệm của người đại diện pháp lý. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật tổ chức lại doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh sơn la cung cấp góc nhìn sâu sắc về quy trình tổ chức lại doanh nghiệp. Đồng thời, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất thực tiễn áp dụng dưới góc nhìn doanh nghiệp xử lý nợ của tổ chức tín dụng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến lao động và trách nhiệm vật chất trong doanh nghiệp.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý và quản trị trong doanh nghiệp.