Luận án TS Vũ Ngọc Tú: Phẫu thuật lóc động mạch chủ loại A tại BV Việt Đức

Luận án tiến sĩ phân tích bệnh lý và kết quả điều trị phẫu thuật lóc động mạch chủ cấp tính loại A Stanford tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ngoại Lồng Ngực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

168
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CẤU TRÚC VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ

1.2. CÁC PHÂN LOẠI LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ

1.3. CHẨN ĐOÁN LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ LOẠI A CẤP

1.4. ĐIỀU TRỊ LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ LOẠI A CẤP

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. CÁC THAM SỐ NGHIÊN CỨU

2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.5. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ THƯƠNG TỔN GIẢI PHẪU

3.2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT

3.3. KẾT QUẢ SAU MỔ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ TỔN THƯƠNG GIẢI PHẪU

4.2. ĐẶC ĐIỂM PHẪU THUẬT

4.3. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lóc động mạch chủ cấp tính loại A Stanford

Lóc động mạch chủ (LĐMC) loại A-Stanford là một trong những bệnh lý nghiêm trọng nhất trong lĩnh vực tim mạch. Bệnh lý này xảy ra khi lớp áo trong của động mạch chủ bị rách, dẫn đến việc máu chảy vào giữa các lớp của thành động mạch, tạo ra một lòng giả. Tình trạng này có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm cả tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và kết quả điều trị phẫu thuật LĐMC loại A đã được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ tử vong.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của lóc động mạch chủ loại A

Lâm sàng của LĐMC loại A thường biểu hiện bằng cơn đau ngực dữ dội, có thể lan ra phía sau hoặc bụng. Bệnh nhân thường có tiền sử tăng huyết áp, và triệu chứng có thể khởi phát đột ngột. Theo nghiên cứu, khoảng 80% bệnh nhân có triệu chứng tăng huyết áp, trong khi một số trường hợp có thể không có triệu chứng đau nào.

1.2. Tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm

Chẩn đoán sớm LĐMC loại A là rất quan trọng để giảm thiểu tỷ lệ tử vong. Các phương pháp chẩn đoán hiện đại như chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và siêu âm tim đã cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp phát hiện bệnh lý này kịp thời.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị lóc động mạch chủ

Điều trị LĐMC loại A cấp tính gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của bệnh lý. Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính, nhưng yêu cầu kỹ thuật cao và sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa. Tỷ lệ tử vong trong giai đoạn đầu vẫn còn cao, đòi hỏi các bác sĩ phải có kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn vững vàng.

2.1. Tỷ lệ tử vong và các yếu tố nguy cơ

Tỷ lệ tử vong trong 48 giờ đầu có thể lên đến 50% nếu không được phẫu thuật kịp thời. Các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tiền sử bệnh lý tim mạch, và tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân đều ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

2.2. Khó khăn trong phẫu thuật và hồi sức

Phẫu thuật LĐMC loại A thường diễn ra trong điều kiện khẩn cấp, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê và đội ngũ hồi sức. Việc quản lý bệnh nhân trong giai đoạn hậu phẫu cũng là một thách thức lớn.

III. Phương pháp điều trị phẫu thuật lóc động mạch chủ

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho LĐMC loại A. Các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại đã được áp dụng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, giúp cải thiện kết quả điều trị. Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp là rất quan trọng để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.1. Các kỹ thuật phẫu thuật phổ biến

Các kỹ thuật phẫu thuật như thay động mạch chủ lên, phẫu thuật Bentall, và phẫu thuật David đã được áp dụng để điều trị LĐMC loại A. Mỗi kỹ thuật có những ưu điểm và nhược điểm riêng, cần được lựa chọn dựa trên tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

3.2. Quản lý biến chứng sau phẫu thuật

Biến chứng sau phẫu thuật là một trong những vấn đề cần được chú ý. Các biến chứng như huyết khối, nhiễm trùng, và suy tim có thể xảy ra, đòi hỏi sự theo dõi và can thiệp kịp thời để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý và kết quả điều trị phẫu thuật LĐMC loại A tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã cho thấy những kết quả khả quan. Tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật đã được cải thiện đáng kể nhờ vào việc áp dụng các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại và quy trình chăm sóc hậu phẫu tốt.

4.1. Tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật

Theo nghiên cứu, tỷ lệ sống sót sau phẫu thuật LĐMC loại A tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã đạt trên 90%, cho thấy hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện đại.

4.2. Đánh giá sự phát triển của kỹ thuật phẫu thuật

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng các kỹ thuật phẫu thuật mới đã giúp giảm thiểu biến chứng và cải thiện kết quả điều trị. Điều này cho thấy sự phát triển không ngừng của ngành phẫu thuật tim mạch tại Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị lóc động mạch chủ

Kết quả nghiên cứu về LĐMC loại A tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã mở ra nhiều triển vọng cho việc điều trị bệnh lý này trong tương lai. Việc tiếp tục nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật phẫu thuật sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tỷ lệ tử vong.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị, cũng như đánh giá hiệu quả của các phương pháp mới trong điều trị LĐMC loại A.

5.2. Tầm quan trọng của đào tạo chuyên môn

Đào tạo chuyên môn cho đội ngũ bác sĩ và nhân viên y tế là rất quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị. Việc chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức giữa các chuyên gia sẽ góp phần cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Lóc động mạch chủ (LĐMC) (aortic dissection) là sự tổn thƣơng lớp áo giữa của động mạch chủ (ĐMC) kèm theo chảy máu bên trong và dọc theo thành động mạch (ĐM) làm cho các lớp áo của ĐMC tách rời nhau [1]. Khởi phát tổn thƣơng là rách lớp áo trong của ĐMC, sau đó áp lực dòng máu qua lỗ rách tiếp tục làm lóc lớp áo giữa dọc theo chiều dài ĐMC. Khi đó thành ĐMC sẽ bị tách làm hai lớp và lòng ĐMC chia đôi thành lòng thật và lòng giả. Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA) và Hiệp hội tim mạch châu Âu (ESC) đều thống nhất định nghĩa LĐMC loại A là thể bệnh có tổn thƣơng lóc của ĐMC gồm có ĐMC lên, và đƣợc gọi là cấp tính khi bệnh diễn biến trong vòng 14 ngày [1],[2].

Bệnh nhân đầu tiên đƣợc mô tả trong y văn bởi tác giả Nicholls vào năm 1760, và sau đó đƣợc Morgani nhận xét chi tiết về giải phẫu bệnh năm 1761 [3]. LĐMC loại A cấp tính có thể gây tử vong nhanh chóng chủ yếu do vỡ vào khoang màng tim gây chèn ép tim. Nếu không đƣợc phẫu thuật, 50% tử vong trong 48h đầu và 90% tử vong trong 1 tháng [2]. Tuy vậy tử vong ở những giai đoạn đầu tiên còn rất cao, có thể tới 30% [5].

Hiện nay, nếu đƣợc điều trị đúng và phẫu thuật kịp thời, tỉ lệ này giảm đi rất nhiều, có thể chỉ còn dƣới 10% [6]. Trƣớc đây, chụp XQ ngực thƣờng qui và chụp ĐMC là các phƣơng pháp thƣờng đƣợc sử dụng nhất để chẩn đoán LĐMC [7]. Sau này chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đã dần dần thay thế và trở thành phƣơng tiện chẩn đoán hình ảnh ƣu thế để chẩn đoán bệnh lý này, đặc biệt trong hoàn cảnh cấp cứu. Ngoài ra, siêu âm (SA) tim cũng có vai trò quan trọng để chẩn đoán xác định bệnh cũng nhƣ chẩn đoán các thƣơng tổn cấu trúc tim đi kèm.

Hiện nay, với chụp CLVT và SA tim, độ nhạy và độ đặc hiệu để chẩn đoán LĐMC có thể đạt tới 100% [8]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tại Việt Nam phẫu thuật ĐMC ngực nói chung và LĐMC loại A cấp tính đã đƣợc thực hiện thƣờng qui ở một số trung tâm phẫu thuật tim mạch nhƣ Bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Chợ Rẫy từ hàng chục năm nay [9],[10]. Tuy nhiên tỉ lệ tử vong ở thời kỳ đầu còn rất cao, tới hơn 30% [10]. Triển khai phẫu thuật còn gặp rất nhiều khó khăn vì LĐMC là bệnh có tính chất hệ thống, bệnh nhân có nhiều yếu tố toàn thân nặng.

Đây cũng là phẫu thuật phức tạp, có thể phải can thiệp cùng một lúc bệnh lý van tim, động mạch vành (ĐMV), ĐMC cùng với các động mạch nuôi não. Ngoài ra phẫu thuật thƣờng diễn ra trong đêm, đòi hỏi nhân lực chuyên khoa sâu, phối hợp nhịp nhàng về cả phẫu thuật, gây mê hồi sức cũng nhƣ vận hành máy tim phổi nhân tạo. Hiện nay, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã thực hiện phẫu thuật LĐMC loại A cấp tính thƣờng qui nhƣ tất cả các cấp cứu ngoại khoa khác [11]. Tại Việt Nam cũng đã có những tổng kết về phẫu thuật bệnh lý ĐMC ngực nói chung, nhƣng vẫn còn ít tài liệu tập trung vào kết quả phẫu thuật của riêng LĐMC loại A [9],[12],[13],[14].

Việc nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật LĐMC loại A cấp tính là cần thiết để đƣa ra đƣợc một tổng kết đầy đủ, từ đó có thể phân tích, tìm hiểu ƣu, nhƣợc điểm của từng kĩ thuật, đặc biệt là những kĩ thuật và quan niệm mới về phẫu thuật bệnh lý này, nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao hơn, giúp hạ đƣợc tỉ lệ tử vong tƣơng đƣơng với các trung tâm phẫu thuật tim mạch trên thế giới. Ngoài ra, qua nghiên cứu này sẽ đánh giá đƣợc sự phát triển không chỉ về mặt phẫu thuật nói riêng, mà còn cả về mặt tổ chức và vận hành nhân lực trong những phẫu thuật đòi hỏi chuyên môn cao và phối hợp chặt chẽ đa chuyên khoa. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và kết quả điều trị phẫu thuật lóc động mạch chủ cấp tính loại A-Stanford tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức” với hai mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn thương giải phẫu của lóc động mạch chủ loại A cấp tính tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.

Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị lóc động mạch chủ loại A cấp tính tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. CẤU TRÚC VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ 1. Cấu trúc thành động mạch chủ Thành ĐM bao gồm mô liên kết tạo thành từ các tế bào và các sợi chất nền đƣợc sắp xếp thành 3 lớp áo: trong, giữa và ngoài.1: Cấu trúc thành ĐMC [15] 1.

Bề mặt áo trong đƣợc phủ lớp tế bào nội mạc. Lớp áo trong thực sự rất mỏng, bao gồm chủ yếu các tế bào bạch cầu rải rác, các tế bào cơ trơn và các sợi đàn hồi. Chính vì vậy, áo trong dễ bị tổn thƣơng dƣới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 tác dụng của áp lực dòng máu, đặc biệt là khi chúng bị xơ vữa, tạo thành lỗ rách áo trong, là điểm khởi phát của LĐMC [16]. Thƣơng tổn giải phẫu bệnh cơ bản trong LĐMC là thoái hóa áo giữa (medial degeneration), bao gồm các dấu hiệu: đứt gãy và thoái hóa của các sợi chun, mất các tế bào cơ trơn và lắng đọng nhày ở khoảng kẽ [1].

Thƣơng tổn này thƣờng đi kèm với sự lão hóa của ĐMC nhƣng cũng có thể đƣợc thúc đẩy bởi tăng huyết áp (THA). Do đó, mặc dù thƣờng gặp nhƣng thoái hóa áo giữa không phải là thƣơng tổn đặc hiệu cho LĐMC. Các nghiên cứu cũng đã cho thấy không có sự khác biệt về định tính mà chỉ có sự khác biệt về định lƣợng (độ nặng) của thoái hóa áo giữa giữa các mẫu ĐM chủ bị lóc và những ĐMC thoái hóa bình thƣờng [18]. Thoái hóa áo giữa của phồng và lóc của ĐMC lên còn kết hợp với các hội chứng di truyền, đặc biệt là hội chứng Marfan [19].

Áo ngoài (adventitia) và cấu trúc mạch nuôi mạch (vasa vasorum) Áo ngoài chứa lớp mạch nuôi mạch và thần kinh, là cấu trúc nuôi dƣỡng và tạo ra khả năng điều hòa chức năng của các tế bào cơ trơn của lớp áo giữa. Lớp mạch nuôi mạch chỉ có ở những ĐM có đƣờng kính từ 200 µm trở lên, từ ngoài lòng mạch xuyên qua áo ngoài đi vào áo giữa. Khi đó, sự nuôi dƣỡng mạch máu đƣợc cung cấp theo hai con đƣờng, các lớp phía bên trong áo giữa đƣợc nuôi dƣỡng bởi dòng máu trong lòng mạch, các lớp phía bên ngoài áo giữa đƣợc nuôi dƣỡng bởi lớp mạch nuôi mạch [20]. Thƣơng tổn lớp mạch nuôi mạch đƣợc cho nguyên nhân dẫn tới thể LĐMC mà không có lỗ rách áo trong.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân chia giải phẫu học của động mạch chủ Hình 1.2: Phân đoạn giải phẫu ĐMC [2] - Gốc ĐMC: gồm vòng van, các lá van ĐMC và các xoang Valsalva. - ĐMC lên: tính từ chỗ nối ống - xoang đến gốc ĐM cánh tay đầu. - Quai ĐMC: bắt đầu từ gốc ĐM cánh tay đầu cho đến hết gốc ĐM dƣới đòn trái.

- ĐMC xuống: bắt đầu từ sau gốc ĐM dƣới đòn trái cho đến khi ĐMC chui qua lỗ cơ hoành. - ĐMC bụng: bắt đầu từ sau lỗ cơ hoành cho tới chạc ba ĐM chủ chậu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ chế hình thành lóc động mạch chủ Hình 1.3: Cơ chế hình thành LĐMC [21] A: Khởi phát từ lỗ rách áo trong; B: Khởi phát từ thương tổn mạch nuôi mạch của áo giữa 1: áo ngoài, 2: áo giữa, 3: áo trong, 4: lòng giả, 5: lòng thật, mũi tên trắng: lỗ rách áo trong, mũi tên đen: mạch nuôi mạch.

Hiện nay có hai cơ chế chính để giải thích hình thành LĐMC. Trong phần lớn các trƣờng hợp, khoảng 90% LĐMC đƣợc khởi phát bằng một lỗ rách áo trong, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để hình thành luồng máu xuyên vào thành mạch, tạo ra diện lóc bên trong lớp áo giữa (Hình 1. Một số ít trƣờng hợp còn lại đƣợc cho là bắt đầu bởi sự rách của lớp mạch nuôi mạch, là hệ thống mạch nhỏ đi từ lớp áo ngoài xuyên vào phần ngoài của lớp áo giữa để cấp máu nuôi thành ĐMC (Hình 1. Do đó máu tụ lan truyền dọc theo lớp áo giữa của ĐMC.

Thƣơng tổn giải phẫu bệnh chủ yếu là huyết khối chiếm toàn bộ lòng giả mà không có lỗ rách áo trong [1],[2]. CÁC PHÂN LOẠI LÓC ĐỘNG MẠCH CHỦ Từ khi đƣợc phát hiện và mô tả cũng nhƣ trong suốt kỷ nguyên phẫu thuật, đã có nhiều phân loại LĐMC đƣợc đƣa ra. Tuy nhiên do tính chất phức tạp về giải phẫu học, giải phẫu bệnh cũng nhƣ sự phát triển và các phƣơng pháp điều trị nội khoa, phẫu thuật hay can thiệp, nên không có một phân loại nào đƣợc coi là hoàn thiện, vừa đơn giản lại vừa có thể dựa vào đó để đƣa ra đƣợc thái độ điều trị chính xác. Các phân loại hoặc không bao quát hết các trƣờng hợp, hoặc quá phức tạp để áp dụng.

Nguyên nhân của sự hạn chế này LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nằm ở phần quai ĐMC, vị trí ít khi là xuất phát điểm của LĐMC nhƣng lại nặng và phức tạp trong điều trị phẫu thuật cũng nhƣ tiên lƣợng. Thêm vào đó, ngoài thể lóc LĐMC kinh điển với lỗ rách áo trong, lòng thật và lòng giả rõ ràng, còn những thể khác của LĐMC mà các thƣơng tổn trên không rõ ràng, có tiến triển, tiên lƣợng và điều trị cũng có nhiều khác biệt, đòi hỏi phải có những phân loại chi tiết hơn, không chỉ về mặt giải phẫu học, mà còn về giải phẫu bệnh học.4: Phân loại LĐMC theo DeBakey và Stanford [2] 1. Phân loại De Bakey Năm 1964, De Bakey [7] dựa vào vị trí của vết rách áo trong (lỗ vào) và mức độ lan rộng của thƣơng tổn lóc, phân loại LĐMC thành 3 loại: - Loại I: lỗ vào ở ĐMC lên và lóc lan xa tới các đoạn khác nhau của ĐMC, mà thƣờng là toàn bộ ĐMC, có thể lan tới các ĐM chậu. Theo chiều ngang, lóc thƣờng không chiếm hết toàn bộ chu vi ĐMC.

Trong loại này, hở van ĐMC là thƣơng tổn thƣờng gặp. - Loại II: Lóc thƣờng bắt đầu từ lỗ vào là một vết rách ngang nội mạc, ở ngay trên van ĐMC, sau đó dừng lại ở ngay trƣớc ĐM cánh tay đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ