Luận án Tiến sĩ: Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh của báo cáo viên

Luận án tiến sĩ phân tích kỹ năng tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cho báo cáo viên, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2013

327
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG

1.2.1. Khái niệm kỹ năng

1.2.2. Các giai đoạn hình thành và phát triển kỹ năng

1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI

1.3.1. Tuyên truyền bằng lời

1.3.2. Khái niệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời

1.4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ

1.4.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

1.4.2. Tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

1.4.3. Khái niệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

1.4.4. Một số kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

1.4.5. Các tiêu chí đánh giá mức độ kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

1.5. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ

1.5.1. Một số yếu tố chủ quan

1.5.2. Một số yếu tố khách quan

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN

2.1.1. Mục đích nghiên cứu lý luận

2.1.2. Nội dung nghiên cứu lý luận

2.1.3. Phương pháp nghiên cứu lý luận

2.2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực tiễn

2.2.2. Nội dung nghiên cứu thực tiễn

2.2.3. Các giai đoạn và phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU VÀ THANG ĐÁNH GIÁ

2.3.1. Phương pháp xử lý số liệu khảo sát thực trạng

2.3.2. Thang đo và cách tính toán

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ THỰC NGHIỆM KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ

3.1. THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ KỸ NĂNG VÀ HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ NÓI CHUNG

3.1.1. Đánh giá khái quát thực trạng mức độ kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của đội ngũ báo cáo viên cơ sở nói chung

3.1.2. Đánh giá hiệu quả tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

3.2. THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ MỘT SỐ KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO VIÊN CƠ SỞ

3.2.1. Thực trạng mức độ kỹ năng thiết lập mối quan hệ của báo cáo viên cơ sở trong tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

3.2.2. Thực trạng mức độ kỹ năng quan sát của báo cáo viên cơ sở trong tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

3.2.3. Thực trạng mức độ kỹ năng thuyết phục của báo cáo viên cơ sở trong tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

3.2.4. Thực trạng mức độ kỹ năng đối thoại của báo cáo viên cơ sở trong tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

3.2.5. Đánh giá chung kết quả nghiên cứu một số kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

3.2.6. Tương quan giữa các kỹ năng của báo cáo viên cơ sở trong tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

3.3. THỰC TRẠNG MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ

3.3.1. Thực trạng một số yếu tố chủ quan

3.3.2. Thực trạng một số yếu tố khách quan

3.3.3. Đánh giá chung tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan tới kỹ năng tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở

3.4. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG

3.4.1. Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm tác động

3.4.2. Các kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở sau thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh

Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu tâm lý học xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là di sản văn hóa mà còn là nền tảng đạo đức cho mỗi cá nhân trong xã hội. Việc tuyên truyền tư tưởng này đến từng người dân là nhiệm vụ cần thiết để củng cố niềm tin vào Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy kỹ năng tuyên truyền của báo cáo viên còn nhiều hạn chế.

1.1. Khái niệm và vai trò của kỹ năng tuyên truyền

Kỹ năng tuyên truyền được hiểu là khả năng truyền đạt thông tin một cách hiệu quả, giúp người nghe hiểu và tin tưởng vào nội dung được truyền tải. Vai trò của kỹ năng này không chỉ nằm ở việc cung cấp thông tin mà còn ở khả năng thuyết phục và tạo dựng mối quan hệ với người nghe.

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và tuyên truyền

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một phần quan trọng trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam. Tuyên truyền tư tưởng này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn góp phần hình thành những giá trị đạo đức trong xã hội.

II. Thách thức trong việc tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh

Mặc dù có nhiều hình thức tuyên truyền, nhưng việc tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt kỹ năng của báo cáo viên, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Điều này dẫn đến việc thông điệp không được truyền tải một cách hiệu quả.

2.1. Thiếu hụt kỹ năng của báo cáo viên

Nhiều báo cáo viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng tuyên truyền, dẫn đến việc họ không thể truyền đạt thông điệp một cách rõ ràng và thuyết phục. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng

Việc tiếp cận đối tượng tuyên truyền cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều báo cáo viên không biết cách thiết lập mối quan hệ với người nghe, dẫn đến việc thông điệp không được tiếp nhận một cách tích cực.

III. Phương pháp nâng cao kỹ năng tuyên truyền cho báo cáo viên

Để nâng cao kỹ năng tuyên truyền cho báo cáo viên, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Việc tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng là rất cần thiết. Ngoài ra, việc thực hành và trải nghiệm thực tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kỹ năng này.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng

Các khóa đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của báo cáo viên. Nội dung đào tạo nên bao gồm các kỹ năng thiết lập mối quan hệ, quan sát, thuyết phục và đối thoại.

3.2. Thực hành và trải nghiệm thực tế

Việc tạo cơ hội cho báo cáo viên thực hành kỹ năng tuyên truyền trong các tình huống thực tế sẽ giúp họ tự tin hơn và cải thiện khả năng giao tiếp của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn của kỹ năng tuyên truyền

Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ việc tuyên truyền chính sách của Đảng đến việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, kỹ năng này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng xã hội văn minh.

4.1. Tuyên truyền chính sách của Đảng

Báo cáo viên có thể sử dụng kỹ năng tuyên truyền để giải thích và truyền đạt các chính sách của Đảng đến người dân, giúp họ hiểu rõ hơn về lợi ích và ý nghĩa của các chính sách này.

4.2. Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ

Kỹ năng tuyên truyền cũng có thể được áp dụng trong việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, giúp họ hình thành những giá trị tốt đẹp và tư tưởng đúng đắn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên là một lĩnh vực cần được chú trọng trong thời gian tới. Việc nâng cao kỹ năng này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả tuyên truyền mà còn góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao kỹ năng

Nâng cao kỹ năng tuyên truyền là một nhiệm vụ quan trọng, giúp báo cáo viên thực hiện tốt vai trò của mình trong việc truyền tải tư tưởng Hồ Chí Minh đến mọi người.

5.2. Triển vọng trong tương lai

Với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh có thể được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau, mở ra nhiều cơ hội mới cho báo cáo viên trong việc nâng cao kỹ năng của mình.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng hồ chí minh về đạo đức của báo cáo viên

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình liên quan tới luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận nghiên cứu kỹ năng tuyên truyền bằng lời tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở Chƣơng 2. Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm kỹ năng tuyên truyền bằng lời tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức của báo cáo viên cơ sở.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN BẰNG LỜI TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Nghiên cứu về tuyên truyền, kỹ năng tuyên truyền nói chung Thuật ngữ “Tuyên truyền” (theo tiếng La tinh là Propagare, tiếng Anh là Propaganda) có nguồn gốc từ châu Âu vào năm 1622 khi Giáo hoàng La Mã XV thành lập một bộ phận đặc biệt trong Giáo hội Công giáo để có hệ thống truyền giáo lý Tin lành trên khắp thế giới. Thuật ngữ này đƣợc sử dụng với ý nghĩa gây ảnh hƣởng đến niềm tin về các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là để phổ biến các ý tƣởng nhằm thuyết phục, lôi kéo ngƣời khác phấn đấu theo đức tin của đạo Tin lành.

Đến thế kỷ thứ XVIII, thuật ngữ “Tuyên truyền” đã trở nên phổ biến hơn khi chính phủ các nƣớc và các tổ chức chính trị, xã hội nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nó trong việc thuyết phục quần chúng. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, TT đã trở thành chủ đề tranh luận, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, nhất là ở Pháp, Mỹ, Đức, Liên Xô (cũ). Đến nay có nhiều công trình nghiên cứu lí luận và phƣơng pháp luận về TT nhƣng phần lớn mới dừng ở đặc điểm riêng biệt gắn với điều kiện chính trị, xã hội cụ thể, vì thế hiện còn thiếu vắng các nghiên cứu chuyên biệt dƣới góc độ tâm lý học về TT. Nghiên cứu TT chủ yếu bàn về bản chất, mục đích, vai trò, đặc điểm của TT trong đời sống chính trị, xã hội cụ thể nhiều hơn là chỉ ra những đặc điểm đặc trƣng, các cơ chế tâm lý, kỹ năng với tƣ cách là những vấn đề có lý luận và phƣơng pháp luận chung từ góc độ khoa học tâm lý.

Đáng quan tâm là có sự khác biệt lớn trong tiếp cận thuật ngữ “Tuyên truyền” và KNTT ở Mỹ, Tây Âu (Đức, Pháp, Ý…) với Liên Xô (cũ) và các nƣớc Đông Âu diễn ra vào những năm đầu thế kỷ XIX. Với những nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận đƣợc đã cho thấy có hai hƣớng nghiên cứu cơ bản về tuyên truyền và kỹ năng tuyên truyền ở nƣớc ngoài. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hướng thứ nhất: Tiếp cận tuyên truyền, kỹ năng tuyên truyền theo hướng điều khiển, điều chỉnh quan điểm, hành vi của người được tuyên truyền Đại diện cho hƣớng này là các nhà nghiên cứu ở Mỹ, Đức, Pháp, Ý và Tây Âu. Nhà tâm lý học ngƣời Mỹ Edward Bernays (2005) quan niệm, bản chất thuật ngữ “tuyên truyền” là lành mạnh và trong sáng nhƣng hoạt động TT thì trung tính, không xấu và không tốt, hoạt động TT xấu hay tốt phụ thuộc vào việc sử dụng những thông tin đƣợc công bố.

Bernays nhấn mạnh “Tuyên truyền chỉ trở nên xấu xa và bị khiển trách khi người ta gieo rắc một cách có ý thức và có chủ tâm những gì họ biết là nói dối hay khi họ định tác động những gì họ biết là gây tổn hại đến công chúng” [128, tr. Theo Bernays bản chất TT là sự thiết lập mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau giữa một cá nhân và một nhóm. Đây là một hoạt động phức tạp nên không đòi hỏi một cách tuyệt đối hoá vào kết quả của nó, bởi còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố bên ngoài. Bernays cho rằng, TT có thể điều khiển làm thay đổi quan điểm của công chúng ở một mức độ nhất định với những cơ chế xác định, nếu các cá nhân, tổ chức TT hiểu đƣợc cơ chế, động cơ của tâm nhóm; đồng thời cần có mục tiêu và cố gắng đạt đƣợc mục tiêu thông qua sự hiểu biết chính xác về quần chúng; lựa chọn thời điểm tinh tế, thích hợp, xử lý sáng tạo trong các tình huống, biết dàn dựng những vấn đề, sự kiện có tính nổi bật để TT.

Theo tác giả, nhà TT cần xây dựng cơ chế kiểm soát tâm nhóm, làm cho công chúng chấp nhận cho một ý tƣởng cụ thể hoặc hàng hoá tiến hành bằng cách tập trung, lựa chọn những ngƣời có vị trí, vai trò chính trong các nhóm để tuyên truyền và thông qua họ lan truyền ý tƣởng tới các thành viên trong nhóm. Đồng thời, nhà TT cũng phải biết thu hút sự chú ý, biết khai sáng cho công chúng thông qua các công cụ của TT. Tất cả các công cụ để chuyển tải ý tƣởng của con ngƣời với nhau đều là công cụ của TT. Vấn đề quan trọng đối với nhà TT là sử dụng công cụ nào cho hợp lý với từng đối tƣợng công chúng, bởi mỗi công cụ có giá trị tƣơng đối của nó [128].

Jacques Ellul (1965) lại cho rằng, TT là hoạt động có nhu cầu kép: nhu cầu thực hiện hoạt động TT của hệ thống cai trị và nhu cầu của ngƣời chịu ảnh hƣởng của hoạt động tuyên truyền. Ellul cho rằng, mục đích của tuyên truyền không phải chỉ dừng ở việc thay đổi các ý tƣởng mà là khơi dậy hành động, là để khiến cá nhân trung thành một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách không có lý trí vào một quá trình hành động, mất đi những sự phản ứng ngƣợc lại, là để dấy lên một hành động và một niềm tin huyền bí. Tuy nhiên, muốn đạt đƣợc mục đích đó, TT cần có điều kiện để tồn tại nhƣ: môi trƣờng xã hội có tính cá nhân và tính tập thể; có công cụ, phƣơng tiện điều khiển tâm lý, gây ảnh hƣởng tới công chúng; có các quan điểm, hệ tƣ tƣởng; có mức sống đạt tiêu chuẩn trung bình, có một nền văn hoá trung bình và có thông tin. Theo Ellul, TT cần mang tính tổng thể, phải sử dụng tất cả những phƣơng tiện, công cụ để TT nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp; phải kết hợp tuyên truyền bằng lời và hành động; phải kết hợp TT kín với công khai.

TT cần tiến hành liên tục, kéo dài, không để lại một khoảng trống nào, từng giây, từng phút trong cuộc sống cá nhân, nó bao gồm những kích động liên tục, không ngắt quãng. TT cần có tổ chức; nội dung bên trong của TT cần có sự phù hợp với tâm thế con ngƣời. Nhà TT phải biết chính xác tình cảm, quan điểm, khuynh hƣớng hiện tại và khuôn mẫu trong đám đông mà mình đang muốn tiếp cận. TT phải diễn tả những dòng chảy cơ bản của xã hội, nó phải đƣợc kết hợp với tất cả sự phát triển thuộc kinh tế, chính trị, xã hội, hành chính và giáo dục.

TT phải đúng lúc, sát với thực tế. Với những cách thức nhƣ trên, Ellul cho rằng hoạt động tuyên truyền có thể ảnh hƣởng tới tâm lý con ngƣời. TT có thể hoàn thiện nhân cách và sắp xếp các đặc điểm nhân cách của một cá nhân thành một hệ thống và làm thành khuôn mẫu. TT làm cho con ngƣời thay đổi theo những quan điểm, quan niệm đã định sẵn nhƣng nó cũng làm khơi dậy ý thức cá nhân và ý thức nhóm [134].

Đồng tình với những quan điểm của Ellul, tác giả Radal Marlin (2002) cho rằng, dù đƣợc tiếp cận ở góc độ nào thì bản chất TT vẫn là đè nén tự do, tự chủ cá nhân. Marlin cho rằng, TT trƣớc tiên là nhằm mục đích gây ảnh hƣởng đến nhiều ngƣời ở cách tổ chức và có chủ ý. TT có thể đánh lừa đối tƣợng mục tiêu và sử dụng ảnh hƣởng tâm lý để ngăn chặn hoặc bỏ qua những suy nghĩ lý trí. Đó là sự nỗ lực của các tổ chức thông qua truyền thông ảnh hƣởng một cách sâu sắc tới niềm tin hay hành động hoặc thái độ của đông đảo các tầng lớp trong xã hội bằng cách ngăn chặn hoặc phá hoại những thông tin đầy đủ, đúng đắn tới họ.

Vì thế, có vấn đề thuộc về đạo đức trong tuyên truyền chính là đã sử dụng thông tin sai lệch để tạo tình cảm và gây áp lực tâm lý đối với nhiều ngƣời, là sự thiếu dân chủ, áp đặt thông tin tới công chúng. TT sẽ trở nên tốt đẹp nếu nó mang tới cá nhân trong xã hội những thông tin đầy đủ, chính xác, không ngăn chặn hoặc làm sai lệch thông tin [138]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Richard Alan Nelson (1996) đã thể hiện sự nhất trí với quan điểm của Marlin khi cho rằng, TT là ngăn chặn hoặc phá huỷ thông tin. Tuy nhiên, Nelson nhấn mạnh vào tính hệ thống, tính mục đích và phƣơng tiện của TT đó là nỗ lực gây ảnh hƣởng đến cảm xúc, thái độ, quan điểm và hành động của đối tƣợng vì mục tiêu chính trị cụ thể hay mục đích thƣơng mại bằng cách kiểm soát thông điệp trên các phƣơng tiện truyền thông đại chúng và các kênh TT trực tiếp…Theo Nelson, sự thành công của TT nhờ vào khả năng huy động các lực lƣợng, phƣơng tiện để gây ảnh hƣởng tới mọi ngƣời trong xã hội.

Nhƣng quan trọng nhất là phải kiểm soát các luồng thông tin tới cá nhân, nhóm xã hội, nhà TT phải làm cho những thông tin đó phù hợp với mục đích của TT [139]. Cũng đồng tình với quan điểm cho rằng, TT là điều khiển, điều chỉnh quan điểm, hành vi của ngƣời đƣợc TT để họ chấp nhận quan điểm của nhà TT một cách vô thức nhƣng hai tác giả Garth S.Jowett và Vitoria O’. Donnell (2008) đã xem xét tuyên truyền và các kỹ thuật TT ở một góc độ tích cực hơn. Theo họ, TT là hoạt động chủ ý, tác động gây ảnh hƣởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của con ngƣời.

Hoạt động này vì lợi ích của nhà TT nhƣng trong đó cũng có một chút ít của ngƣời đƣợc TT. Các tác giả đã xem xét TT trong mối quan hệ với phƣơng tiện truyền thông đại chúng, với quảng cáo, với thuyết phục. Họ cho rằng, TT và cách thức tiến hành nó cũng nhƣ truyền thông nhƣng phức tạp và bao quát hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ