Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh Lê Thùy Nhung với đề tài "Thơ nữ Việt Nam sau 1975 những tìm tòi và cách tân" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam - hiện đại (mã số: 9.21), được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2021, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Văn Long và TS. Nguyễn Phượng.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau năm 1975, cùng với sự chuyển mình của lịch sử - xã hội và công cuộc Đổi mới từ năm 1986, nền văn học Việt Nam ghi nhận sự thay đổi về diện mạo và tư duy nghệ thuật. Thơ nữ có sự bứt phá với một đội ngũ tác giả đông đảo thuộc nhiều thế hệ, tạo dựng vị thế qua nhiều thành tựu và giải thưởng văn học trong nước lẫn quốc tế (như Ý Nhi nhận giải Cikada của Thụy Điển năm 2015, Nguyễn Phan Quế Mai xuất hiện trong Lannan Translations Selection Series của Mỹ năm 2014, hay Vi Thùy Linh biểu diễn thơ tại Pháp và châu Âu). Tuy nhiên, thực tiễn sáng tác thơ nữ cũng nảy sinh nhiều hiện tượng gây tranh cãi về các thể nghiệm hình thức và nội dung nhục cảm.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: phần lớn các công trình phê bình, nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở tính chất khái quát chung về đặc điểm và đóng góp của thơ nữ, hoặc đi sâu vào phong cách của từng cá nhân, từng nhóm tác giả trong các giai đoạn hẹp. Vẫn thiếu vắng một công trình bao quát, nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về tiến trình vận động, những tìm tòi và cách tân cụ thể của thơ nữ từ sau 1975 đến nay trên cả hai phương diện nội dung (cảm hứng, cái tôi trữ tình) và hình thức nghệ thuật (cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm nhận diện, lý giải những tìm tòi và cách tân của thơ nữ Việt Nam sau 1975 trên các bình diện cốt lõi của nội dung và nghệ thuật; từ đó đánh giá ý nghĩa của sự đổi mới thơ nữ đối với tiến trình thơ ca hiện đại, khẳng định vị trí và đóng góp của các tác giả nữ.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Xác định quan niệm về "tìm tòi" và "cách tân" làm cơ sở lý luận, đồng thời tổng quan tình hình nghiên cứu về thơ nữ sau 1975 để xác lập cơ sở thực tiễn.
  2. Khái quát bức tranh diện mạo của thơ nữ Việt Nam sau 1975 qua các chặng đường song hành, tiếp nối giữa các thế hệ, sự vận động của quan niệm nghệ thuật và các xu hướng cách tân chủ yếu.
  3. Phân tích cụ thể những tìm tòi, cách tân về nội dung (cảm hứng đời thường, phận vị người nữ, tình yêu; sự chuyển biến của cái tôi trữ tình từ công dân sang cá thể, từ tòng thuộc sang tự chủ, từ đơn nhất sang đa ngã) và các tìm tòi về hình thức nghệ thuật (cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu).
  4. Khảo sát, đối chiếu và so sánh đối tượng nghiên cứu với thơ Việt Nam giai đoạn trước 1975 (so sánh lịch đại) và đối chiếu với thơ của các tác giả nam giới cùng thời (so sánh đồng đại).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những tìm tòi và cách tân của thơ nữ Việt Nam sau 1975 trên phương diện nội dung (cảm hứng trữ tình, cái tôi trữ tình) và hình thức nghệ thuật (cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu) thông qua các hiện tượng thơ tiêu biểu.
  • Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung khảo sát các tác giả nữ tiêu biểu thuộc ba thế hệ nối tiếp sau 1975:
    • Thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ: Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát.
    • Thế hệ xuất hiện ở chặng đầu thời kỳ Đổi mới (sau 1986): Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Lê Khánh Mai, Vũ Thị Huyền.
    • Thế hệ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 1990 đến nay: Phan Huyền Thư, Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy, Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de Prelle, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, nhóm Ngựa Trời (Thanh Xuân, Nguyệt Phạm, Phương Lan, Lynh Bacardy, Khương Hà), Nồng Nàn Phố.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo hai nhóm hướng chính:

Nhóm nghiên cứu khái quát chung về thơ nữ sau 1975

  • Bích Thu trong bài viết "Nỗ lực đổi mới trong thơ nữ đương đại" phân chia thơ nữ thành hai xu hướng: tiếp nối truyền thống và xu hướng thể nghiệm, sắp đặt, trình diễn; đồng thời chỉ ra một số hạn chế như lạm dụng nỗi buồn cá thể, trần tục hóa ngôn ngữ nhục cảm.
  • Đoàn Thị Đặng Hương trong "Lời tựa" tập Thơ nữ Việt Nam tuyển chọn 1945 - 1995 và Hà Minh Đức trong "Một vài suy nghĩ về thơ tình những năm gần đây" (in trong Đi tìm chân lý nghệ thuật) nhấn mạnh phẩm chất chân thành, da diết và giàu tính nữ trong mảng thơ tình yêu của các tác giả nữ.
  • Nguyễn Lương Ba qua bài viết "Những chuyển động trong thơ hôm nay, chuyển động như thế nào?" (2002) đối sánh thế hệ kháng chiến (Ý Nhi, Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Kim) với thế hệ trẻ (Vi Thùy Linh) về phương diện biểu hiện tình yêu và tính dục.
  • Phạm Quốc Ca (Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975 - 2000) và Đặng Thu Thủy (Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, những đổi mới cơ bản) phân tích sự trở về của cái tôi cá nhân, tinh thần hoài nghi, tự phán xét và ý thức nữ quyền.
  • Lê Lưu Oanh (Thơ trữ tình Việt Nam 1975 - 1990) và Inrasara ("Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố nữ & 20 tiếng thơ nữ quyền đương đại", "Song thoại với cái mới", "Thơ đổi mới, một khởi đầu mới", "Thử đặt nền tảng cho phê bình thơ Việt đương đại") nhận định về sự vượt thoát mặc cảm thân phận, khẳng định năm dòng thơ chính và vai trò của dòng thơ nữ quyền.
  • Nguyễn Bá Thành (Tư duy thơ hiện đại Việt Nam), Trần Mạnh Tiến (Thơ Việt, trên hành trình đổi mới) và Nguyễn Đăng Điệp ("Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam") làm rõ ranh giới giữa "tính nữ" và "nữ tính", phân tích khát vọng giải phóng phái tính qua thân xác.
  • Một số luận án chuyên ngành liên quan được điểm lại: Hà Thị Dung với Đặc điểm thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước, Trần Thị Kim với Thơ nữ Việt Nam hiện đại (Từ đầu TK XX đến nay), và Hồ Tiểu Ngọc với Thơ nữ Việt Nam 1986 - 2015 nhìn từ lý thuyết giới.
  • Các ý kiến phê bình phản biện của Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Huy Thông ("Thơ trẻ, băn khoăn và mong đợi") về các biểu hiện tự nhiên chủ nghĩa, phản thẩm mỹ hoặc bắt chước nước ngoài ở một số cây bút trẻ.

Nhóm nghiên cứu về tác giả, tác phẩm cụ thể

  • Ý Nhi: Hoàng Hưng (lời giới thiệu Thơ Ý Nhi), Lưu Khánh Thơ ("Nỗi khắc khoải từ miền ký ức", 2008), Chu Văn Sơn qua bốn bài viết chuyên sâu ("Thơ của tâm hồn xao xác giữa ngày yên", "Thơ Ý Nhi - Lời nguyện cho nỗi yên hàn", "Sự giải toả bằng thơ", "Đến với từng bông tuyết"), phân tích bút pháp trữ tình gián cách, câu thơ văn xuôi và chất suy tưởng mang khí vị thiền.
  • Xuân Quỳnh: Nguyễn Thị Minh Thái (Xuân Quỳnh, giọng thơ tình ám ảnh), Lưu Khánh Thơ (Cảm nhận về thơ Xuân Quỳnh), Thiếu Mai (1983), Vương Trí Nhàn (1986, 2005), Đoàn Thị Đặng Hương (1990), Phong Lê (1998) tập trung vào mảng cảm hứng đời thường, khát vọng hạnh phúc và ngôn ngữ đậm tính nữ.
  • Đoàn Thị Lam Luyến & Dư Thị Hoàn: Phan Thị Thanh Nhàn (2015), Thái Doãn Hiếu (2008), Lê Hồ Quang viết về nỗi đau và bi kịch tình ái của phái nữ; Lê Thiếu Nhơn (Dư Thị Hoàn người chạy trốn đám đông), Mãng Nguyên (2009) và Inrasara phân tích tập Lối nhỏ (1988) với tinh thần từ bỏ con đường lớn, chối bỏ tính tập thể để khẳng định bản sắc cá nhân.
  • Thế hệ trẻ (Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Ng.anhanh...): Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Huy Thiệp, Thụy Khuê, Nguyễn Thụy Kha, Trần Thiện Khanh nghiên cứu về Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư (Nằm nghiêng); Nguyễn Việt Chiến nhận định về thơ đọc chậm và nghệ thuật trình diễn/sắp đặt của Ly Hoàng Ly; Hoàng Hưng (2019) phân tích tác phẩm Đã là một phiền toái của Ng.anhanh; các ghi nhận về nhóm Ngựa Trời (2005, 2014) và tập Anh ngủ thêm đi anh, em phải dậy lấy chồng (2014) của Nồng Nàn Phố.

Vị trí và giải pháp của luận án

Kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, luận án của Lê Thùy Nhung chọn giải quyết vấn đề một cách hệ thống và toàn diện: không chỉ xem xét đơn lẻ từng tác giả hay chỉ khảo sát ở góc độ xã hội học/lý thuyết giới, mà đặt thơ nữ sau 1975 trong sự chuyển biến tổng thể của thi pháp thơ Việt Nam hiện đại, chỉ ra sự vận động từ nội dung tư tưởng đến hình thức biểu đạt nghệ thuật qua các thế hệ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Quan niệm về "tìm tòi" và "cách tân":
    • Tìm tòi (rechérche / research): hành động công phu, kiên nhẫn nhằm khám phá, phát hiện những giá trị mới, phá vỡ trạng thái tĩnh tại của sáng tạo nghệ thuật; phụ thuộc vào ý thức chủ quan của tác giả.
    • Cách tân (rénovation / innovation): kết quả của sự khám phá, bao gồm việc làm mới lại cái cũ và sáng tạo ra cái mới hoàn toàn. Cách tân thể hiện ở cả bình diện hệ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật lẫn thủ pháp thi pháp.
  • Ba phương diện cách tân trong thơ: (1) Đổi mới quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người; (2) Khám phá những rung động, cảm xúc mới thuộc thế giới nội tâm; (3) Xác lập các hình thức nghệ thuật mới tác động đến tư duy thẩm mỹ của người đọc.
  • Khung phân tích bổ trợ: Luận án kết hợp lý thuyết thi pháp học hiện đại, lý thuyết loại hình văn học, và lý thuyết về phái tính/ý thức nữ quyền trong việc giải mã diễn ngôn văn học nữ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích văn bản:

  1. Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Được sử dụng xuyên suốt để bao quát, liên kết và phân loại các dạng thức, đặc điểm sáng tác của các tác giả nữ trong một hệ thống vận động chung.
  2. Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Căn cứ vào quy luật của thể loại trữ tình để làm rõ sự biến đổi của cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu.
  3. Phương pháp loại hình: Nhận diện sự chuyển dịch của loại hình văn học từ văn học cách mạng (sử thi) sang văn học thời kỳ Đổi mới và sự tiếp cận tư duy văn học hậu hiện đại.
  4. Phương pháp liên ngành: Vận dụng tri thức từ phân tâm học, tâm lý học, xã hội học và văn hóa học để lý giải nguồn gốc tâm lý, ý thức giới và các ẩn ức bản thể trong thơ nữ.
  5. Phương pháp so sánh, đối chiếu:
    • So sánh đồng đại: Đối chiếu thơ nữ với sáng tác của các nhà thơ nam giới cùng thời kỳ.
    • So sánh lịch đại: So sánh thơ nữ sau 1975 với thơ ca các giai đoạn trước 1975 (Thơ Mới 1932 - 1945, thơ kháng chiến 1945 - 1975).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát chính bao gồm các tập thơ, bài thơ tiêu biểu được xuất bản và công bố từ sau năm 1975 đến nay của các tác giả nữ thuộc ba thế hệ khảo sát; kết hợp cùng các công trình lý luận, phê bình, kỷ yếu hội thảo khoa học và các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành Ngữ văn.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận và khảo cứu lịch sử vấn đề:

  • Luận giải bản chất của "tìm tòi" và "cách tân" trong văn học và đặc thù của thể loại thơ; điểm lại ba giai đoạn cách tân của thơ Việt Nam hiện đại: nửa đầu thế kỷ XX (cuộc cách mạng Thơ Mới 1932 - 1945), giai đoạn 1945 - 1975 (thơ cách mạng, sử thi cùng các thể nghiệm của thơ đô thị miền Nam như nhóm Sáng Tạo, Thanh Tâm Tuyền), và giai đoạn sau 1975 (cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ nhà thơ).
  • Tổng thuật, phân loại toàn diện các tài liệu nghiên cứu về thơ nữ sau 1975 thành hai nhóm: các công trình nghiên cứu diện mạo chung và các công trình nghiên cứu trường hợp tác giả/tác phẩm cụ thể.
  • Đánh giá ưu điểm, hạn chế của các tài liệu đi trước, từ đó xác lập tính cấp thiết và hướng đi riêng của đề tài.

Chương 2: Khái quát diện mạo thơ nữ Việt Nam sau 1975

Chương 2 phác họa bức tranh tổng thể về bối cảnh và sự vận động của thơ nữ sau mốc lịch sử 1975:

  • Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa và văn học: Sự chuyển dịch từ thời chiến sang hậu chiến, khủng hoảng kinh tế thời bao cấp, chiến tranh biên giới, bước ngoặt Đại hội Đảng VI (1986) xóa bỏ bao cấp, mở rộng dân chủ hóa đời sống văn nghệ, và tiến trình hội nhập quốc tế từ giữa thập niên 1990.
  • Sự song hành và tiếp nối giữa các thế hệ:
    • Thế hệ chống Mỹ tiếp tục đổi mới: Ý Nhi (chuyển sang thơ không vần, suy tưởng gián cách), Xuân Quỳnh (trở về với những âu lo đời thường, tình yêu chân thật), Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát.
    • Thế hệ xuất hiện đầu thời kỳ Đổi mới: Dư Thị Hoàn (sử dụng câu thơ ngắn, từ bỏ vần điệu quy chuẩn, khẳng định cái tôi cá nhân), Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Lê Khánh Mai, Vũ Thị Huyền.
    • Thế hệ trẻ từ cuối thập niên 1990 đến nay: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Phan Quế Mai, Từ Huy, Ng.anhanh, Nồng Nàn Phố, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, nhóm Ngựa Trời... mang đến các hình thức trình diễn thơ, sắp đặt, thơ thị giác và xuất bản song ngữ.
  • Sự biến chuyển trong quan niệm thơ: Thơ chuyển từ phương tiện tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị - tập thể sang nhu cầu bộc bạch cá nhân, giải tỏa ẩn ức tâm lý, là "lời tự sự về thân phận" (Nguyễn Thị Thúy Hạnh), điểm tựa tinh thần (Ý Nhi, Lê Khánh Mai), và công cụ khẳng định quyền năng của phái nữ ("ái quyền" ở Vi Thùy Linh).
  • Hai xu hướng cách tân chủ yếu:
    1. Xu hướng cách tân trên nền truyền thống: Thường thấy ở các tác giả thế hệ trước, đổi mới tư tưởng nhưng duy trì tính nhạc, cấu trúc và mỹ cảm truyền thống.
    2. Xu hướng cách tân theo hướng hiện đại: Khước từ các khuôn mẫu, thể nghiệm câu trúc tự do, thơ văn xuôi, thơ trình diễn và tiếp cận tư duy hậu hiện đại.
Tiêu chí Xu hướng cách tân trên nền truyền thống Xu hướng cách tân theo hướng hiện đại
Đội ngũ tác giả tiêu biểu Xuân Quỳnh, Ý Nhi (giai đoạn đầu), Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Vũ Thị Huyền Dư Thị Hoàn, Ý Nhi (tập Vườn), Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Từ Huy, Ng.anhanh, Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Đặc điểm thi pháp Giữ nhịp điệu, vần luật linh hoạt; cảm xúc đằm thắm; kết hợp mỹ cảm truyền thống với chiêm nghiệm đời tư Khước từ vần điệu cố định, thơ tự do triệt để, thơ văn xuôi; sử dụng kỹ thuật lạ hóa, giải cấu trúc; kết hợp hội họa, trình diễn
Cảm thức thẩm mỹ Nhấn mạnh sự nâng niu hạnh phúc bình dị, nỗi buồn thế sự, tình mẫu tử, lòng trắc ẩn Ý thức phái tính trực diện, khai thác nhục cảm, hoài nghi các giá trị cố định, phơi bày chấn thương tâm lý

Chương 3: Những đổi mới về cảm hứng và cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt Nam sau 1975

Chương 3 đi sâu phân tích những chuyển biến về phương diện nội dung tư tưởng:

  • Đổi mới về cảm hứng trữ tình:
    • Cảm hứng về đời thường: Chuyển từ không gian kỳ vĩ, sử thi sang những chi tiết sinh hoạt thường nhật, những âu lo, vất vả cơm áo gạo tiền và sự trôi chảy của thời gian tác động lên số phận con người.
    • Cảm hứng về phận vị người nữ: Thể hiện ý thức sâu sắc về giới, tiếng nói đòi quyền được thấu hiểu, vượt thoát khỏi những định kiến, lề thói gia trưởng và mặc cảm thân phận truyền thống.
    • Cảm hứng về tình yêu: Tình yêu không còn mang tính chất lý tưởng hóa mà gắn liền với những khát khao bản năng, sự dại khờ, đau đớn, mất mát; mở rộng sang địa hạt cảm xúc nhục cảm và quyền được yêu chủ động.
  • Đổi mới về cái tôi trữ tình:
    • Từ cái tôi công dân đến cái tôi cá thể: Rời bỏ giọng điệu đại diện cho cộng đồng để trở về với những tâm tư riêng tư, những trăn trở, cô đơn và sám hối của cá nhân.
    • Từ cái tôi tòng thuộc đến cái tôi tự chủ: Cái tôi nữ giới chủ động lựa chọn số phận, dám bày tỏ thái độ phản kháng, khẳng định bản sắc và tự chịu trách nhiệm trước cuộc đời.
    • Từ cái tôi đơn nhất đến cái tôi đa ngã: Cái tôi không còn bất biến, một chiều mà phân rã thành nhiều chiều kích tâm lý phức tạp, đầy mâu thuẫn, giằng xé giữa tỉnh táo và vô thức.

Chương 4: Những tìm tòi và cách tân về hình thức nghệ thuật trong thơ nữ sau 1975

Chương 4 khảo sát chi tiết bốn phương diện hình thức biểu hiện:

  • Cấu trúc thơ:
    • Tự do hóa cấu trúc: Phá vỡ khuôn mẫu số câu, số chữ, triệt tiêu vần và nhịp điệu truyền thống; phát triển mạnh thể thơ tự do và thơ văn xuôi.
    • Một số thể nghiệm cấu trúc: Cấu trúc phân mảnh, lắp ghép, thơ thị giác, thơ bậc thang, cấu trúc đối thoại đa thanh và thơ trình diễn.
  • Ngôn ngữ thơ:
    • Ngôn ngữ lạ hóa: Kết hợp các kết hợp từ phi logic, xáo trộn trật tự ngữ pháp thông thường, tạo độ căng và độ nén cho chữ nghĩa.
    • Ngôn ngữ đậm màu sắc phái tính: Đưa vào hệ thống từ ngữ biểu đạt cơ thể, tính dục, những trạng thái sinh lý và cảm giác xác thịt một cách trực diện.
  • Hình ảnh thơ:
    • Làm mới những hình ảnh quen thuộc: Các biểu tượng truyền thống (vầng trăng, dòng sông, ngọn cỏ, cánh đồng) được soi chiếu qua lăng kính âu lo, hoài nghi và tâm trạng bất an của con người hiện đại.
    • Sáng tạo những hình ảnh mới: Xuất hiện những biểu tượng mang tính siêu thực, trừu tượng, hình ảnh máy móc, đô thị và các vết thương thể xác/tâm hồn.
  • Giọng điệu thơ:
    • Giọng trầm tư sâu lắng: Khắc họa những chiêm nghiệm triết lý về nhân sinh, thời gian và sự vô thường.
    • Giọng giễu nhại: Thể hiện thái độ phản biện, mỉa mai những giáo điều xơ cứng và thói đạo đức giả.
    • Giọng đối thoại tỉnh táo: Bày tỏ nhu cầu tranh luận sòng phẳng, phân tích bản thân và đối thoại trực tiếp với cuộc đời.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định năm đóng góp khoa học cụ thể:

  1. Tổng kết diện mạo lịch sử: Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về những đóng góp của thơ nữ Việt Nam sau 1975, đặt trong tiến trình vận động liên tục của thơ ca dân tộc từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay.
  2. Làm rõ chuyển biến nội dung: Khái quát các biến chuyển trong nội dung thơ nữ thông qua sự đổi mới của cảm hứng trữ tình và cái tôi trữ tình; lý giải các nhân tố lịch sử, xã hội và sự tác động của ý thức nữ quyền/phái tính thúc đẩy quá trình này.
  3. Hệ thống hóa cách tân hình thức: Chỉ ra một cách có hệ thống các tìm tòi, cách tân nghệ thuật của thơ nữ trên bốn phương diện cụ thể: cấu trúc, hình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu.
  4. Bổ sung góc nhìn phê bình: Góp thêm hệ thống luận điểm và hướng tiếp cận khách quan về các thể nghiệm thơ nữ đương đại, giúp nhận diện sự phát triển đa chiều và loại bỏ các định kiến phê phán cực đoan đối với các hiện tượng thơ mới.
  5. Cung cấp tư liệu học thuật: Bổ sung nguồn tư liệu và phân tích văn bản phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề văn học Việt Nam hiện đại, thơ trữ tình sau 1975 trong các cơ sở giáo dục đại học và phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu, luận án chủ yếu tập trung khảo sát các tác giả nữ tiêu biểu trong nước và một số hiện tượng nổi bật trên văn đàn chính thống. Do giới hạn về mặt tư liệu, một số hiện tượng thơ nữ hải ngoại và các thể nghiệm đa phương tiện kỹ thuật số xuất hiện trong những năm gần đây chỉ mới được khảo sát bước đầu mà chưa thể phân tích toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu thơ nữ Việt Nam hải ngoại trong mối quan hệ giao thoa văn hóa.
    • Vận dụng sâu hơn các lý thuyết thi pháp học hậu hiện đại, lý thuyết sinh thái (Ecocriticism) và xã hội học văn học để tiếp cận các tác phẩm của thế hệ nhà thơ nữ mới xuất hiện sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Lý luận văn học, Văn học Việt Nam: Tham khảo khung lý thuyết về cách tân thi pháp, phương pháp nghiên cứu liên ngành và hệ thống tư liệu về thơ nữ.
    • Giảng viên, giáo viên Ngữ văn: Sử dụng tư liệu phân tích các tác giả (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn...) phục vụ bài giảng văn học sau 1975 trong chương trình giáo dục.
    • Các nhà nghiên cứu về Giới và Văn hóa (Gender Studies): Tham khảo sự tác động của ý thức nữ quyền đến việc hình thành ngôn ngữ và cái tôi tự chủ của phụ nữ Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Bảng tổng lược lịch sử nghiên cứu thơ nữ tại Chương 1.
    • Khung phân tích sự chuyển đổi của cái tôi trữ tình (từ công dân sang cá thể, từ tòng thuộc sang tự chủ, từ đơn nhất sang đa ngã) tại Chương 3.
    • Hệ thống các thủ pháp lạ hóa ngôn ngữ và biến đổi giọng điệu thơ tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "tìm tòi" và "cách tân" như thế nào?

Theo luận án, "tìm tòi" là hành động khám phá, kiếm tìm công phu nhằm phát hiện ra những giá trị mới và phụ thuộc vào ý thức chủ quan của tác giả. Trong khi đó, "cách tân" là kết quả của quá trình khám phá, bao gồm việc làm mới cái cũ và tạo ra cái mới hoàn toàn trên cả bình diện hệ tư tưởng, quan niệm nghệ thuật lẫn thủ pháp thi pháp. Tìm tòi là điều kiện cần, nhưng không phải mọi sự tìm tòi đều dẫn đến cách tân có giá trị.

2. Luận án phân chia các thế hệ nhà thơ nữ sau 1975 theo các chặng nào?

Luận án khảo sát ba thế hệ nhà thơ nữ nối tiếp nhau:

  • Thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ (Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát).
  • Thế hệ xuất hiện ở chặng đầu thời kỳ Đổi mới sau 1986 (Phạm Thị Ngọc Liên, Lê Thị Mây, Đoàn Thị Lam Luyến, Dư Thị Hoàn, Lê Khánh Mai, Vũ Thị Huyền).
  • Thế hệ xuất hiện từ nửa cuối thập niên 1990 đến nay (Phan Huyền Thư, Nguyễn Phan Quế Mai, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Từ Huy, Ng.anhanh, Lữ Thị Mai, Như Quỳnh de Prelle, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Nồng Nàn Phố...).

3. Những biến chuyển chính của cái tôi trữ tình trong thơ nữ sau 1975 là gì?

Cái tôi trữ tình trong thơ nữ có ba bước chuyển hóa lớn:

  • Chuyển từ cái tôi mang ý thức công dân, sử thi sang cái tôi mang tính cá thể, đời tư.
  • Chuyển từ cái tôi tòng thuộc (chịu sự chi phối của chuẩn mực đạo đức, định kiến xã hội) sang cái tôi tự chủ (chủ động lựa chọn, phản kháng và khẳng định bản thân).
  • Chuyển từ cái tôi đơn nhất, một chiều sang cái tôi đa ngã với đời sống nội tâm phức tạp, phân rã và chứa đựng nhiều mâu thuẫn.

4. Những phương diện cách tân hình thức nghệ thuật nào được luận án khảo sát ở Chương 4?

Luận án khảo sát bốn phương diện hình thức nghệ thuật chính:

  • Cấu trúc thơ: Tự do hóa cấu trúc và các thể nghiệm cấu trúc mới (phân mảnh, lắp ghép, thơ thị giác, thơ văn xuôi).
  • Ngôn ngữ thơ: Kỹ thuật lạ hóa ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ mang đậm màu sắc phái tính/nhục cảm.
  • Hình ảnh thơ: Làm mới hệ thống biểu tượng quen thuộc và kiến tạo các hình ảnh mới mang tính siêu thực, đô thị.
  • Giọng điệu thơ: Giọng trầm tư sâu lắng, giọng giễu nhại và giọng đối thoại tỉnh táo.

5. Luận án đánh giá như thế nào về các hiện tượng thể nghiệm gây tranh cãi của các nhà thơ nữ trẻ?

Luận án nhìn nhận các thể nghiệm táo bạo của các cây bút trẻ (về ngôn ngữ thân xác, thơ trình diễn, phá vỡ cấu trúc) như một quy luật vận động tất yếu của tư duy thơ đương đại trong bối cảnh dân chủ hóa và hội nhập. Đồng tình với quan điểm học thuật của Nguyễn Đăng Điệp, luận án cho rằng cần nhìn nhận mặt tích cực của "những cực đoan lành mạnh" như một cú hích phá bỏ các chuẩn mực xơ cứng, đồng thời cũng chỉ ra những giới hạn của việc lạm dụng hình thức cầu kỳ hoặc tự nhiên chủ nghĩa thiếu cảm xúc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Thùy Nhung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về những tìm tòi và cách tân của thơ nữ Việt Nam sau năm 1975 trên tiến trình hiện đại hóa thi ca dân tộc. Công trình đã luận giải một cách hệ thống sự chuyển biến từ bối cảnh lịch sử, quan niệm nghệ thuật, cảm hứng và cái tôi trữ tình đến các thể nghiệm về cấu trúc, ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu. Thông qua việc khảo sát ba thế hệ tác giả nữ tiêu biểu, luận án khẳng định vị thế và đóng góp của bộ phận thơ nữ trong việc đổi mới tư duy nghệ thuật của nền văn học Việt Nam đương đại.