CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính trong tiến trình hội nhập quốc tế 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ngoài nước về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bưu chính trong tiến trình hội nhập quốc tế 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh VarDwer, E.Westgren (1991), “Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”, nghiên cứu này cho rằng khả năng cạnh tranh của một ngành, một DN được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.
Do đó, để đánh giá khả năng cạnh tranh của DN là dựa vào hai chỉ tiêu lợi nhuận và thị phần. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của DN càng cao. Ngược lại, lợi nhuận và thị phần nhỏ phán ánh NLCT của DN bị hạn chế hoặc chưa cao. Tuy nhiên chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ số thành phần khác nhau như: Chỉ số về năng suất (năng suất lao động và tổng năng suất các yếu tố sản xuất); Chỉ số về công nghệ (chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và triển khai); Sản phẩm (chỉ số về chất lượng, sự khác biệt); Đầu vào và các chi phí khác [71].Nelson, Oxford University Press (2003), “Innovation and competitiveness”, nghiên cứu về lý thuyết NLCT, tiếp cận NLCT ngành dưới góc độ tổng thể (NLCT của toàn ngành trong tương quan ngành của quốc gia này với ngành của quốc gia khác).
Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong các cấp độ cạnh tranh. Khi luan an 7 phân tích so sánh NLCT giữa các quốc gia, giữa các ngành và giữa các DN lớn, NLCT có nguồn gốc từ việc tạo ra những khác biệt cần thiết cho việc duy trì sự tăng trưởng trong một môi trường cạnh tranh quốc tế [47]. Gayle Allard và Cristina Simon (2008), “Competitiveness and the employment relationship in Europe: Is there a global missing link in HRM?”, nghiên cứu đề cập đến các liên kết giữa khả năng cạnh tranh và mối quan hệ lao động. Nghiên cứu phân tích NLCT quốc gia của các nước châu Âu thông qua trình độ lao động ở các nước này và đưa ra kết luận cho thấy người lao động trong nước cạnh tranh được hưởng sự linh hoạt và tự chủ.
Một số kết luận được nêu lên về những gì DN có thể làm từ quan điểm quản lý nhân sự để tối ưu hóa khả năng lao động, dẫn đến sản xuất nhiều hơn và cạnh tranh trong môi trường làm việc [44] Michael Porter là nhà tư tưởng chiến lược và là một chuyên gia hàng đầu về chiến lược và chính sách cạnh tranh của thế giới. Porter (1980), “Competitive strategy”, cuốn sách giới thiệu một khung phân tích chi tiết để hiểu những lực lượng ẩn giấu phía sau cạnh tranh trong các ngành, thể hiện trong năm yếu tố: khách hàng, nhà cung ứng, các đối thủ tiềm năng, sản phẩm thay thế, các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Khung phân tích này cho thấy sự khác biệt quan trọng giữa các ngành, sự phát triển của ngành và giúp các công ty tìm ra vị trí hợp lý. Cuốn sách còn làm rõ phân tích cơ cấu của ngành, chu kỳ sống của sản phẩm, khung phân tích dự báo sự vận động của ngành.
Ngoài ra, cuốn sách cũng cấu trúc hóa khái niệm lợi thế cạnh tranh bằng cách định nghĩa nó theo chi phí và tính khác biệt, đồng thời gắn nó trực tiếp với lợi nhuận [54]. Porter (1985), “Competitive advantage”, cuốn sách nghiên cứu và khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh trong từng DN. Trong tác phẩm này Porter đã đưa ra chuỗi giá trị, các chiến lược cạnh tranh của DN như chi phí thấp, khác biệt hóa, chiến lược theo chiều ngang, đa dạng hóa, chiến lược luan an 8 phòng thủ. Đặc biệt Porter đã phân tích sâu về cấu trúc của ngành như định nghĩa thế nào là một ngành, cấu trúc ngành và nhu cầu của người mua, cấu trúc ngành và sự cân bằng cung cầu, ma trận phân khúc ngành, mối quan hệ giữa công nghệ và lợi thế cạnh tranh.
Khái niệm “chuỗi giá trị - value chain” của Porter tách biệt một công ty thành những “hoạt động” khác nhau, những chức năng hoặc quy trình riêng biệt đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh. “Lợi thế cạnh tranh” biến chiến lược từ một tầm nhìn mang tính vĩ mô trở thành một cấu trúc nhất quán của những hoạt động bên trong - một phần quan trọng của tư tưởng kinh doanh quốc tế hiện nay. Chuỗi giá trị của Porter giúp các nhà quản lý phân biệt được những nguồn lực tiềm ẩn của giá trị khách hàng (buyer value) - điều có thể giúp chúng ta đưa ra một mức giá cao, và lý do tại sao sản phẩm hay dịch vụ này lại có thể thay thế cho sản phẩm, dịch vụ khác. Tác giả chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và cả các hoạt động của khách hàng nữa [55].
Porter (1990), “Competitive advantage of nations”, đã đề cập đến NLCT của một ngành công nghiệp. Cuốn sách giới thiệu mô hình kim cương, một phương pháp mới để hiểu vị trí cạnh tranh của một quốc gia (hay một đơn vị địa lý khác) trong cạnh tranh toàn cầu. Mô hình này bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất (factor conditions); các điều kiện về cầu (demand conditions); các ngành hỗ trợ và liên quan có tính cạnh tranh quốc tế (related and supporting industries); chiến lược DN, cấu trúc và đặc tính của môi trường cạnh tranh trong nước (firm strategy and rivalry). Bên cạnh bốn yếu tố chính, M.
Porter còn nêu ra hai yếu tố là: những sự kiện khách quan và vai trò của chính phủ cũng có ảnh hưởng tới việc tạo ra hay dịch chuyển lợi thế cạnh tranh trong các ngành công nghiệp nhất định. Nghiên cứu đột phá của Porter về cạnh tranh quốc tế đã định hình chính sách quốc gia cho nhiều nước trên thế giới. Nó cũng làm thay đổi suy nghĩ và hành động ở các bang, các thành phố, các công ty và luan an 9 thậm chí là toàn bộ khu vực như Trung Mỹ. Dựa trên nghiên cứu tại 10 quốc gia thương mại hàng đầu (Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Anh, Mỹ, Thụy Sỹ, Thụy Điển), cuốn sách đưa ra lý thuyết đầu tiên về sức cạnh tranh dựa trên năng suất, nhờ đó các công ty cạnh tranh với nhau.
Porter cho thấy những lợi thế so sánh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên hay lực lượng lao động đã không còn là nguồn gốc của thịnh vượng và những lý giải vĩ mô về sức cạnh tranh là không đầy đủ, mô hình giờ đây đã trở thành một phần trong tư duy kinh doanh quốc tế [56]. Dunning (1993), “Internationalizing Porter’s Diamond”, nghiên cứu này đã mở rộng mô hình kim cương của Porter trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới. Dunning đã cho rằng mô hình kim cương cũ không còn chính xác trong khi đánh giá NLCT của quốc gia/ngành trong bối cảnh trao đổi thương mại, đầu tư và hợp tác quốc tế. Vì vậy Dunning đã đưa thêm yếu tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của quốc gia/ngành [49].
Trong đó, các cơ chế, chính sách của Nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới yếu tố của NLCT ngành” [82] luan an 10 Chuỗi giá trị toàn cầu Thay đổi công nghệ Cơ chế thương mại Toàn cầu hóa Công ty Người mua Chuỗi giá trị xuyên quốc toàn cầu Luồng hàng hóa, tri gia toàn cầu thức, kỹ năng, CN, vốn Quốc tế Quốc gia Hệ thống ngành Nhà sản xuất Hệ thống hỗ trợ địa phương Thị trường đầu từ các tổ chức Người mua Nhà cung vào trung gian địa phương ứng địa phương Môi trường kinh doanh Quản trị ngành Hình 1.1: Khung phân tích năng lực cạnh tranh ngành của UNIDO 1. Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và phát triển trong lĩnh vực bưu chính UPU (2019), “Postal development report 2019”, đánh giá NLCT và hoạt động hiệu quả của ngành bưu chính của các quốc gia. Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU) đã đưa ra bộ chỉ số tích hợp phát triển bưu chính 2IPD (Integrated luan an 11 Index for Postal Development). Chỉ số 2IPD được xác định dựa trên 4 tiêu chí đánh giá chính, gồm: Độ tin cậy, khả năng tiếp cận, tính phù hợp và khả năng phục hồi.
Trong mỗi tiêu chí chính lại có nhiều tiêu chí phụ. Việc tính toán điểm số 2IPD dựa trên ba loại dữ liệu chính của UPU: dữ liệu lớn (big data) về bưu chính (với trên 22,9 tỷ bản ghi), số liệu thống kê (với trên 100 chỉ tiêu) và khảo sát của UPU. Mặc dù mới công bố kết quả đánh giá được 3 kỳ (năm 2016, 2018 và 2019) nhưng 2IPD đã được đông đảo các nước thừa nhận. 2IPD đã được các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia bưu chính, các nhà nghiên cứu sử dụng trong việc đánh giá và so sánh sự phát triển của bưu chính.
[83] World Bank (2018), “Aggregated LPI 2012-2018”, đánh giá NLCT ngành logistics thông qua chỉ số hiệu quả dịch vụ logistics. Đây là một công cụ nhằm giúp các quốc gia nhận diện những thách thức và cơ hội trong hoạt động logistics thương mại đề từ đó xác định các giải pháp cải thiện hiệu quả dịch vụ này. Chỉ số này được đo lường trên 6 khía cạnh, bao gồm: (1) hiệu quả thủ tục hải quan và thông quan, (2) chất lượng hạ tầng thương mại và hạ tầng giao thông, (3) mức độ dễ dàng trong việc thỏa thuận các lô hàng với giá cạnh tranh, (4) năng lực và chất lượng dịch vụ giao nhận, vận chuyển, môi giới hải quan,…, (5) khả năng theo dõi và truy xuất lô hàng, (6) tần suất các lô hàng được giao đúng hạn. [84] Irina Olimpia SUSANU, Lecturer Ph.
Nicoleta CRISTACHE, Lecturer Ph. Sofia DAVID, Lecturer Ph.D (2008), “Postal service competitiveness, an essential element in competitive struggle”, nghiên cứu chỉ ra thực trạng thị trường bưu chính hiện tại của công ty Posta Romana và cho rằng giá cả là nhân tố đóng vai trò then chốt. Bài viết dựa trên cơ sở lý thuyết đánh giá NLCT của đơn vị dựa trên mô hình phân tích SWOT (là mô hình phân tích được cho rằng do Albert Humphrey phát triển vào những năm 1960- 1970).