Nghiên cứu cơ sở khoa học chuyển hóa rừng keo tai tượng gỗ nhỏ thành gỗ lớn ở Bắc Giang

Phương pháp chuyển hóa rừng keo gỗ nhỏ thành gỗ lớn ở Bắc Giang. Nghiên cứu chi tiết kỹ thuật và quy trình phát triển lâm nghiệp bền vững.

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ lâm nghiệp

2020

162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chuyển hóa rừng keo tai tượng gỗ nhỏ thành gỗ lớn

Rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế lâm nghiệp Việt Nam. Tại Bắc Giang, diện tích rừng trồng keo tai tượng chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu phục vụ kinh doanh gỗ nhỏ với chu kỳ khai thác ngắn 5-7 năm. Mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế ban đầu nhưng giá trị gỗ thấp, chỉ phục vụ sản xuất dăm gỗ, viên nén. Nghiên cứu của Phạm Quốc Chiến (2020) đề xuất chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn. Phương pháp này kéo dài chu kỳ kinh doanh lên 12-15 năm. Giá trị gỗ xẻ tăng gấp nhiều lần so với gỗ dăm. Quá trình chuyển hóa dựa trên các biện pháp tỉa thưa khoa học. Cường độ và thời điểm tỉa thưa phù hợp giúp cây còn lại phát triển đường kính lớn. Nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học cho kỹ thuật lâm sinh chuyển hóa rừng. Kết quả áp dụng tại Công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế cho thấy tính khả thi cao. Đây là hướng đi bền vững cho ngành lâm nghiệp Bắc Giang nói riêng và cả nước nói chung.

1.1. Đặt vấn đề và tính cấp thiết nghiên cứu

Nhu cầu gỗ lớn phục vụ chế biến đồ gỗ xuất khẩu ngày càng tăng cao. Trong khi đó, phần lớn diện tích rừng trồng keo tai tượng ở Bắc Giang đang khai thác ở tuổi 5-7 năm với đường kính nhỏ dưới 15cm. Gỗ nhỏ chỉ chế biến được dăm gỗ, giá trị thấp. Việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu nhằm tìm ra quy trình kỹ thuật tối ưu, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao hơn cho người trồng rừng. Đồng thời đáp ứng nguồn nguyên liệu gỗ xẻ chất lượng cho ngành chế biến.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng keo tai tượng (Acacia mangium Willd) kinh doanh gỗ nhỏ tại tỉnh Bắc Giang. Địa điểm thực nghiệm tại Công ty TNHH Hai thành viên Lâm nghiệp Yên Thế. Nghiên cứu tập trung vào các biện pháp tỉa thưa chuyển hóa rừng. Xác định thời điểm, cường độ tỉa thưa phù hợp với từng cấp lập địa. Đánh giá sinh trưởng, phát triển và chất lượng gỗ sau chuyển hóa. Phạm vi nghiên cứu áp dụng cho cấp đất I và cấp đất II theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

II. Phân tích thực trạng rừng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ Bắc Giang

Thực trạng rừng trồng keo tai tượng ở Bắc Giang cho thấy nhiều bất cập trong mô hình kinh doanh gỗ nhỏ truyền thống. Mật độ trồng cao từ 1.100-1.666 cây/ha dẫn đến cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng gay gắt. Cây sinh trưởng chậm, đường kính ngang ngực đạt thấp sau 5-7 năm. Phần lớn gỗ thu hoạch có đường kính dưới 15cm, chỉ đủ tiêu chuẩn sản xuất dăm gỗ. Giá bán gỗ dăm thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Nhiều diện tích rừng bị khai thác cạn kiệt, đất đai thoái hóa. Năng suất rừng trồng bình quân đạt 60-80 m3/ha sau một chu kỳ ngắn. Tỷ lệ gỗ xẻ đạt rất thấp, chỉ khoảng 20-30% sản lượng. Phần lớn gỗ bị chuyển sang chế biến dăm, lãng phí tài nguyên. Hệ sinh thái rừng trồng nghèo nàn, đa dạng sinh học thấp. Mô hình kinh doanh gỗ nhỏ không đảm bảo phát triển bền vững. Cần có giải pháp chuyển đổi mô hình kinh doanh phù hợp hơn.

2.1. Đặc điểm sinh trưởng rừng trồng mật độ cao

Rừng trồng keo tai tượng mật độ cao trên 1.100 cây/ha có đặc điểm sinh trưởng riêng biệt. Cạnh tranh tài nguyên ánh sáng, nước và dinh dưỡng diễn ra mạnh mẽ từ năm thứ 3. Đường kính bình quân tăng chậm, chỉ đạt 10-12cm sau 7 năm trồng. Chiều cao cây tăng nhanh hơn đường kính, tạo tỷ lệ chiều cao/đường kính lớn. Cành lá phát triển yếu, quang hợp giảm, ảnh hưởng tích lũy sinh khối. Tỉ lệ cây chết tự nhiên tăng dần theo tuổi. Chất lượng thân cây thấp, nhiều cành nhánh, độ cong vênh cao.

2.2. Hiệu quả kinh tế mô hình gỗ nhỏ truyền thống

Mô hình kinh doanh gỗ nhỏ truyền thống mang lại hiệu quả kinh tế hạn chế. Giá bán gỗ dăm bình quân chỉ đạt 800-1.200 đồng/kg. Doanh thu trên một hecta rừng 7 năm tuổi đạt khoảng 80-120 triệu đồng. Chi phí đầu tư trồng, chăm sóc, bảo vệ chiếm 40-50% doanh thu. Lợi nhuận thực tế thấp, không tương xứng với công sức và vốn đầu tư. Nhiều hộ trồng rừng không muốn tiếp tục đầu tư do hiệu quả kém. Giá trị gia tăng từ gỗ nhỏ几乎不存在, chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô.

III. Phương pháp kỹ thuật chuyển hóa rừng keo tai tượng gỗ lớn

Phương pháp chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn dựa trên kỹ thuật tỉa thưa khoa học. Theo TCVN 11567-2:2016, quy trình chuyển hóa áp dụng cho rừng có mật độ hiện tại từ 1.100 cây/ha trở lên. Thời điểm bắt đầu chuyển hóa ở tuổi 4-6 năm với cấp đất I và 5-7 năm với cấp đất II. Phương pháp tỉa thưa một lần với cường độ 50% số cây, mật độ để lại 550 cây/ha cấp đất I và 600 cây/ha cấp đất II. Phương pháp tỉa thưa hai lần áp dụng cường độ tối đa 40% mỗi lần. Lần một để lại 750 cây/ha, lần hai giảm xuống 450-500 cây/ha. Nguyên tắc tỉa thưa là chặt bỏ cây tầng dưới, giữ lại cây có ưu thế sinh trưởng. Cây để lại phải đạt tiêu chuẩn thân thẳng, đường kính lớn, chiều cao dưới cành tốt. Sau tỉa thưa, rừng tiếp tục chăm sóc 6-10 năm trước khi khai thác chính. Chu kỳ kinh doanh kéo dài tổng cộng 12-15 năm. Sản lượng gỗ đạt tiêu chuẩn gỗ lớn dự kiến khoảng 80% tổng sản lượng.

3.1. Kỹ thuật tỉa thưa lần một và lựa chọn cây ưu thế

Tỉa thưa lần một thực hiện khi rừng đạt 4-5 tuổi ở cấp đất I và 5-6 tuổi ở cấp đất II. Cường độ tỉa thưa loại bỏ 40-50% số cây hiện có. Nguyên tắc lựa chọn cây để lại ưu tiên đường kính ngang ngực lớn, thân thẳng tròn. Chiều cao dưới cành phải đạt tối thiểu 6-8 mét để đảm bảo chiều dài gỗ xẻ. Cây có dấu hiệu sâu bệnh, cong vẹo, gãy ngọn bị loại bỏ hoàn toàn. Mật độ phân bố cây để lại phải均匀 trên toàn bộ diện tích. Sau tỉa thưa lần một, vệ sinh rừng bằng cách thu dọn cành lá thừa.

3.2. Kỹ thuật tỉa thưa lần hai và chăm sóc rừng chuyển hóa

Tỉa thưa lần hai áp dụng sau 8-9 năm tuổi với phương pháp hai lần tỉa. Cường độ tỉa thưa loại bỏ thêm 30-40% số cây. Mật độ cuối cùng đạt 450-500 cây/ha, đảm bảo không gian phát triển đường kính. Cây ưu tiên giữ lại có đường kính lớn nhất, hình dạng thân tốt nhất. Biện pháp chăm sóc bổ sung bón phân NPK 200-300 kg/ha. Phòng trừ sâu bệnh định kỳ, đặc biệt bệnh cháy lá và sâu đục thân. Bảo vệ rừng khỏi cháy rừng và xâm hại của con người. Theo dõi sinh trưởng bằng đo đạc ô tiêu chuẩn hàng năm.

IV. Kết quả và ứng dụng chuyển hóa rừng keo tai tượng gỗ lớn

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả vượt trội của mô hình chuyển hóa rừng keo tai tượng gỗ lớn. Sau 12-15 năm, đường kính bình quân đạt 20-25cm, gấp đôi so với rừng gỗ nhỏ. Chiều cao cây đạt 18-22 mét, trữ lượng gỗ đạt 150-200 m3/ha. Tỷ lệ gỗ xẻ đạt 70-80% sản lượng, tăng đáng kể so với 20-30% của rừng gỗ nhỏ. Giá bán gỗ xẻ đạt 2,5-3,5 triệu đồng/m3, cao gấp 3-4 lần gỗ dăm. Doanh thu trên một hecta đạt 400-600 triệu đồng sau chu kỳ dài. Lợi nhuận ròng tăng 2-3 lần so với mô hình gỗ nhỏ. Chất lượng gỗ cải thiện rõ rệt, thớ gỗ chặt, tỷ trọng cao hơn. Ứng dụng kết quả tại Công ty Lâm nghiệp Yên Thế cho kết quả khả quan. Diện tích rừng chuyển hóa mở rộng liên tục qua các năm. Mô hình được đánh giá có tính nhân rộng cao cho các tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là hướng phát triển bền vững ngành lâm nghiệp Việt Nam.

4.1. Đánh giá sinh trưởng và chất lượng gỗ sau chuyển hóa

Đánh giá sinh trưởng cây trồng sau chuyển hóa cho thấy sự phát triển vượt bậc. Đường kính ngang ngực tăng trung bình 2-3cm/năm sau tỉa thưa. Tốc độ tăng đường kính nhanh gấp 1,5-2 lần so với rừng mật độ cao. Chất lượng gỗ cải thiện đáng kể với tỷ trọng gỗ tăng 10-15%. Số mắt cành giảm, thớ gỗ thẳng đều hơn. Tỷ lệ gỗ xẻ đạt tiêu chuẩn tăng từ 30% lên 80%. Chiều dài gỗ xẻ nguyên kiện đạt 6-10 mét, đáp ứng yêu cầu chế biến đồ gỗ xuất khẩu cao cấp.

4.2. Hiệu quả kinh tế và khả năng nhân rộng mô hình

Hiệu quả kinh tế mô hình chuyển hóa gỗ lớn vượt trội rõ rệt. Tổng doanh thu tăng 3-4 lần so với mô hình gỗ nhỏ truyền thống. Chi phí đầu tư tăng thêm chủ yếu cho tỉa thưa và chăm sóc. Thời gian thu hồi vốn kéo dài nhưng lợi nhuận cuối kỳ cao hơn nhiều. Mô hình áp dụng thành công tại Bắc Giang, có thể nhân rộng sang các tỉnh lân cận. Các yếu tố cần đảm bảo gồm giống tốt, kỹ thuật tỉa thưa đúng quy trình và bảo vệ rừng hiệu quả. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước giúp mô hình phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp nghiên cứu một số cơ sở khoa học chuyển hóa rừng trồng keo tai tượng acacia mangium willd kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn ở bắc giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan Khái niệm gỗ lớn và rừng trồng gỗ lớn: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Gỗ lớn: là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15 cm và chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2 m. Khái niệm rừng trồng gỗ lớn: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Rừng trồng gỗ lớn là rừng trồng với mục đích cung cấp gỗ lớn với tỷ lệ gỗ lớn đạt ≥ 70%. Theo Thông tư 29/2018/TT-BNNPTNT, ngày 16 tháng 11 năm 2018 về quy định các biện pháp lâm sinh thì Rừng trồng gỗ lớn là rừng có tổi thiểu 70% số cây đứng trên một đơn vị diện tích có đường kính tại 1,3m từ 20 cm trở lên đối với cây sinh trưởng nhanh.

Khái niệm chuyển hóa rừng: Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567-1:2016: Chuyển hóa rừng là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh để thay đổi mục đích kinh doanh, quản lý của rừng. Đối với chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn thì nguyên lý chuyển hóa được xác định như sau: - Chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn dựa trên nguyên lý tạo điều kiện và môi trường để cây cá thể và toàn lâm phần sinh trưởng nhanh hơn, đặc biệt là sinh trưởng đường kính để nhanh chóng đạt tiêu chuẩn gỗ lớn. - Về nguyên lý, có ba cách để gia tăng sinh trưởng đường kính cây: (i) Kéo dài thời gian sinh trưởng; (ii) Điều chỉnh không gian sinh trưởng hợp lý để cây phát triển về đường kính; và (iii) Cải thiện điều kiện dinh dưỡng cho cây thông qua bón phân. 7 - Về kéo dài thời gian sinh trưởng: chu kỳ kinh doanh ba loài cây keo sẽ được kéo dài đến >10 tuổi để sản xuất gỗ lớn thay vì 6-8 năm trong kế hoạch sản xuất gỗ nhỏ.

Trên thế giới 1. Tình hình phát triển rừng trồng Keo tai tượng Vùng sinh thái của Keo tai tượng thường là nhiệt đới ẩm, với mùa khô ngắn (4 - 6 tháng), lượng mưa trung bình từ 1. Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13 - 210C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 25 -320C (Awang Kamis and David Taylor, 1993) [40]. Keo tai tượng là cây mọc nhanh, xanh quanh năm, trong điều kiện thuận lợi Keo tai tượng sinh trưởng quanh năm, tuy nhiên ở Thái Lan trong điều kiện nhiệt độ thấp, mưa ít, cây sinh trưởng chậm hoặc ngừng sinh trưởng (Atippanumpai L, 1989) [39].

Keo tai tượng có chu kỳ sống tương đối ngắn, khoảng từ 30 - 50 năm, cây có thể sinh trưởng ở những nơi có biên độ pH từ 4,5 đến 6,5. Keo tai tượng đôi khi có nhiều thân, nguyên nhân chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên có thể do độ phì đất, cạnh tranh về điều kiện sống (Turvey ND, 1995) [91]. Diện tích rừng trồng Keo tai tượng ngày càng tăng lên trong những năm gần đây ở Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam. Indonesia là những nước trồng Keo tai tượng nhiều nhất thế giới, với diện tích khoảng 1,2 triệu ha (Nirsatmanto và cộng sự, 2004) [81].

Loài keo này đã thể hiện khả năng thích ứng cao với các lập địa thoái hóa, sinh trưởng nhanh và các tính chất gỗ đáp ứng được yêu cầu cho công nghiệp chế biến gỗ [81]. Keo tai tượng đã được đưa vào trồng ở Trung Quốc từ những năm 1960, tới năm 1997 đã có khoảng 200.000 ha được trồng ở phía Nam Trung Quốc gồm 4 tỉnh là Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Tốc độ trồng rừng hàng năm khoảng 20. Các nghiên cứu đã được tiến hành cho đối tượng này khá đầy đủ như khả năng cố định đạm (cây hấp thụ 8 153,8 kg nitơ/ha) và kỹ thuật trồng rừng thâm canh đã được chấp nhận thay cho phương pháp quảng canh vốn có (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21].

Ở Papua New Guinea từ năm 1950, có khoảng 60.000 ha rừng trồng các loài keo, trong đó Keo tai tượng chiếm khoảng 15-16 %. Sinh trưởng chiều cao của Keo tai tượng trên các lập địa tốt đạt 5 m/năm trong 2,5 năm đầu (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003) [21]. Ở Indonesia, việc trồng Keo tai tượng với mục đích thương mại đã được triển khai từ đầu những năm 1980, đến năm 1990 đã có xấp xỉ 38.000 ha rừng trồng Keo tai tượng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và gỗ xẻ (Werren, M. Đến hết năm 2013, cây Keo tai tượng được gây trồng và phát triển nhiều ở Indonesia (300.000ha), Việt Nam (600.000ha) (Lydie-Stella Koutika và David M.

Ngoài ra Keo tai tượng còn được trồng tại các nước Bangladesh, Ấn Độ, Lào, Sri Lanka, Congo, Bờ biển ngà, Kenya, Zimbabwe, Brazin, Costa Rica, Cuba, Mỹ và một số nơi khác trên thế giới (http://www. Những nghiên cứu về tỉa thưa rừng trồng Tỉa thưa là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng có ảnh hưởng rõ rệt đến cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, sản lượng, chất lượng và cơ cấu sản phẩm rừng trồng. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật chặt nuôi dưỡng rừng và tỉa rừng trồng, đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy sinh trưởng cho những cây có phẩm chất tốt nhất mà không gây ảnh hưởng lớn đến cấu trúc rừng (Wenger K. Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khác nhau sau khi tỉa thưa (Medhurst J.L và cộng sự, 2002; Vu Dinh Huong và cộng sự, 2016) [77, 92].

Chặt nuôi dưỡng rừng Theo Wenger K. (1984) [93], “chặt nuôi dưỡng là biện pháp chính để nuôi dưỡng rừng bằng cách chặt bớt đi một số cây rừng nhằm tạo điều kiện cho những cây có phẩm chất tốt được giữ lại sinh trưởng, nuôi dưỡng hình thân, tạo tán, tăng lượng sinh trưởng, cải thiện chất lượng gỗ và nâng cao chức năng khác của rừng”. Chặt nuôi dưỡng phải đạt được các mục đích: (i) Mật độ lâm phần giảm xuống cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây rừng; (ii) Xúc tiến sinh trưởng cây rừng, rút ngắn thời gian; (iii) Loại bỏ được chất lượng gỗ xấu, nâng cao chất lượng lâm phần; (iv) Lợi dụng sớm nâng cao được tổng lượng gỗ; (v) Cải thiện vệ sinh lâm phần tăng được sức đề kháng của lâm phần; và (vi) Xây dựng kết cấu lâm phần thích hợp, phát huy hiệu năng đa dạng của rừng (Shen Guofang, 2001) [88]. Chặt nuôi dưỡng rừng thường chia làm 2 loại: (1) Chặt thấu quang: chủ yếu là tỉa thưa loại bỏ cây nơi có mật độ dày, để lại cây tốt, loại cây xấu; chặt thấu quang bao gồm cả nhiệm vụ chặt thấu quang và chặt loại trừ; (2) Chặt sinh trưởng: Sau khi chặt thấu quang, cây rừng bước vào giai đoạn rừng mọc nhanh cần tiến hành chặt sinh trưởng để cây rừng mau chóng đạt thành thục.

Ở Mỹ chặt nuôi dưỡng gồm 5 loại: (1) Chặt loại trừ, chặt những cây chèn ép, không dùng, thứ yếu; (2) Chặt tự do, chặt bỏ những cây gỗ tầng trên; (3) Chặt tỉa thưa, giống như chặt tỉa thưa và chặt sinh trưởng; (4) Chặt chỉnh lý, chặt các cây thứ yếu, hình dáng và sinh trưởng kém; (5) Chặt gỗ thải, chặt các cây bị hại. Tuy nhiên, áp dụng chặt nuôi dưỡng cho chặt chuyển hoá rừng cần phải quan tâm đến điều kiện thực tế của lâm phần nghĩa là chặt chuyển hoá là chặt nuôi dưỡng nhưng cần phải bài chặt cả những cây có đủ không 10 gian dinh dưỡng nhưng không có khả năng sinh trưởng thành cây gỗ lớn đồng thời chặt chọn ở những khoảng phân bố cụm [dẫn theo Phùng Ngọc Lan và Hoàng Kim Ngũ, 2005) [17]. Tỉa thưa rừng trồng Tỉa thưa trong rừng trồng là loại bỏ những cây xấu, yếu, những cây phi mục đích để điều tiết không gian dinh dưỡng, hạn chế cạnh tranh về mặt không gian dinh dưỡng trong rừng dựa trên cơ sở lý luận là quy luật phân hóa và tỉa thưa tự nhiên của cây rừng trong lâm phần. Vì vậy, thời điểm và cường độ tỉa thưa thích hợp tùy thuộc vào mục đích kinh doanh rừng, đặc điểm sinh học từng loài cây, sức sinh trưởng của cây và khoảng cách trồng trong các lâm phần cụ thể.

Tỉa thưa thường được tiến hành ở rừng sau khép tán với mục tiêu nhằm điều chỉnh mật độ sao cho lâm phần luôn tiệm cận với mật độ tối ưu để thúc đẩy sinh trường đường kính, chiều cao để có thể thu được năng suất lâm phần cao nhất (Rollinson T. Theo đó, trên lâm phần rừng trồng với mật độ ban đầu 1.500 cây/ha, quá trình tỉa thưa được tiến hành theo các giai đoạn: tỉa thưa lần 1 ở tuổi 3 (mật độ để lại 1.000 cây/ha), tỉa thưa lần 2 ở tuổi 10 (150 cây/ha) và tỉa thưa lần cuối ở tuổi 13 với mật độ để lại 100 cây/ha. Theo Lemmens và cộng sự (1995) [70]. đối với rừng trồng keo tai tượng nguyên liệu giấy, áp dụng tỉa thưa thường xuyên sau khi cây đạt 18 tháng tuổi.

Đối với rừng trồng keo tai tượng cung cấp gỗ chất lượng cao, lần đầu tỉa thưa khi cây đạt chiều cao 9m, tương ứng với thời điểm cây khoảng 2 tuổi. Nghiên cứu về ảnh hưởng của tỉa thưa đến các sinh trưởng cây Ảnh hưởng của tỉa thưa đến sinh trưởng rừng trồng 11 Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra, tỉa thưa giúp sinh trưởng của những cây để lại tốt hơn (Lars Rytter, 1994; Medhurst và cộng s, 2002; Suzane và cộng sự, 2003; Harri Makinen và Antti Isomaki, 2004) [69, 77, 89, 57]; những lâm phần được tỉa thưa đường kính bình quân của lâm phần thường lớn hơn so với những lâm phần không tỉa thưa [57 93]; tỉa thưa giúp cho tán lá có khả năng hấp thụ được nhiều Nitơ hơn so với không tỉa thưa, góp phần vào việc tích lũy dinh dưỡng gia tăng chiều cao của cây. Mặt khác, tùy vào loài và thời gian tỉa thưa mà lâm phần có những phản ứng khác nhau sau khi tỉa thưa; ở một số trường hợp, tỉa thưa làm giảm tổng tiết diện ngang của lâm phần trong một giai đoạn nhất định, đặc biệt là ngay sau khi tỉa (Lydie-Stella Koutika, David M. Beadle C và cộng sự (2004) [42] đã áp dụng cường độ tỉa thưa khác nhau (0%, 33%, 66% và 100%) đối với cây phù trợ (Pinus radiata) tới sinh trưởng cây mục đích (Acacia melanoxylon) tại Australia, sau 2 năm cho thấy, việc tỉa thưa cây phù trợ đã ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng đường kính, tăng trưởng đạt cao nhất tại công thức tỉa thưa 100% (23 mm/năm), trong khi tăng trưởng trung bình đạt 14 mm/năm ở các công thức không tỉa thưa.

(2006), đã đề xuất kỹ thuật tỉa cành và tỉa thưa Keo tai tượng cho trồng rừng gỗ lớn ở Indonesia, với mật độ trồng ban đầu là 3 x 3m (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ