CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VE LUẬN ÁN 1. Cơ sở của luận án Trong năm 2004, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đã công bố hai quyền các quyết định giám đốc thấm của Hội đồng thâm phán. Sự kiện này được coi là một sự kiện lịch sử trong sự phát triển của ngành Toà án ở Việt Nam, bởi vì đây là lần đầu tiên tập hợp các quyết định giám đốc thâm của Hội đồng thâm phán TANDTC được công bố công khai đôi với công chúng. Chúng ta cảm ơn sự giúp đỡ của Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (the United States Agency for International Development - USAID) đã tài trợ hoạt động công bố bản án này trong khuôn khổ của dự án Star tại Việt Nam.
Trong lời giới thiệu của quyền I các quyết định giám đốc thâm này, ông Denis Zvinakis, giám đốc của USAID đã giới thiệu về sự cần thiết và những lợi ích đối với việc công bố quyết định, bản án của hệ thống Tòa án cho sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tư cách là một thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cần phải tuân thủ các nguyên tắc về minh bạch hoá, trong đó yêu cầu các Toà án cần phải công bố công khai các bản án đã xét xử. Trong những trang giới thiệu của quyền I (Quyết định giám đốc thấm của Hội đồng thâm phán TANDTC) những quan điểm bay tỏ về lợi ich của việc công bố các bản án lần nay là một bước dé TANDTC tiến tới việc công bố thường xuyên hàng năm các bản án, quyết định của mình. Một trong những câu hỏi thú vị nảy sinh từ sự kiện này là: liệu rằng giới luật sư, thâm phán ở Việt Nam có thể viện dẫn những bản án, quyết định đã được công bố của TANDTC nêu trên như là một cơ sở pháp lý cho tranh luận của họ tại phiên toà được không.
Thừa nhận rằng ở Việt Nam không tồn tại một truyền thống sử dụng các án lệ trong phần lập luận của Toà án để làm cơ sở cho các quyết định đối với các vụ việc tương tự. Điều này đã dẫn đến câu hỏi về vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát động phong trào đổi mới vào năm 1986, Đảng ta đã ban hành nhiều chính sách để cải cách hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống toà án nói riêng. Không giống như những cải cách pháp luật ở các nước phương Tây, ở Việt Nam hau hết các chính sách cải cách pháp luật đều được bắt nguồn từ những chính sách của Đảng.
Nhưng phải đợi đến năm 2005, khi Đảng ban hành Nghị quyết 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, thì những chỉ đạo trực tiếp của Đảng đối với vai trò phát triển án lệ của toà án mới được đưa ra một cách rõ ràng. Theo NQ 49/ NQ-TW nêu “Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tong kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thông nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thâm, tái thâm”. Thật thú vi khi biết rằng thuật ngữ “án lệ” lần đầu tiên xuất hiện trong chính sách của Đảng đối với cải cách pháp luật ở Việt Nam. Sự phát triển án lệ là một trong những yếu tố khắc phục những hạn chế trong hệ thống pháp luật.
Án lệ sẽ chỉ tiết hoá pháp luật và việc thừa nhận áp dụng nó sẽ làm cho pháp luật áp dụng thống nhất. Hơn nữa, trong phát triển đào tạo luật thì các bản án sẽ có vai trò là phương tiện quan trọng trong đào tạo luật theo xu hướng thực tiễn ở Việt Nam.Tuy nhiên, việc TANDTC công bố bản án, quyết định của nó trong các tập bản án trong thời gian gần đây đã không tạo ra một nhân tố làm thay đổi ngay tức thì các quan niệm về án lệ và vai trò của nó trong hệ thong pháp luật ở Việt Nam. Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1992, và các văn ban pháp luật cấp dưới như Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 2002, thì án lệ không được chính thức coi là một hình thức pháp luật. Các thâm phán ở Việt Nam thường không viện dẫn án lệ trong các quyết định của họ đối với mỗi vụ án.
Mặc dù ở Việt Nam không có văn bản luật cấm các luật sư và thâm phán viện dẫn các bản án làm cở sở pháp lý trong tranh luận của họ tại toà án, nhưng thực tiễn theo truyền thống ở Việt Nam họ không thường xuyên viện dẫn đến các án lệ. Bởi trong một thời gian rất dài TANDTC đã không công bố công khai các bản án, quyết định của mình cho mọi người có quyền tiếp cận và nghiên cứu. Trong bối cảnh của hệ thong pháp luật Việt Nam, hiện nay van còn tồn tại sự thiếu hiểu biết đầy đủ về khái niệm và chức năng của án lệ. Trong khi Hội đồng thẩm phán của TANDTC được trao quyền ban hành các Nghị quyết về hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong các lĩnh vực khác nhau trong phạm vi cả nước.
Chánh án TANDTC được quyên ban hành các Thông tư hướng dẫn áp dụng pháp luật. Chức năng này làm cho nhiều người cho rằng các Nghị quyết của Hội đồng thâm phán của TANDTC như là một hình thức án lệ.' Thực sự quan niệm này là không chính xác. Bởi vì, theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật năm 2002 thì “Nghị quyết của Hội đồng thâm phán của TANDTC” là một hình thức văn ban qui phạm pháp luật. Cho dù có dựa ! Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo Trình Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Nhà Xuất Bản Tư Pháp, 2006, tr.
trên tong kết kinh nghiệm xét xử, nhưng trong Nghị quyết của Hội đồng thẩm phan TANDTC vẫn mang đặc trưng của văn bản qui phạm pháp luật ở tính khái quát, nó không thé chi tiết hoá như các án lệ (là các bản án trong từng trường hợp cụ thé của toà án). Van dé nảy sinh là nếu án lệ không được công nhận như là một nguồn luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thì các luật sư, thâm phán sẽ sử dụng các bản án đã được công bố của TANDTC như thế nào. Vấn đề về phát triển án lệ ở Việt Nam đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Một sự thừa nhận chung là, những chính sách về cải cách pháp luật trong thời gian qua đã làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam phát triển đáng ké so với thời gian trước thời kỳ đổi mới.
Trong quá trình cải cách pháp luật, Quốc hội đã ban hành nhiều bộ luật, luật như: Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật dân sự năm 2005 (thay thế Bộ luật dân sự 1995), Luật Thương mại 2005 (thay thế Luật thương mại 1997), Luật Doanh nghiệp năm 2005. Những văn bản qui phạm pháp luật này có chứa đựng quá nhiều điều luật có tính nguyên tắc, qui phạm pháp luật có hàm ý rất rộng. Những qui phạm này khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn cần phải được giải thích bởi thâm phán trong những tình huống cụ thé. Bởi vì rất nhiều qui phạm pháp luật cần có sự chi tiết hoá khi chúng được áp dụng.
Trong thực tiễn, các thẩm phán ở Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong áp dụng những điều luật mang tính chất chung chung, và mập mờ trong các văn bản pháp luật. Thực trạng này sẽ được giải quyết khi các thấm phán và luật sư của Việt Nam biết cách áp dụng những qui phạm pháp luật đó bằng cách kết hợp nó với các án lệ có liên quan trọng các vụ việc có tính chất tương tự giống nhau. Trong quá trình chuyên đổi hệ thống pháp luật Việt Nam dé hướng tới một hệ thong pháp luật phục vụ tốt hơn cho nền kính tế thi trường và sự phát triển của xã hội, pháp luật và các học thuyết pháp lý của nước ngoài đã được lựa chọn giới thiệu ở Việt Nam như là một xu hướng năm trong quá trình tiếp nhận pháp luật trong xu hướng toà cầu hoá. Việt Nam đã học hỏi mô hình pháp luật của các nước Châu Âu trong xu hướng pháp điển hoá hệ thống pháp luật.
Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh trong quá trình này là Việt Nam vẫn chưa tiếp nhận bất cứ học thuyết về án lệ của bất cứ nước ngoài nào vào Việt Nam. Hoạt động xét xử của các Toà án Việt Nam đang gặp phải những trở ngại trong việc áp dụng các điều luật mà không có sự viện dẫn đến các án lệ có liên quan để làm sáng tỏ nội dụng của các điều luật cần áp dụng. Vì vậy sự kêu gọi sử dụng án lệ trong nhiều lĩnh vực pháp luật ở Việt Nam đang là một van dé rất đáng quan tâm. Van dé làm thé nào dé có được hiểu biết về án lệ dưới góc độ về lý luận và thực tiễn đang thực sự là một chủ đề cần được giới thiệu ở Việt Nam.
Một số luật gia cho răng, nếu án lệ được chấp nhận trong hệ thông pháp luật nó sẽ tạo ra sự tuỳ tiện trong vai trò quyết định của thâm phán, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Một số người khác lại cho rằng án lệ là một nguồn luật chỉ tồn tại trong hệ thống pháp luật Common —Law (Pháp luật Anh- Mỹ ) mà không có trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN). Về cơ bản án lệ được chính thức thừa nhận là một nguồn luật trong hệ thống pháp luật Common law. Nhưng sẽ là sai lầm khi cho rằng án lệ không có vai trò gì trong những hệ thống pháp luật dân sự thành văn (Civil Law System).
Trái ngược với nhận định này, án lệ về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn có vai trò rất quan trọng trong các hệ thông pháp luật dân sự thành văn ở các nước Châu âu lục địa, như hệ thống pháp luật của Pháp, Đức. Như chúng ta đã biết, hệ thống pháp luật Việt Nam không phải là một hệ thống pháp luật theo truyền thống án lệ và cũng không phải là một hệ thống pháp luật dân sự thành văn hoàn toàn theo mô hình của các nước Châu âu lục địa. Vì vậy, sẽ là hợp lý hơn nếu những học thuyết về án lệ (Doctrines of precedent) được giới thiệu ở Việt Nam dưới khía cạnh của nghiên cứu mang tính so sánh.