Luận án Tiến sĩ: Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản Truyền kỳ mạn lục

Luận án tiến sĩ khám phá chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm truyền kỳ mạn lục, góp phần làm sáng tỏ giá trị văn hóa và ngôn ngữ.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2012

282
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm

Chữ Nôm, một phần quan trọng trong di sản văn hóa Việt Nam, được chia thành hai loại chính: chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo. Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tính sáng tạo của ngôn ngữ mà còn mở ra những khía cạnh mới trong việc phân tích văn bản giải âm, đặc biệt là trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục. Tác phẩm này không chỉ là một kiệt tác văn học mà còn là một tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu chữ Nôm tự tạo.

1.1. Định nghĩa và phân loại chữ Nôm tự tạo

Chữ Nôm tự tạo là những ký tự được người Việt sáng tạo để ghi âm tiếng Việt, khác với chữ Nôm mượn Hán. Việc phân loại chữ Nôm tự tạo thành các nhóm như hội âm, hội ý và hình thanh giúp làm rõ cấu trúc và chức năng của chúng trong văn bản.

1.2. Vai trò của văn bản giải âm trong nghiên cứu chữ Nôm

Văn bản giải âm, đặc biệt là Tân biên Truyền kỳ mạn lục, đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu chữ Nôm tự tạo. Nó không chỉ cung cấp tư liệu phong phú mà còn phản ánh sự phát triển của chữ Nôm trong lịch sử văn học Việt Nam.

II. Những thách thức trong nghiên cứu chữ Nôm tự tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo gặp nhiều thách thức, từ việc thiếu tư liệu đến sự phức tạp trong việc phân tích cấu trúc. Các nhà nghiên cứu thường phải đối mặt với việc xác định nguồn gốc và cách sử dụng của các ký tự này trong các văn bản cổ.

2.1. Thiếu tư liệu và tài liệu tham khảo

Nhiều văn bản cổ đã bị thất lạc hoặc không còn nguyên vẹn, gây khó khăn cho việc nghiên cứu. Việc tìm kiếm và xác minh các tài liệu liên quan đến chữ Nôm tự tạo là một thách thức lớn.

2.2. Phân tích cấu trúc chữ Nôm tự tạo

Cấu trúc của chữ Nôm tự tạo rất đa dạng và phức tạp. Việc phân tích chúng đòi hỏi kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ học và văn hóa Việt Nam, điều này có thể gây khó khăn cho nhiều nhà nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu chữ Nôm tự tạo hiệu quả

Để nghiên cứu chữ Nôm tự tạo một cách hiệu quả, các nhà nghiên cứu cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ phân tích ngữ nghĩa đến khảo sát cấu trúc hình thể. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp làm rõ hơn về chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa và chức năng của chữ Nôm

Phân tích ngữ nghĩa giúp hiểu rõ hơn về cách mà chữ Nôm tự tạo thể hiện ý nghĩa trong văn bản. Điều này không chỉ giúp làm rõ chức năng của chúng mà còn phản ánh sự sáng tạo của người viết.

3.2. Khảo sát cấu trúc hình thể của chữ Nôm tự tạo

Khảo sát cấu trúc hình thể giúp xác định cách mà các ký tự được tạo ra và sử dụng trong văn bản. Việc này có thể giúp phát hiện ra những quy luật và nguyên tắc trong việc sáng tạo chữ Nôm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu chữ Nôm tự tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa Việt Nam. Việc hiểu rõ về chữ Nôm tự tạo có thể giúp nâng cao nhận thức về di sản văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc.

4.1. Bảo tồn di sản văn hóa qua chữ Nôm

Việc nghiên cứu và bảo tồn chữ Nôm tự tạo góp phần quan trọng trong việc gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc. Điều này không chỉ giúp bảo tồn ngôn ngữ mà còn giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống.

4.2. Giáo dục và nâng cao nhận thức về chữ Nôm

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo có thể được áp dụng trong giáo dục, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa của tổ tiên. Việc này không chỉ nâng cao nhận thức mà còn khơi dậy niềm tự hào về di sản văn hóa.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu chữ Nôm tự tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu. Việc tiếp tục khai thác và phân tích các khía cạnh của chữ Nôm tự tạo sẽ giúp làm phong phú thêm hiểu biết về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

5.1. Tương lai của nghiên cứu chữ Nôm tự tạo

Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo sẽ tiếp tục phát triển, với nhiều phương pháp và công cụ mới được áp dụng. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn về sự phát triển của chữ Nôm trong lịch sử.

5.2. Khuyến khích nghiên cứu và bảo tồn chữ Nôm

Cần có nhiều hơn nữa các chương trình nghiên cứu và bảo tồn chữ Nôm tự tạo. Việc này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn khơi dậy niềm tự hào về ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu chữ nôm tự tạo trong văn bản giải âm truyền kỳ mạn lục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHỮ NÔM VÀ VĂN BẢN TÂN BIÊN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC Dẫn nhập: Với đề tài luận án là Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục, trước hết người đọc có thể sẽ đặt ra những câu hỏi như: Chữ Nôm là gì? Chữ Nôm tự tạo là gì? Văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục là một văn bản như thế nào? Để giải đáp những vấn đề này, trong chương đầu của luận án chúng tôi sẽ làm rõ định nghĩa chữ Nôm một cách khách quan dựa trên những định nghĩa đã có của các học giả, giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu chữ Nôm tại Việt Nam và ở các nước khác; phân biệt rõ khái niệm chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo; đồng thời cũng giới thiệu bốn bộ ván in cơ bản và những văn bản khác nhau của Tân biên truyền kỳ mạn lục, đặc biệt nhấn mạnh bản mang ký hiệu HN 257 và HN 258 là đối tượng nghiên cứu chính của luận án.1 Định nghĩa chữ Nôm Muốn đi sâu vào nghiên cứu chữ Nôm, trước hết chúng ta phải làm rõ vấn đề định nghĩa chữ Nôm. Về vấn đề này, nhiều học giả đã nêu ra quan điểm của mình trong các chuyên khảo hoặc bài viết đã công bố. Ví dụ trong cuốn Chữ Nôm:Nguồn gốc-cấu tạo-diễn biến, Đào Duy Anh viết: “Chữ Nôm là thứ chữ dân tộc của ta đã được dùng trong gần mười thế kỷ, mãi đến gần đây, cuối thời Pháp thuộc nó mới trở thành, cũng như chữ Hán, một thứ cổ tự không được dùng trong đời sống hàng ngày nữa.” [Đào Duy Anh, 1975, tr. Trong bài Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm, Nguyễn Tài Cẩn và N.Xtankevich viết: “Chữ Nôm là một lối chữ vuông, xuất thân từ chữ Hán, nhưng lại chuyên dùng để ghi tiếng Việt.” [Nguyễn Tài Cẩn, 1985, tr.

Trong cuốn Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt, Nguyễn Tá Nhí viết: “Chữ Nôm là chữ viết của người Việt Nam được tạo 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra bằng cách sử dụng các yếu tố có sẵn trong chữ Hán.” [Nguyễn Tá Nhí, 1997, tr. Trong cuốn Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm, Nguyễn Ngọc San viết: “.chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thể nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Trong “Lời dẫn” cho bộ Tự điển chữ Nôm (2006), Nguyễn Quang Hồng viết rằng: “Chữ Nôm của dân tộc Việt là một thứ chữ ô vuông […], về cơ bản là biểu âm biểu ý, theo kiểu Hán tự” [Nguyễn Quang Hồng, 2006e, tr. Trong cuốn Khái luận văn tự học chữ Nôm, ông còn xác định chữ Nôm như một hệ thống văn tự theo một loạt các tiêu chí đặc trưng: “(a) Chữ Nôm là văn tự viết nét bút theo ‘ô vuông’ [.] (b) Chữ Nôm là văn tự ô vuông ghi âm tiết [.] (c) Chữ Nôm là văn tự ô vuông ghi ngữ tố [.] (d) Chữ Nôm là văn tự chữ vuông ghép thành tố [.] (e) Chữ Nôm là văn tự ô vuông biểu âm - biểu ý[.]” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.

Ở Trung Quốc, cũng có nhiều học giả nêu ý kiến của mình về định nghĩa chữ Nôm. Ví dụ trong cuốn Nghiên cứu tiếng Hán Việt 汉越语研究, Vương Lực 王力 cho rằng: “Chữ Nôm, là thứ chữ được tạo ra cho tiếng nói thông tục trong tiếng Việt theo phép tạo chữ của chữ Hán.” [王力, 1948, tr. Trong bài “Chữ Nôm của Việt Nam 越南的喃字”, Mã Khắc Thừa 马 克承 viết: “Chữ Nôm là văn tự dân tộc Việt Nam được tạo ra theo phép tạo chữ của chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt.” [马克承, 1998, tr. Trong bài “Bàn về ảnh hưởng của chữ Hán đối với chữ Nôm 论汉字对字喃的影响”, Đàm Chí Từ 谭志词 viết: “Chữ Nôm là một hệ thống văn tự Việt Nam được tạo ra trên cơ sở sử dụng chữ Hán, lấy chữ Hán và bộ thủ chữ Hán làm nguyên liệu, áp dụng ba phép tạo chữ là giả tá, hình thanh và hội ý, cơ bản đọc theo âm Hán Việt (bao gồm âm cổ Hán Việt và âm Hán Việt ngày nay), dùng để ghi tiếng Việt (gồm cả từ Hán Việt).” [谭志词, 2000, tr.

Trong bài “Định nghĩa chữ Nôm 喃字界说”, Lâm Minh Hoa 林明华 cho rằng: “Chữ Nôm là một loại văn tự ô vuông của Việt Nam được tạo ra trên cơ sở chữ Hán trong thời kỳ sử dụng chữ Hán bằng phép tạo chữ giả tá, hình thanh, hội ý trong ‘Lục thư’, dùng để ghi ‘quốc âm’[=tiếng nói thông tục, không bao gồm từ 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán Việt-tác giả luận án] trong tiếng Việt. Nói tóm lại, chữ Nôm tức là văn tự thông tục dân gian dùng để ghi ‘quốc âm’ trong tiếng Việt.” [林明华, 1989, tr. Ngoài ra, trong nhiều từ điển cũng có định nghĩa về chữ Nôm. Ví dụ trong Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa chữ Nôm là: “Chữ viết cổ của tiếng Việt, dựa vào chữ Hán mà đặt ra.” [Từ điển tiếng Việt, 2008, tr.

Trong bộ Từ Hải 辞海 của Trung Quốc đã định nghĩa chữ Nôm là “những chữ Hán mượn dùng và những chữ Việt Nam được tạo ra theo hình thức chữ Hán để ghi tiếng Việt Nam trong thời kỳ Việt Nam mượn dùng chữ Hán” [辞海, 1987, tr. Tóm lại, nói tới chữ Nôm, người ta thường xuất phát từ các mặt đặc trưng, tính chất, phạm vi sử dụng v. của thứ chữ này để nêu ra định nghĩa. Chúng tôi cho rằng, muốn định nghĩa chữ Nôm một cách toàn diện và khách quan, trước tiên phải làm rõ hai vấn đề như sau: Một là loại chữ Hán mượn dùng - mượn hình, mượn nghĩa và đọc theo âm Hán Việt - trong văn bản Nôm có phải là chữ Nôm hay không? Về vấn đề này, có học giả cho rằng đây là chữ Hán, chứ không phải là chữ Nôm, vì loại chữ này mượn cả ba mặt âm, nghĩa, hình của chữ Hán.

Chỉ có loại chữ Hán mượn dùng có đặc trưng là đồng hình, đồng (hoặc gần) âm nhưng khác nghĩa mới là chữ Nôm.1 Nhưng phần nhiều học giả cho rằng đây là loại chữ mượn Hán cả về văn tự cả về từ ngữ, được sử dụng tự nhiên trong văn bản chữ Nôm tiếng Việt, cho nên phải được quy vào phạm trù chữ Nôm. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong cách phân loại chữ Nôm của các học giả, như Đào Duy Anh, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Quang Hồng.2 Chúng tôi cho rằng loại chữ này tất nhiên là chữ Hán, nhưng đồng thời cũng là chữ Nôm. Vì nó đã được mượn dùng trong văn bản Nôm, cùng với các loại chữ Nôm khác cấu thành một nền văn tự hoàn chỉnh, đảm nhận chức năng ghi ngôn ngữ Việt Nam. 1 Xin xem: [林明华, 1989, tr.

2 Xin lần lượt xem tại: [Đào Duy Anh, 1975, tr. 65-84], [Nguyễn Tài Cẩn, 1985, tr.53], [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là về mặt đặc trưng loại hình, chữ Nôm là một loại văn tự như thế nào? Chữ Nôm không phải là một loại văn tự thuần biểu ý, điều này đã được mọi người công nhận. Nhưng về vấn đề chữ Nôm là một thứ chữ biểu âm - biểu ý hay là một loại văn tự ghi âm thì vẫn có tranh luận.

Ví dụ Nguyễn Ngọc San cho rằng chữ Nôm là một loại văn tự ghi âm: “.nhìn toàn bộ quá trình phát triển của chữ Nôm ta thấy lúc nào nó cũng cố gắng ghi trung thành âm Việt ở thời điểm nó sáng tác và xét về mặt đó thì chữ Nôm là nền văn tự ghi âm, tất nhiên là ghi theo cách riêng của nó, tuy nhiên về hình thể nó thuộc loại văn tự hình khối, biểu ý.” [Nguyễn Ngọc San, 2003, tr. Nguyễn Quang Hồng thì lưu ý đến một tình hình ngược lại, là “nếu nhìn toàn bộ quá trình phát triển chữ Nôm thì ta thấy một sự thực là chữ ‘giả tá’ mượn từ chữ Hán để ghi âm các từ gốc Việt ngày càng được ‘hình thanh’ hóa, nghĩa là từ chỗ các từ ấy chỉ được biểu âm thuần túy, trở nên có chữ ghép ‘âm+ý’ để thể hiện phần nghĩa của nó nữa. Đương nhiên là với quan hệ liên tưởng qua lại giữa âm và nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ, cả hai thành tố ‘biểu âm’ và ‘biểu ý’ trong chữ vuông sẽ ‘hỗ trợ’ cho nhau để nhận diện ra âm và nghĩa chính xác của ngữ tố được ghi. Hai ‘mặt’ âm và nghĩa ở đây là ‘hai mặt của một tờ giấy’, không thể chỉ thừa nhận mặt này mà phủ nhận mặt kia.xét về mật độ chữ Hán ghi âm Nôm khá đậm trong văn bản, ta có thể nói rằng văn bản chữ Nôm nghiêng về mặt biểu âm, nhưng điều này không thể phủ nhận chữ Nôm là một hệ thống văn tự biểu âm - biểu ý khá điển hình.” [Nguyễn Quang Hồng, 2008, tr.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Nguyễn Quang Hồng, cho rằng chữ Nôm là một loại văn tự biểu âm - biểu ý. Vì dù rằng những chữ Nôm xuất hiện đầu tiên là mượn từ chữ Hán để ghi âm tiếng Việt bằng cách giả tá, nhưng dần dần nhiều chữ giả tá này đã được gia thêm thành tố biểu ý để hình thanh hóa, loại chữ hình thanh có tỷ lệ ngày càng cao hơn; ngoài ra, trong chữ Nôm còn có một loại chữ là chữ hội ý. Những điều này chứng tỏ thành tố biểu ý là phần rất quan trọng trong cấu trúc chữ Nôm, vì vậy, nói chữ Nôm là một loại văn tự biểu âm - biểu ý thì chính xác hơn và toàn diện hơn. 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở những định nghĩa về chữ Nôm của các học giả và những điều thảo luận kể trên, chúng tôi xin nêu ra cách định nghĩa của mình về chữ Nôm: Chữ Nôm là một hệ thống văn tự Việt Nam được tạo ra trên cơ sở chữ Hán để ghi tiếng Việt, là một loại văn tự biểu âm - biểu ý (ghi âm tiết – ngữ tố), bao gồm hai phần lớn là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo (hai khái niệm này sẽ được trình bày ở tiểu mục 1.2 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm 1.1 Tình hình nghiên cứu chữ Nôm ở Việt Nam Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chữ Nôm được triển khai khá sớm.

Khi chữ Nôm còn được sử dụng rộng rãi đã được nhiều học giả quan tâm và tiến hành nghiên cứu nhằm phục vụ công việc giảng dạy và đề ra phương án cải tiến văn tự dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ