Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số 62.01) mang tên "Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục" của nghiên cứu sinh Nhiếp Tân (Nie Bin), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Quang Hồng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2012).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chữ Nôm trong lịch sử văn tự Việt Nam được phân chia thành hai khối lớn: chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo. Nếu chữ Nôm mượn Hán là các chữ vay mượn trực tiếp từ chữ Hán (mượn cả hình, âm, nghĩa hoặc mượn âm/nghĩa) và không có cấu trúc nội tại của tiếng Việt, thì chữ Nôm tự tạo là bộ phận văn tự do người Việt tự sáng tạo trên cơ sở chất liệu chữ Hán, chỉ xuất hiện trong văn bản Nôm và hầu hết đều mang cấu trúc nội tại. Việc nghiên cứu chữ Nôm tự tạo phản ánh đặc trưng cấu tạo, tính độc đáo và quy luật kết hợp chất liệu biểu âm - biểu ý của văn tự Nôm.

Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XVI (được Hà Thiện Hán đề tựa năm 1547). Sau đó, tác phẩm được Nguyễn Thế Nghi dịch giải âm sang chữ Nôm và được khắc in sóng đôi với nguyên tác Hán văn trong bộ sách Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú. Bản dịch Nôm này gồm 4 quyển với 20 truyện, tổng cộng 45.421 lượt chữ Nôm, được xem là một trong những dịch phẩm văn học đầu tiên từ Hán sang Việt và phản ánh diện mạo chữ Nôm ở giai đoạn cuối thế kỷ XVII khi hệ thống văn tự này đã phát triển hoàn chỉnh.

Mặc dù Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú đã được nhiều học giả khảo sát về văn bản học, dịch thuật học, ngữ âm lịch sử hoặc phiên âm từng truyện riêng lẻ, nhưng trước luận án này chưa có công trình nào tiến hành bao quát toàn bộ 20 truyện, xử lý trọn vẹn 45.421 lượt chữ Nôm để bóc tách, khảo sát và phân loại có hệ thống riêng khối chữ Nôm tự tạo trên cả hai bình diện: cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Xác định tiêu chí phân định khoa học giữa chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo, xử lý các trường hợp phức tạp như chữ Nôm tự tạo trùng hình ngẫu nhiên với chữ Hán hoặc các dạng viết tắt.
  2. Thống kê, phân loại toàn bộ hệ thống chữ Nôm tự tạo xuất hiện trong 20 truyện của bản giải âm Truyền kỳ mạn lục.
  3. Khảo sát chi tiết chữ Nôm tự tạo từ góc nhìn cấu trúc chức năng (quan hệ kết hợp giữa thành tố biểu âm và thành tố biểu ý, tình hình sử dụng bộ thủ, các hiện tượng biến thể ngữ tố).
  4. Khảo sát chi tiết chữ Nôm tự tạo từ góc nhìn cấu trúc hình thể (bố cục không gian hình học của chữ, hiện tượng viết tắt, hiện tượng biến thể hình khối).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống chữ Nôm tự tạo xuất hiện trong phần dịch giải âm của sách Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú.
  • Phạm vi văn bản: Bản in khắc gỗ mang ký hiệu HN 257 (Quyển I, Quyển II) và HN 258 (Quyển III, Quyển IV) hiện lưu giữ tại Viện Văn học Hà Nội. Bản sách này thuộc bộ ván in năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), là bản in nguyên vẹn nhất còn lại, gồm 4 quyển, 20 truyện, 602 trang, chữ khắc rõ nét.
  • Phạm vi thời gian: Tác phẩm văn bản giải âm được xác định ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVII; văn bản khảo sát cụ thể được khắc in lại vào năm 1774.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về chữ Nôm tự tạo

Vấn đề cấu tạo chữ Nôm và chữ Nôm tự tạo đã được ghi nhận trong nhiều công trình nghiên cứu:

  • Đào Duy Anh (1975) trong Chữ Nôm: Nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến đã xác định chữ Nôm được tạo ra dựa trên ba phép trong "Lục thư" là hội ý, giả tá và hình thanh; trong đó hội ý và hình thanh phản ánh phương thức tạo chữ Nôm tự tạo.
  • Nguyễn Tài Cẩn và N. Xtankevich (1976, 1985) trong bài viết "Điểm qua vài nét về tình hình cấu tạo chữ Nôm" đã chính thức phân lập hai khối lớn là chữ Nôm mượn Hán (chữ đơn, không có cấu trúc nội tại) và chữ Nôm tự tạo (chữ có thể chia thành thành tố, có cấu trúc nội tại), đồng thời phân chia chữ Nôm tự tạo thành 5 tiểu loại: gia thêm biến đổi phụ, ghép âm + âm, ghép nghĩa + nghĩa, ghép âm + nghĩa (bộ + chữ), ghép âm + nghĩa (chữ + chữ).
  • Hoàng Thị Ngọ (1999) qua khảo sát bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (thế kỷ XV) đã phân chia chữ Nôm thành loại dùng hai mã chữ rời và loại dùng một mã chữ; trong loại một mã chữ có phân biệt chữ đơn và chữ ghép (tức chữ tự tạo).
  • Nguyễn Tá Nhí (1997) trong Các phương thức biểu âm trong cấu trúc chữ Nôm Việt đi sâu miêu tả các phương thức và thành tố biểu âm.
  • Lã Minh Hằng (2004) trong Cấu trúc nghĩa trong chữ Nôm Việt khảo sát các phương thức biểu ý và ký tự biểu ý của chữ Nôm.
  • Nguyễn Ngọc San (2003) trong Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm phân loại chữ Nôm thành nhóm mượn thẳng và nhóm có cấu tạo riêng, chú trọng đến phần phụ âm đầu.
  • Nguyễn Quang Hồng (2008) trong Khái luận văn tự học chữ Nôm đề xuất nguyên tắc phân định chữ Nôm mượn Hán và tự tạo, chia chữ Nôm tự tạo thành 8 loại hình chức năng và phân lập rõ hai khái niệm: cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể.

Ở ngoài Việt Nam, nghiên cứu chữ Nôm được tiến hành tại:

  • Trung Quốc: Văn Hựu (1933) trên Yên Kinh học báo nghiên cứu kết cấu chữ Nôm và chỉ ra xu thế chuyển từ giả tá sang hình thanh; Vương Lực (1948) trong Nghiên cứu tiếng Hán Việt phân tích chữ Nôm từ góc độ ngữ âm lịch sử và âm vận học; các nghiên cứu của Lý Lạc Nghị (1980), Lâm Minh Hoa (1984, 1989, 1991), La Trường Sơn (1990), Mã Khắc Thừa (1998), Đàm Chí Từ (1998, 2000), Nhan Bảo (2000, 2006), Kỳ Quảng Mưu (2003), Nhiếp Tân (2003, 2008).
  • Nhật Bản: Keji Tomita (1979), Y. Takeuchi (1988 với Tự điển chữ Nôm), Shimizu Masa Aki, Kawamoto Kuniye (1996 với Truyền kỳ mạn lục san bản khảo), và dự án phân tích thành tố của Viện Mojikyo.
  • Pháp: A. Chéon, H. Cadière (1908–1909), Hoàng Xuân Hãn (1978–1979), Philippe Papin (1997, 1998).
  • Hoa Kỳ: Nguyễn Khắc Kham, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Ngọc Bích và các hoạt động của Hội bảo tồn di sản chữ Nôm (thành lập năm 1999) với việc đưa chữ Nôm vào chuẩn Unicode/ISO.

Các hướng nghiên cứu về văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục

  • Đào Duy Anh (1975) xem Tân biên truyền kỳ mạn lục là tác phẩm quá độ từ giai đoạn hai sang giai đoạn ba của lịch sử chữ Nôm, đồng thời phiên âm một đoạn truyện Khoái Châu nghĩa phụ truyện.
  • Lê Văn Quán (1981) khảo sát chữ Nôm của tác phẩm qua việc đối chiếu với các thư tịch khác.
  • Trần Nghĩa (1985) công bố bản in năm 1712, thảo luận về niên đại và dịch giả.
  • Trần Khánh Hạo (1986) trong Việt Nam Hán văn tiểu thuyết trùng san đối chiếu các bản in ở Pháp và Trung Quốc.
  • Nguyễn Đăng Na (1988) thảo luận về số lượng truyện (20 hay 22 truyện).
  • Kawamoto Kuniye (1992) khảo sát các bản in năm 1714 tại Nhật Bản.
  • Schneider Paul (1995) phân tích ngữ âm lịch sử và từ ngữ cổ qua bản dịch Nôm.
  • Hoàng Hồng Cẩm (1995, 1996a, 1996b, 1998, 1999, 2000) công bố nhiều bài viết, luận án tiến sĩ và chuyên khảo về văn bản, dịch Nôm, ngữ âm cổ và phiên âm toàn văn 20 truyện kèm bảng đối chiếu hư từ.
  • Nguyễn Quang Hồng (1995, 2001, 2005) phiên âm, khảo cứu và chú giải toàn bộ 20 truyện của bản giải âm năm 1774 trong công trình Truyền kỳ mạn lục giải âm (2001), đồng thời khảo sát cách thức chuyển dịch từ ngữ song tiết Hán văn sang Nôm (2005).
  • Nguyễn Nam (2002) khảo sát văn bản từ góc nhìn phiên dịch học lịch sử - văn hóa.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn khảo cứu tác phẩm ở bình diện ngữ âm học lịch sử, văn bản học hoặc dịch thuật, hoặc chỉ khảo sát chữ Nôm trên các mẫu trích đoạn. Luận án này là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện 45.421 lượt chữ Nôm trong toàn bộ 20 truyện của bản Cảnh Hưng 35, bóc tách toàn bộ các chữ Nôm tự tạo để phân tích độc lập và hệ thống hóa theo hai trục: cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết văn tự học và Hán tự học: Luận án vận dụng định nghĩa văn tự học là ngành nghiên cứu nguồn gốc, đặc điểm, loại hình, thuộc tính và hệ thống cấu trúc của chữ viết. Về loại hình, chữ Hán và chữ Nôm được xác định là loại hình văn tự biểu ý - biểu âm, ghi ngữ tố - âm tiết.
  2. Thuyết Lục thư và Tam thư: Luận án tiếp thu lý thuyết Lục thư truyền thống (chỉ sự, tượng hình, hình thanh, hội ý, chuyển chú, giả tá theo Hứa Thận trong Thuyết văn giải tự) và thuyết Tam thư hiện đại (Đường Lan, Cừu Tích Khuê) để phân tích các cơ chế tạo chữ.
  3. Lý thuyết hai bình diện cấu trúc chữ Nôm: Tiếp thu mô hình lý thuyết của Nguyễn Quang Hồng (2008), phân biệt rành mạch giữa:
    • Cấu trúc chức năng: Quan hệ giữa các thành tố đảm nhiệm chức năng biểu âm và biểu ý trong nội bộ chữ.
    • Cấu trúc hình thể: Bố cục sắp xếp không gian hình học của các nét và các bộ phận cấu thành chữ ô vuông.

Nguyên tắc phân định chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo

Luận án xác lập các nguyên tắc phân định:

  • Chữ Nôm mượn Hán: vay mượn từ chữ Hán, có mặt trong văn bản Hán, không có cấu trúc nội tại tiếng Việt.
  • Chữ Nôm tự tạo: do người Việt ghép tạo, chỉ dùng trong văn bản Nôm, mang cấu trúc nội tại.
  • Đối với trường hợp chữ Nôm tự tạo trùng hình ngẫu nhiên với chữ Hán (ví dụ: 坦 đất, 唭 cười, 抇 nhặt, 迻 đưa, 咚 gióng): cần tra cứu tự điển và thư tịch cổ Trung Quốc để kiểm tra xem chữ Hán đó có thực sự tồn tại và được dùng đương thời hay không, đồng thời phân tích âm đọc và nghĩa để xác định xem đó là sự vay mượn thực sự hay chỉ là trùng hợp về mặt hình thể.
  • Đối với các chữ viết tắt: xác định các trường hợp viết tắt của cả chữ hoặc viết tắt của thành tố biểu âm/biểu ý.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thống kê định lượng văn tự học lịch sử: Thống kê toàn bộ số lượt và kiểu chữ Nôm tự tạo trong văn bản, phân loại cụ thể theo từng nhóm cấu trúc.
  • Phương pháp đối chiếu – so sánh: So sánh chữ Nôm với chữ Hán gốc, so sánh giữa các truyện, so sánh các dị thể và biến thể tự hình.
  • Thao tác nghiên cứu: Thống kê, phân loại, quy nạp, miêu tả hình thể và chức năng.
  • Phối hợp liên ngành: Kết hợp kiến thức văn bản học, ngữ âm học lịch sử và âm vận học Hán - Việt.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Luận án sử dụng bản khắc in Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú lưu trữ tại Viện Văn học Hà Nội, ký hiệu HN 257 (Quyển I, II) và HN 258 (Quyển III, IV). Văn bản thuộc bộ ván in năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774), gồm 602 trang, phản ánh 20 truyện phân bổ đều trong 4 quyển.

Quyển Tên truyện viết tắt Tên truyện đầy đủ
Quyển I Hạng, Khoái, Mộc, Trà, Tây Hạng Vương từ ký, Khoái Châu nghĩa phụ truyện, Mộc miên thụ truyện, Trà Đồng giáng đán lục, Tây viên kỳ ngộ ký
Quyển II Long, Đào, Tản, Từ, Phạm Long Đình đối tụng lục, Đào thị nghiệp oan ký, Tản viên từ phán sự lục, Từ Thức tiên hôn lục, Phạm Tử Hư du Thiên Tào lục
Quyển III Xương, Na, Đông, Thúy, Đà Xương Giang yêu quái lục, Na Sơn tiều đối lục, Đông Triều phế tự lục, Thúy Tiêu truyện, Đà Giang dạ ẩm ký
Quyển IV Nam, Lý, Lệ, Kim, Dạ Nam Xương nữ tử truyện, Lý tướng quân truyện, Lệ Nương truyện, Kim Hoa thi thoại ký, Dạ Xoa bộ soái ký

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về chữ Nôm và văn bản Tân biên Truyền kỳ mạn lục

Chương 1 làm rõ các vấn đề nền tảng về khái niệm chữ Nôm và hệ thống văn bản của tác phẩm:

  • Định nghĩa chữ Nôm: Luận án tổng hợp các định nghĩa của Đào Duy Anh, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Tá Nhí, Nguyễn Ngọc San, Nguyễn Quang Hồng, Vương Lực, Mã Khắc Thừa, Đàm Chí Từ, Lâm Minh Hoa; từ đó định nghĩa: Chữ Nôm là hệ thống văn tự của người Việt được tạo ra trên cơ sở chữ Hán để ghi tiếng Việt, thuộc loại hình văn tự biểu âm - biểu ý (ghi âm tiết - ngữ tố), bao gồm hai khối là chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo. Khối chữ Hán mượn dùng trong văn bản Nôm được khẳng định là một bộ phận hữu cơ của hệ thống chữ Nôm.
  • Tình hình nghiên cứu chữ Nôm: Khảo cứu lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam qua các giai đoạn (từ thời trung đại, đầu thế kỷ XX, nửa sau thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI) và tại các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ.
  • Phân định chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo: Minh họa qua trích đoạn mở đầu truyện Hạng Vương từ ký, chỉ rõ các chữ mượn Hán nguyên dạng (官 quan, 承 thừa), mượn âm bỏ nghĩa (蒸 chưng), mượn âm đọc chệch (羅 là, 咍 hay, 疎 thơ, 強 càng) và các chữ tự tạo biểu âm - biểu ý (dài, dạy, dỗ, trêu, giễu) hoặc hội âm (lời).
  • Văn bản Tân biên Truyền kỳ mạn lục: Khảo sát 4 bộ ván in cơ bản theo nghiên cứu của Kawamoto Kuniye:
    1. Bộ ván Vĩnh Thịnh thập niên (1714), Loại Am hội chú bản.
    2. Bộ ván Vĩnh Hựu tam niên (1737), Kế Thiện Đường tập thành bản.
    3. Bộ ván Cảnh Hưng nhị thập tứ niên (1763), Nguyễn Bích gia bản trùng san bản.
    4. Bộ ván Cảnh Hưng tam thập ngũ niên (1774), Nguyễn Đình Lân gia trùng san bản.
  • Khảo sát các bản in hiện còn tại Hà Nội (R.109, R.110, VNv.706, VNv.707, HN 257-258, A.1101, VHv.151, Hv.187) và các bản chép tay (A.190, A.191, VNv.708, A.2736). Luận án chứng minh bản HN 257 - HN 258 thuộc bộ ván Cảnh Hưng 35 (1774) là bản in hoàn chỉnh nhất, có giá trị văn bản học cao để nghiên cứu. Tác giả xác định bản dịch Nôm được hoàn thành vào cuối thế kỷ XVII.

Chương 2: Lý thuyết văn tự học và chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục

Chương 2 thiết lập khung phân tích lý thuyết văn tự học cho đề tài:

  • Cơ sở lý thuyết văn tự học và Hán tự học: Phân tích các loại hình văn tự trên thế giới (văn tự biểu ý, văn tự biểu ý kiêm biểu âm, văn tự ghi âm; văn tự ghi từ, văn tự ghi ngữ tố). Trình bày lịch sử Hán tự học từ thời Tiên Tần, Hán (Thuyết văn giải tự của Hứa Thận), Tấn (Ngọc thiên của Cố Dã Vương), Minh (Tự hội của Mai Ưng Tộ), Thanh (Khang Hy tự điển) đến thời kỳ hiện đại.
  • Hệ thống phân loại: Phân tích lý thuyết Lục thư (chỉ sự, tượng hình, hình thanh, hội ý, chuyển chú, giả tá) và Tam thư (Đường Lan: tượng hình, tượng ý, hình thanh; Cừu Tích Khuê: biểu ý, giả tá, hình thanh).
  • Phương pháp phân định chữ Nôm tự tạo:
    • Khảo sát hiện tượng chữ Nôm tự tạo ngẫu nhiên trùng hình với chữ Hán dựa trên việc tra cứu các tự điển cổ Trung Quốc, tần suất xuất hiện và đối chiếu ngữ âm - ngữ nghĩa lịch sử (như các chữ 坦 đất, 唭 cười, 抇 nhặt, 迻 đưa, 咚 gióng).
    • Phân định các dạng chữ Nôm có yếu tố viết tắt (viết tắt cả chữ hoặc viết tắt thành tố).
  • Khung phân tích cấu trúc chữ Nôm: Giới thuyết hai bình diện cốt lõi theo mô hình của Nguyễn Quang Hồng (2008): cấu trúc chức năng (quan hệ âm - ý của các thành tố tạo chữ) và cấu trúc hình thể (mô hình bố cục không gian vuông của chữ viết).

Chương 3: Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục từ góc nhìn cấu trúc chức năng

Chương 3 tiến hành thống kê và phân tích chi tiết chữ Nôm tự tạo theo các nhóm cấu trúc chức năng:

  • Phân loại 8 nhóm cấu trúc chức năng:
    1. Chữ hội âm đẳng lập: Ghép hai thành tố biểu âm bình đẳng.
    2. Chữ hội âm chính phụ: Ghép thành tố biểu âm chính với thành tố biểu âm phụ; phân tích các nhóm chữ dùng 個/个 "cá", 車 "cư", 巨 "cự", 多 "đa" làm thành tố phụ ghi âm phụ âm đầu hoặc biến âm.
    3. Chữ hội ý đẳng lập: Ghép hai thành tố biểu ý bình đẳng.
    4. Chữ hội ý chính phụ: Ghép thành tố biểu ý chính và phụ.
    5. Chữ hình thanh đẳng lập: Ghép thành tố biểu âm và thành tố biểu ý có vị trí kết cấu cân xứng.
    6. Chữ hình thanh chính phụ: Ghép thành tố biểu âm và thành tố biểu ý theo quan hệ chính phụ (chiếm số lượng lớn nhất).
    7. Chữ đơn lấy âm: Dùng chữ Hán hoặc ký hiệu đơn lẻ ghi âm tiếng Việt kèm dấu hiệu chuyên biệt.
    8. Chữ đơn lấy nghĩa: Dùng chữ biểu ý đơn độc.
  • Khảo sát bộ thủ trong chữ Nôm tự tạo: Thống kê việc sử dụng 214 bộ thủ chữ Hán trong cấu tạo chữ Nôm tự tạo; phân tích hai chức năng ngữ nghĩa chính của bộ thủ:
    • Chức năng thể hiện nghĩa "xác chỉ" (chỉ rõ đối tượng cụ thể).
    • Chức năng thể hiện nghĩa "phạm trù" hoặc "trường nghĩa" (chỉ lớp sự vật, hiện tượng).
  • Các hiện tượng tương quan giữa chữ Nôm và ngữ tố:
    • Hiện tượng một âm có nhiều dạng chữ ghi (dị thể tự hình, chữ khác hình đồng âm khác nghĩa).
    • Hiện tượng dùng một dạng chữ ghi nhiều âm (khác nhau về âm đọc và ý nghĩa).
    • Hiện tượng chuyển dụng chữ Nôm (chuyển dụng làm chữ mới hoặc làm thành tố tạo chữ).
    • Hiện tượng một dạng chữ khi là chữ mượn Hán, khi là chữ tự tạo.
    • Hiện tượng viết nhầm, khắc nhầm trong văn bản khắc in.
    • Hiện tượng mượn dùng cùng một chữ Hán làm thành tố biểu ý trong từ láy song tiết.
    • Hiện tượng cùng một chữ Hán đảm nhiệm các chức năng khác nhau trong các chữ Nôm khác nhau.

Chương 4: Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục từ góc nhìn cấu trúc hình thể

Chương 4 khảo sát hình thái không gian và phương thức bố cục nét chữ:

  • Phân loại chữ Nôm tự tạo theo cấu trúc hình thể:
    • Cấu trúc trái phải: Dạng cấu trúc phổ biến nhất, xuất hiện ở cả ba loại chữ hội âm, hội ý và hình thanh.
    • Cấu trúc trên dưới: Thành tố này đặt phía trên thành tố kia, xuất hiện ở chữ hội âm, hội ý và hình thanh.
    • Cấu trúc bao dưới: Thành tố bao bọc phía dưới hoặc bao bọc hai/ba phía từ dưới lên.
    • Cấu trúc bao trên: Thành tố bao quanh từ phía trên.
    • Cấu trúc bọc trên: Thành tố bao bọc toàn bộ hoặc bán phần bên trên.
    • Cấu trúc đơn thể: Các chữ đơn độc không phân tách thành các khối ghép rời rạc.
  • Vị trí của bộ thủ: Khảo sát vị trí phân bố của bộ thủ biểu ý trong các mô hình hình thể (nằm bên trái, bên phải, bên trên, bên dưới, hoặc bao bọc).
  • Hiện tượng viết tắt trong cấu trúc hình thể:
    • Viết tắt toàn bộ chữ.
    • Viết tắt thành tố tạo chữ (chỉ viết tắt thành tố biểu âm, chỉ viết tắt thành tố biểu ý, hoặc viết tắt cả hai thành tố).
  • Hiện tượng biến thể hình thể:
    • Biến thể sinh ra do sự chuyển dịch vị trí không gian giữa các thành tố cấu tạo chữ (đổi chỗ trái - phải, trên - dưới).
    • Biến thể sinh ra do hiện tượng viết tắt các nét hoặc các bộ phận cấu thành.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Làm rõ tiêu chí phân định chữ Nôm: Luận án góp phần giải quyết vấn đề ranh giới giữa chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo, đưa ra các nguyên tắc xử lý cụ thể đối với hiện tượng chữ Nôm tự tạo trùng hình ngẫu nhiên với chữ Hán và hiện tượng chữ viết tắt.
  2. Vận dụng mô hình hai bình diện cấu trúc: Luận án là công trình nghiên cứu quy mô đầu tiên ứng dụng sự phân biệt giữa cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể của GS. Nguyễn Quang Hồng vào việc khảo sát trọn vẹn một văn bản dịch Nôm quy mô lớn thời trung đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Thống kê toàn diện kho chữ Nôm tự tạo thế kỷ XVII: Luận án cung cấp số liệu thống kê đầy đủ về số lượt, số chữ, tỷ lệ các loại hình cấu trúc chức năng và hình thể của chữ Nôm tự tạo trong toàn bộ 20 truyện của bản giải âm Truyền kỳ mạn lục (tổng thể 45.421 lượt chữ Nôm).
  2. Hệ thống hóa dữ liệu qua 8 phụ lục chuyên khảo: Luận án xây dựng 8 bảng phụ lục chi tiết, phản ánh toàn diện diện mạo chữ Nôm tự tạo trong văn bản:
    • Phụ lục 1: Danh mục chữ Nôm tự tạo trong bản giải âm TKML (trang 201–248).
    • Phụ lục 2: Tình hình sử dụng bộ thủ ở chữ Nôm tự tạo (trang 249–252).
    • Phụ lục 3: Tình hình chữ Nôm dị thể (trang 253–255).
    • Phụ lục 4: Tình hình chữ Nôm khác hình đồng âm khác nghĩa (trang 256–259).
    • Phụ lục 5: Tình hình dùng một dạng chữ ghi nhiều âm (trang 260–264).
    • Phụ lục 6: Tình hình chuyển dụng chữ Nôm (trang 265).
    • Phụ lục 7: Tình hình viết tắt trong văn bản (trang 266–269).
    • Phụ lục 8: Tình hình biến thể trong bản giải âm TKML (trang 270–274).
  3. Ứng dụng thực hành: Cung cấp nguồn cứ liệu chuẩn xác phục vụ công tác tra cứu, biên soạn từ điển chữ Nôm, phiên dịch văn bản Hán Nôm và hỗ trợ công tác tin học hóa, số hóa chữ Nôm (mã hóa Unicode/ISO).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Văn bản khảo sát chính là bản in thuộc bộ ván Cảnh Hưng 35 (1774), do đó một số chữ Nôm có thể đã chịu ảnh hưởng của quá trình khắc in lại ở thế kỷ XVIII, dù về cơ bản văn bản phản ánh ngữ liệu dịch thuật cuối thế kỷ XVII.
  • Luận án tập trung chuyên sâu vào khối chữ Nôm tự tạo nên chưa đối chiếu thống kê tỉ mỉ tương quan tần suất giữa toàn bộ khối chữ Nôm mượn Hán với chữ Nôm tự tạo trong từng thiên truyện.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát so sánh vi mô chữ Nôm tự tạo của bản Cảnh Hưng 35 (1774) với các văn bản in sớm hơn của tác phẩm như bộ ván Vĩnh Thịnh thập niên (1714) hiện lưu giữ tại Nhật Bản và bộ ván Vĩnh Hựu tam niên (1737).
  • Mở rộng đối chiếu hệ thống chữ Nôm tự tạo trong bản giải âm Truyền kỳ mạn lục với các văn bản dịch Nôm khác ở thế kỷ XVII và XVIII (như Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, văn bản giải âm các bộ kinh Phật) để làm rõ tiến trình tiêu chuẩn hóa chữ Nôm qua các thời kỳ lịch sử.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật:

  • Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Hán Nôm, Ngôn ngữ học: Tham khảo phương pháp phân tích văn tự học định lượng, cách xử lý mối quan hệ giữa cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể của chữ viết ô vuông.
  • Giảng viên và chuyên gia giảng dạy chữ Nôm: Cung cấp hệ thống ví dụ, bảng biểu minh họa thực tế về các kiểu cấu tạo chữ, đặc biệt là cách người xưa sử dụng các thành tố phụ (个, 車, 巨, 多) để chỉ âm đọc và cấu trúc ghi âm tiếng Việt trung đại.
  • Người làm công tác thư mục và chuyên gia số hóa di sản: Hệ thống 8 bảng phụ lục của luận án là tài liệu tra cứu trực tiếp về tự dạng, dị thể và biến thể của chữ Nôm tự tạo, hỗ trợ công việc xác định mã ký tự trong các dự án gõ và hiển thị chữ Nôm trên máy tính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt chữ Nôm mượn Hán và chữ Nôm tự tạo dựa trên những tiêu chí nào?

Luận án căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản: mặt hình thể xuất hiện và cấu trúc nội tại. Chữ Nôm mượn Hán là chữ vay mượn từ chữ Hán để ghi tiếng Việt, xuất hiện trong cả văn bản Hán và văn bản Nôm, không có cấu trúc nội tại của tiếng Việt (dù có thể mượn cả hình-âm-nghĩa hoặc chỉ mượn âm/nghĩa). Chữ Nôm tự tạo là chữ do người Việt tự sáng tạo trên cơ sở các thành tố chữ Hán, chỉ xuất hiện trong văn bản Nôm và hầu hết đều mang cấu trúc nội tại (chia tách được thành các thành tố biểu âm và biểu ý).

2. Luận án xử lý như thế nào đối với các chữ Nôm tự tạo ngẫu nhiên trùng hình với chữ Hán?

Tác giả giải quyết bằng cách tra cứu tự điển và thư tịch cổ Trung Quốc nhằm xác định xem chữ Hán đó có thực sự tồn tại và được lưu hành ở thời kỳ tương ứng hay không. Nếu chữ Hán chỉ xuất hiện ngẫu nhiên trong chữ Hán hiện đại hoặc từ điển cổ nhưng có âm nghĩa hoàn toàn xa lạ và không được dùng trong giao lưu ngôn ngữ đương thời, thì chữ xuất hiện trong văn bản Nôm là chữ Nôm tự tạo do người Việt ghép ngẫu nhiên trùng hình (như các chữ 坦 đất, 唭 cười, 抇 nhặt, 迻 đưa, 咚 gióng).

3. Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là văn bản nào?

Đối tượng nghiên cứu chính là văn bản in khắc gỗ Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú mang ký hiệu HN 257 (Quyển I, II) và HN 258 (Quyển III, IV) lưu giữ tại Viện Văn học Hà Nội. Bản này thuộc bộ ván in Cảnh Hưng thứ 35 (1774), gồm 4 quyển, 20 truyện, 602 trang, chứa tổng cộng 45.421 lượt chữ Nôm và là bản in nguyên vẹn nhất hiện nay.

4. Hai khái niệm cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể được luận án phân biệt như thế nào?

  • Cấu trúc chức năng: Xem xét vai trò ngữ pháp - văn tự học của các thành tố cấu tạo bên trong chữ Nôm, tức mối quan hệ kết hợp giữa thành tố biểu âm và thành tố biểu ý (gồm 8 loại: hội âm đẳng lập, hội âm chính phụ, hội ý đẳng lập, hội ý chính phụ, hình thanh đẳng lập, hình thanh chính phụ, chữ đơn lấy âm, chữ đơn lấy nghĩa).
  • Cấu trúc hình thể: Xem xét bố cục không gian hình học thực tế của các khối thành tố trong ô vuông (như cấu trúc trái phải, trên dưới, bao dưới, bao trên, bọc trên, đơn thể) cùng các hiện tượng viết tắt và dịch chuyển vị trí tạo nên biến thể.

Kết luận

Luận án "Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong văn bản giải âm Truyền kỳ mạn lục" của Nhiếp Tân là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa toàn bộ khối chữ Nôm tự tạo trong 20 truyện của dịch phẩm Nôm Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (bản in năm 1774). Bằng việc vận dụng lý thuyết văn tự học hiện đại kết hợp phương pháp thống kê định lượng văn tự học lịch sử, tác giả đã phân tích toàn diện kho chữ Nôm tự tạo trên cả hai bình diện cấu trúc chức năng và cấu trúc hình thể. Công trình không chỉ làm rõ các quy luật cấu tạo, hiện tượng biến thể và cách sử dụng bộ thủ của người xưa vào cuối thế kỷ XVII, mà còn cung cấp một hệ thống ngữ liệu tra cứu có giá trị thực tiễn cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và tin học hóa chữ Nôm.