Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYET CUA DE TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai Sử dụng đất và người sử dụng đất là những khái niệm pháp lý gắn với sở hữu toàn dân về đất đai. Chính chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã tạo chế định quyền sử dụng đất (QSDD) rất đặc thù, chi tồn tai ở một số ít các nước như Việt Nam, Trung quốc.
Không tồn tại chủ sở hữu đất đai nào khác ngoài nhà nước. Những người có đất hợp pháp được coi là người sử dụng đất. Người sử dụng đất gắn với loại đất mình sử dụng bằng các quyền và nghĩa vụ đặc thù bên cạnh các quyền và nghĩa vụ chung của những người sử dụng đất. KCN cũng là người sử dụng đất song việc sử dụng đất trong KCN có rất nhiều khía cạnh cần được làm rõ, nhất quản lý và sử dụng đất.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu chế độ sở hữu toàn dân về đất đai song liên quan đến đề tài luận án thì những công trình sau đây là khá tiêu biểu. Trần Quốc Toản và những người khác trong công trình “Đổi mới quan hệ sở hữu dat dai. Ly luận và thực tién”' đề cập bản chat, đặc điểm, của việc đổi mới trong quan hệ sở hữu đất đai gắn với sự phát triển nông nghiệp hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa. Các đồng tác giả của công trình cũng lý giải sự thay đổi, vận động của các quyền trong quan hệ sở hữu đất đai, dẫn đến pháp luật đất đai cũng phải bổ sung, mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất.
Sự thay đổi các quyền năng này luôn đặt trong mối quan hệ sở hữu dat dai dựa trên nền tang là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu”. Trong luận án tiến sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về quyên và nghĩa vụ của tô chức kinh tế trong sử dụng đát”” Nguyễn Ngoc Minh đã phân tích những van dé lý luận và thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất. Tác giả luận án đã chỉ ra mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất trong mối quan hệ với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu của luận án này cho thấy rõ mối quan hệ giữa chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với chế độ pháp lý về quản lý, sử dụng đất- trong đó có KCN, vi chủ thé sử dụng đất trong các khu KCN chủ yếu là các tô chức kinh tế.
Trần Quốc Toản (Chủ biên): “Đổi mới quan hệ sở hữu đất đai - Lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội - 2013 ? Nguyễn Ngọc Minh, “Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong sử dụng đất”, Luận án tiến sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội năm 2016 9 Nguyễn Quang Tuyến (2016) trong bài viết “Vai suy nghĩ về sở hữu toàn dân đối với đất đai” Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 01/2016 đã giải mã nội hàm khái niệm sở hữu toàn dân về đất đai. Tác giả bài viết đã khang định sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm mang tính chính trị chứ không phải khái niệm mang tính pháp lý. “Toàn dân” không phải là một chủ thé cụ thé nên không thé trở thành một bên trong quan hệ pháp luật đất đai. Tác giả cũng phân tích, đánh giá những thiếu sót, hạn chế trong các quy định của Luật Dat đai 2013 (LĐĐ 2013) về quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của nhà nước và vấn đề tham gia giám sát của người dân đối với nhà nước trong thực hiện quyền đại chủ sở hữu toàn dân về đất đai và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật đất đai hiện hành.
Phạm Hữu Nghị đã công bố công trình “Vai tro của nhà nước trong việc thực hiện quyên sở hữu toàn dân về dat dai’; trong đó, tác giả đã phân tích, làm sáng tỏ vai trò của nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong việc thực hiện ba quyền năng của chủ sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất đai. So với các chủ thể khác trong xã hội, việc thực hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của nhà nước đối với đất đai có sự khác biệt. Điều đó thể hiện ở chỗ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng của nhà nước đối với đất đai mang tính gián tiếp; còn quyền định đoạt đối với đất đai là quyền quy định điều kiện, hình thức, trình tự, thủ tục giao đắt, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyên QSDĐ đai cho người sử dụng đất. Một trong những công trình chứa đựng nhiều góc nhìn chính trị - pháp lý khác nhau về sở hữu đất đai và QSDĐ ở Việt Nam là cuốn sách tham khảo “Những vấn dé về sở hữu, quản lý và sử dung đất dai trong giai đoạn hiện nay” do PGS.TS Vũ Văn Phúc chủ biên với nhiều nghiên cứu chuyên đề về quyền sở hữu đất đai ở nước ta của các tác giả khác nhau.
Những bài viết trong công trình này mang lại những góc nhìn tương đối toàn điện về lịch sử hình thành và phát triển của chế độ sở hữu toàn dân về dat dai, bản chất của sở hữu đất đai gắn với các yếu tô chính trị, kinh tế và đặc biệt là vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai. Theo các tác giả này, trước nam 1986, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai chưa được ghi nhận chính thức trong các 3 Nguyễn Quang Tuyến, Vài suy nghĩ về sở hữu toàn dân đối với dat dai” Tạp chi Nhà nước và Pháp luật, số 01/2016 4 Phạm Hữu Nghị, Vai tro của Nhà nước trong việc thực hiện quyên sở hữu toàn dân về dat dai, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 01/2005 ` PGS.TS Vũ Văn Phúc (Chủ biên), Những vấn đề về sở hữu, quản lý và sử dụng dat dai trong giai đoạn hiện nay, NXB 10 văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và trong các văn kiện của Trung ương Đảng manh nha hình thành quan điểm sở hữu toàn dân về đất đai. Sau đó, trong thời kỳ đổi mới, Dang va Nha nước ta tiếp tục khăng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là phù hợp với điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai chi phối các quy định của pháp luật về quản lý, sử dung đất. Nghiên cứu sinh (NCS) sử dụng kết quả nghiên cứu này dé phân tích những ảnh hưởng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đối với nội dung pháp luật về quản lý, sử dụng đất KCN. Những công trình nêu trên chỉ là một số ít các công trình nghiên cứu về sở hữu đất đai và sở hữu toàn dân về đất đai. Việc lựa chọn các công trình nghiên cứu trên; vì trong đó có nhiều phân tích, phát hiện liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Các kết quả nghiên cứu ở trong các công trình nêu trên giúp tác giả luận án xác định một số nội dung của luận án về sử dụng đất trong các KCN dé tránh lặp lại những những vấn đề đã được nhận diện, phân tích toàn diện từ các góc độ chính trị học, kinh tế học. Phải khăng định răng sở hữu toàn dân về đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất KCN nói riêng. Những công trình nghiên cứu về khu công nghiệp và các khía cạnh pháp lý về đất trong khu công nghiệp *Các công trình nghiên cứu về bản chất, đặc trưng của KCN Bản chất của KCN và sở hữu của KCN, đặc biệt là sở hữu đất đai được nghiên cứu trong khoa học kinh tế, pháp lý của một số quốc gia. Ở Việt Nam; địa vị pháp lý, dia vi tài sản của KCN được quan tâm đặc biệ,t vì tính đặc thù và những tác động chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đối với người sử dụng đắt, đặc biệt là đối với KCN.
Những công trình dưới đây được lựa chọn tham khảo trong Luận án do có liên quan đến địa vị pháp lý của KCN. Trong bài viết: “Các khu công nghiệp: Những nguyên tắc và thực tiên”, tác giả Caj O. Falcke® đã chỉ ra rang KCN xuất hiện ở các nước công nghiệp phát triển cách đây khoảng một trăm năm. Sự xuất hiện của KCN chủ yếu là một phương tiện để thúc day và quản lý sự phát triển công nghiệp và cung cấp cơ sở hạ tang và dich vụ ® Caj O.Falcke, Industrial Parks Principles and Practice, Journal of Economic Cooperation Among Islamic Countries 20, 1 (1999) 1-10 11 cong đồng với chi phí hiệu quả.
Đây có thé được coi là đặc điểm quan trọng nhất của KCN. Tác giả khang định vai trò của các KCN trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhờ giảm chi phí xây dựng hạ tang, sử dụng các nguồn lực chung, mở rộng khả năng thu hút lao động tại chỗ ở mức độ cao hơn nhiều so với việc đứng tách riêng, biệt lập. Tác giả nhân mạnh các nguyên nhân kinh tế, đặc biệt là nhu cầu nâng cao tính cạnh tranh của việc hình thành các KCN. Tác giả cũng chỉ ra rằng các nền kinh tế tập trung chú trọng nhiều hơn các yếu tố hành chính, quản lý của KCN so với các yếu tô kinh tế.
Nhóm nghiên cứu liên ngành về KCN trong tài liệu “Hướng dan quốc tế đối với Khu công nghiệp ”” đã đưa ra quan điểm về KCN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, KCN là khu vực đất xác định phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Theo nghĩa rộng, KCN còn bao hàm cả các mô hình khác như trung tâm thương mại, khu dịch vụ thương mại. Quan điểm về KCN theo nghĩa rộng trong tài liệu này có điểm tương đồng với quan điểm về khu công nghệ cao, khu kinh tế của Việt Nam.
Đặc biệt, tài liệu do UNIDO phát hành có những hướng dẫn về tiếp cận đất trong các KCN. Tác giả cho răng, việc xây dựng các KCN cần một diện tích đất lớn dé xây dựng hạ tang cho thuê, chuyên nhượng.