Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam" được tác giả Lê Thị Thu Hà thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2011), thuộc chuyên ngành Kế toán (chuyên ngành hẹp: Kế toán, Kiểm toán và Phân tích; Mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đoàn Xuân Tiên và PGS. Đinh Trọng Hanh.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của kiểm toán nội bộ trong quản trị doanh nghiệp và thực trạng hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng. Hoạt động của các công ty tài chính thuộc lĩnh vực tài chính - tín dụng, là môi trường kinh doanh tiềm ẩn nhiều loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro đầu tư). Mặc dù một số công ty tài chính đạt tỷ lệ sinh lời cao, một số đơn vị khác lại bộc lộ tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Tại thời điểm nghiên cứu, kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam chưa được triển khai đầy đủ và vận hành hữu hiệu; cả nội dung kiểm toán, tổ chức bộ máy lẫn hoạt động kiểm toán đều chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm soát và quản trị rủi ro. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: trong khi kiểm toán nội bộ đã được nghiên cứu ở các doanh nghiệp xây dựng, vận tải ô tô hoặc các tập đoàn kinh tế, thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về tổ chức kiểm toán nội bộ tại loại hình công ty tài chính ở Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa lý luận về kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp nói chung và công ty tài chính nói riêng, kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về tổ chức kiểm toán nội bộ tại các tổ chức tín dụng trên thế giới.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam trên hai phương diện tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động; chỉ rõ các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam, tập trung vào chiến lược phát triển, đổi mới phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro và mở rộng loại hình kiểm toán.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam, tiếp cận trên hai khía cạnh: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ và tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao gồm toàn bộ các công ty tài chính tại Việt Nam đã thành lập và hoạt động dựa trên danh sách thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Phạm vi thời gian nghiên cứu giới hạn đối với dữ liệu thực trạng tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2009 và số liệu hoạt động trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu về kiểm toán nội bộ trên thế giới và tại Việt Nam theo các nhóm nội dung:

Nghiên cứu quốc tế:

  • Victor Z. Brink (1942, Modern Internal Auditing): Chuyển đổi quan điểm truyền thống xem kiểm toán nội bộ thuần túy là kiểm tra kế toán và hỗ trợ kiểm toán bên ngoài sang quan điểm kiểm toán nội bộ là công cụ hỗ trợ các nhà quản trị nội bộ. Tác phẩm tái bản lần thứ 5 (1999) tiếp tục phân tích định nghĩa của IIA và vai trò quản trị.
  • Lawrence B. Sawyer (2003, Sawyer's Internal Auditing, tái bản lần 5): Nhấn mạnh sự chuyển dịch trọng tâm từ kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ sang kiểm toán hoạt động; phân tích tác động của công nghệ thông tin và vai trò của kiểm toán viên nội bộ trong quản trị doanh nghiệp.
  • Robert Moeller (2005, Brink’s Modern Internal Auditing, tái bản lần 6; và 2009, tái bản lần 7 - A Common Body of Knowledge): Phân tích bối cảnh sau sự sụp đổ của Enron, Arthur Andersen và sự ra đời của Đạo luật Sarbanes - Oxley (SOA) tại Mỹ; hướng dẫn đánh giá kiểm soát nội bộ theo Điều 404 SOA; làm rõ quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và ủy ban kiểm toán.
  • Phil Griffiths (2005, Risk-based Auditing): Phân biệt kiểm toán tuân thủ với kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro. Phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro không bắt đầu từ các thủ tục kiểm soát mà xuất phát từ mục tiêu của tổ chức và các rủi ro đe dọa mục tiêu đó. David Griffiths (2006) bổ sung luận điểm kiểm toán định hướng rủi ro giúp chỉ ra cả những lĩnh vực rủi ro chưa kiểm soát lẫn những lĩnh vực bị kiểm soát quá mức gây lãng phí nguồn lực.
  • Khảo sát của PricewaterhouseCoopers (PwC, 2007) và Ernst & Young (E&Y): Ghi nhận trên 80% kiểm toán viên nội bộ thực hiện đánh giá rủi ro toàn tổ chức (enterprise-wide risk management) trong kế hoạch kiểm toán năm, trên 30% chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý rủi ro.

Nghiên cứu trong nước:

  • Nguyễn Quang Quynh và cộng sự (1998), "Xây dựng hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong quản lý vĩ mô và vi mô ở Việt Nam": Đề cập kiểm toán nội bộ như một yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ.
  • Phan Trung Kiên (2008), "Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp xây dựng Việt Nam": Đưa ra khái niệm "kiểm toán liên kết" giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ, thiết kế chương trình và tiêu chuẩn đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực.
  • Lê Thu Hằng (2007), "Nghiên cứu xây dựng nội dung kiểm toán nội bộ doanh nghiệp vận tải ô tô": Đề xuất nội dung kiểm toán hoạt động dựa trên nhận diện rủi ro đặc thù của ngành vận tải.
  • Nguyễn Thị Hồng Thúy (2010), "Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế Việt Nam": Tập trung vào mô hình tổ chức bộ máy và liên kết các hình thức kiểm toán trong mô hình tập đoàn.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trong nước trước đây chỉ giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, vận tải hoặc tập đoàn kinh tế nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu về công ty tài chính. Công ty tài chính là định chế tài chính phi ngân hàng, sở hữu tài sản tài chính có tính thanh khoản cao, sản phẩm vô hình và tiềm ẩn rủi ro tín dụng, lãi suất phức tạp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung lý luận và giải pháp tổ chức kiểm toán nội bộ thích ứng riêng cho loại hình công ty tài chính tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận về kiểm toán nội bộ và quản trị rủi ro của các tổ chức quốc tế:

  • Khung khái niệm và chuẩn mực thực hành của Viện Kiểm toán viên Nội bộ (IIA): Sử dụng định nghĩa năm 1978 và định nghĩa sửa đổi năm 1999. Theo IIA (1999), kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan, được thiết kế để gia tăng giá trị và cải thiện các hoạt động của tổ chức; giúp tổ chức đạt được mục tiêu thông qua phương pháp tiếp cận có hệ thống và nguyên tắc nhằm đánh giá, nâng cao hiệu lực của các quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị.
  • Báo cáo của COSO (1992) về kiểm soát nội bộ: Mở rộng phạm vi kiểm toán nội bộ sang giám sát mục tiêu hoạt động và quản lý rủi ro.
  • Quan điểm của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) và Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Anh (ACCA): Định nghĩa kiểm toán nội bộ là bộ phận đánh giá độc lập được thiết lập bên trong đơn vị để kiểm tra tính thích hợp, hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ.
  • Khung lý thuyết 4 giai đoạn phát triển phương pháp tiếp cận kiểm toán (Phil Griffiths): Giai đoạn 1 (Truyền thống/kiểm tra chi tiết giao dịch); Giai đoạn 2 (Tiếp cận hệ thống); Giai đoạn 3 (Định hướng rủi ro); Giai đoạn 4 (Hướng tới tương lai - forward looking, kiểm toán viên đóng vai trò đối tác và người hỗ trợ giải pháp - solution facilitator).
  • Năm nguyên tắc tổ chức và hoạt động kiểm toán nội bộ: Độc lập; Tuân thủ pháp luật và các quy định; Trung thực, khách quan; Tính chuyên nghiệp; Đảm bảo tính hiệu quả.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp điều tra bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát (trình bày tại Phụ lục 2) gửi đến toàn bộ 12 công ty tài chính Việt Nam hoạt động tại thời điểm nghiên cứu; kết quả thu về 11 trên 12 phiếu hợp lệ.
  • Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành khảo sát và phỏng vấn trực tiếp cán bộ, kiểm toán viên nội bộ tại 8 trên 12 công ty tài chính, bao gồm: Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC), Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFC), Công ty Tài chính Cổ phần Sông Đà (SDFC), Công ty Tài chính Than - Khoáng sản, Công ty Tài chính Cổ phần Xi măng (CFC)...
  • Phương pháp thống kê, mô tả, phân tích hệ thống và nghiên cứu thực chứng: Phân tích số liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động gửi Cơ quan Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, báo cáo tổng kết của các công ty tài chính giai đoạn 2007-2009, kết hợp số liệu khảo sát của PwC và Ernst & Young.
Nhóm phương pháp Công cụ và nguồn dữ liệu thực tế Mục tiêu áp dụng trong luận án
Khảo sát định lượng Phiếu điều tra gửi 12/12 công ty tài chính (thu hồi 11 phiếu). Đo lường mức độ thành lập bộ phận, nhân sự, quy trình kiểm toán.
Phỏng vấn định tính Phỏng vấn sâu lãnh đạo và kiểm toán viên tại 8 công ty tài chính. Đánh giá thực trạng phân bổ thời gian, kỹ thuật và hồ sơ kiểm toán.
Phân tích dữ liệu thứ cấp Báo cáo gửi Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, báo cáo tài chính 2007-2009. Đánh giá quy mô tài sản, vốn điều lệ, lợi nhuận và cơ cấu nguồn vốn.
Kinh nghiệm quốc tế Khảo sát của IIA, PwC (2007), số liệu kiểm toán tại Anh (2000-2004). Rút ra bài học về mô hình báo cáo và kiểm toán dựa trên rủi ro.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính

Chương này trình bày bản chất kinh tế của công ty tài chính, định vị chức năng kiểm toán nội bộ và kinh nghiệm quốc tế:

  • Đặc điểm công ty tài chính: Là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, huy động vốn bằng phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu hoặc vốn tự có (không nhận tiền gửi không kỳ hạn và ngắn hạn dưới một năm từ công chúng, không mở tài khoản thanh toán cá nhân), chuyên cấp tín dụng trung - dài hạn, đầu tư tài chính, bao thanh toán và cho thuê tài chính. Hoạt động của công ty tài chính mang 6 đặc trưng tác động đến kiểm toán nội bộ: quản lý tài sản tài chính quy mô lớn nhạy cảm với gian lận; chứa đựng rủi ro gián tiếp tích tụ nhanh; sản phẩm dịch vụ tài chính mang tính vô hình; sản phẩm mới phát triển liên tục trước khi có quy chế kế toán/kiểm toán đầy đủ; tổ chức quản lý tập trung và gọn nhẹ hơn ngân hàng thương mại; chịu sự giám sát pháp lý nghiêm ngặt của Ngân hàng Nhà nước.
  • Phân loại công ty tài chính: Theo quan hệ sở hữu (công ty tài chính độc lập và công ty tài chính trực thuộc tập đoàn kinh tế); theo hoạt động (công ty tài chính tiêu dùng, bán hàng, thương mại).
  • Tổ chức bộ máy và hoạt động kiểm toán nội bộ: Xác lập vị trí của kiểm toán nội bộ trong sơ đồ quản trị: tốt nhất là trực thuộc Ủy ban Kiểm toán thuộc Hội đồng quản trị để bảo đảm tính độc lập. Trích dẫn số liệu khảo sát tại Anh giai đoạn 2000-2004 cho thấy tỷ lệ bộ phận kiểm toán nội bộ báo cáo trực tiếp cho Giám đốc tài chính giảm từ 59% xuống 18%, trong khi tỷ lệ báo cáo cho Chủ tịch Hội đồng quản trị/Tổng Giám đốc tăng từ 17% lên 45%, báo cáo cho Ủy ban Kiểm toán tăng từ 16% lên 24%.
  • Phương pháp tiếp cận: Khẳng định phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro là tất yếu đối với định chế tài chính, chuyển từ kiểm tra mẫu ngẫu nhiên sang chấm điểm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, lập kế hoạch kiểm toán năm dựa trên hồ sơ rủi ro.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu việc áp dụng chuẩn mực IIA, mô hình kiểm toán tại các tổ chức tín dụng quốc tế và bài học về tính độc lập, tiêu chuẩn kiểm toán viên nội bộ cho Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam

Chương 2 phản ánh chi tiết thực trạng các công ty tài chính tại Việt Nam đến ngày 31 tháng 12 năm 2009:

  • Đặc điểm hoạt động và cơ cấu: Hệ thống công ty tài chính gồm 12 công ty (phần lớn thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước như PVFC thuộc Tập đoàn Dầu khí, EVNFC thuộc Tập đoàn Điện lực, SDFC thuộc Tập đoàn Sông Đà...). Cơ cấu tài sản chủ yếu là các khoản cho vay và danh mục đầu tư tài chính. Năm 2009, lợi nhuận trước thuế giữa các đơn vị có sự phân hóa rõ rệt.
  • Thực trạng tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ: Theo Bảng 2.7 và 2.8 của luận án, tính đến ngày 31/12/2009, việc thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ tại 12 công ty tài chính có sự không đồng đều; một số công ty đã thành lập phòng/ban kiểm toán nội bộ riêng biệt, trong khi một số đơn vị vẫn chưa thành lập hoặc ghép chung với bộ phận kiểm soát nội bộ. Về vị trí báo cáo, phần lớn các công ty tài chính Việt Nam chưa thành lập Ủy ban Kiểm toán; kiểm toán nội bộ chủ yếu đặt dưới quyền chỉ đạo của Ban Kiểm soát hoặc trực thuộc Ban Điều hành (Tổng Giám đốc), dẫn đến hạn chế tính độc lập.
  • Thực trạng tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ:
    • Quy trình kiểm toán: Một số công ty ban hành quy trình kiểm toán mẫu (Sơ đồ 2.1), kế hoạch năm (minh họa tại Công ty Tài chính Xi măng - Bảng 2.9, PVFC - Bảng 2.16).
    • Phương pháp kỹ thuật: Kỹ thuật kiểm toán chủ yếu mang tính truyền thống, tập trung đối chiếu chứng từ kế toán, kiểm tra tuân thủ thủ tục phê duyệt tín dụng, ít áp dụng phân tích rủi ro định lượng hoặc kiểm toán bằng công nghệ thông tin.
    • Loại hình kiểm toán: Trọng tâm gần như hoàn toàn là kiểm toán tài chính và kiểm toán tuân thủ. Kiểm toán hoạt động (đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu năng của các dự án đầu tư, các nghiệp vụ kinh doanh vốn) chưa được triển khai bài bản.
  • Đánh giá chung:
    • Kết quả: Bước đầu hình thành khung kiểm soát, phát hiện một số sai sót về hồ sơ tín dụng và lập chứng từ, hỗ trợ ban lãnh đạo trong giám sát hoạt động chi nhánh.
    • Hạn chế: Phương pháp tiếp cận kiểm toán chưa định hướng rủi ro; phạm vi kiểm toán hẹp; kế hoạch kiểm toán mang tính đối phó; nhân sự kiểm toán viên nội bộ mỏng, thiếu kiến thức chuyên sâu về công cụ tài chính phái sinh, thẩm định đầu tư; chưa có quy chế đánh giá chất lượng kiểm toán nội bộ độc lập.
    • Nguyên nhân: Thiếu khung pháp lý chuẩn mực từ Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính về kiểm toán nội bộ; nhận thức của Hội đồng quản trị/Ban Giám đốc về vai trò tư vấn của kiểm toán nội bộ còn hạn chế; công tác đào tạo nghề nghiệp chưa có chứng chỉ chuyên môn riêng tại Việt Nam.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam

Trên cơ sở định hướng phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, Chương 3 đề xuất 7 nhóm giải pháp cụ thể và các kiến nghị chính sách:

  • Giải pháp 1: Xây dựng chiến lược phát triển của kiểm toán nội bộ: Xác định mục tiêu trung hạn, dài hạn, vị trí và nguồn lực kiểm toán nội bộ phù hợp với chiến lược phát triển của từng công ty tài chính.
  • Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp tiếp cận kiểm toán trên cơ sở định hướng rủi ro:
    • Xây dựng ma trận kiểm toán nội bộ (Sơ đồ 3.1) và bảng chấm điểm rủi ro (Bảng 3.1). Đánh giá rủi ro dựa trên hai tiêu chí: mức độ ảnh hưởng và khả năng xảy ra rủi ro (Bảng 3.3).
    • Thiết lập hồ sơ rủi ro của công ty tài chính (Bảng 3.5), phân bổ kế hoạch nhân sự - thời gian theo mức độ rủi ro (Bảng 3.2).
    • Thiết kế thủ tục kiểm toán chuyên biệt cho nghiệp vụ tín dụng và đầu tư (Bảng 3.4).
  • Giải pháp 3: Hoàn thiện quy trình và phương pháp kỹ thuật kiểm toán nội bộ: Chuẩn hóa quy trình từ khâu lập kế hoạch kiểm toán năm, lập kế hoạch cuộc kiểm toán, thực hiện kiểm toán chi tiết đến lập báo cáo và theo dõi sau kiểm toán.
  • Giải pháp 4: Mở rộng loại hình và phạm vi kiểm toán: Từng bước dịch chuyển trọng tâm sang kiểm toán hoạt động. Đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu năng trong hoạt động cấp tín dụng và kinh doanh vốn (Bảng 3.6).
  • Giải pháp 5: Hoàn thiện kiểm soát chất lượng kiểm toán nội bộ: Thiết lập quy chế tự đánh giá nội bộ hàng năm và cơ chế đánh giá định kỳ từ bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán nội bộ.
  • Giải pháp 6: Hoàn thiện tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ: Khuyến nghị các công ty tài chính cổ phần thành lập Ủy ban Kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị; bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc Ủy ban Kiểm toán về mặt chức năng và phối hợp với Tổng Giám đốc về mặt điều hành hành chính.
  • Giải pháp 7: Phát triển nguồn nhân lực kiểm toán nội bộ: Chuẩn hóa tiêu chuẩn tuyển dụng, xây dựng chương trình đào tạo nghiệp vụ ngân hàng - tài chính, công nghệ thông tin và khuyến khích kiểm toán viên tham gia các chương trình chứng chỉ quốc tế (như CIA của IIA).
  • Các nhóm kiến nghị:
    • Đối với cơ quan nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Ban hành quy chế khung và chuẩn mực kiểm toán nội bộ cho tổ chức tín dụng phi ngân hàng; hoàn thiện hành lang pháp lý về mô hình Ủy ban Kiểm toán.
    • Đối với bản thân các công ty tài chính: Tăng cường nhận thức của cấp quản trị, cấp ngân sách thích đáng và bảo đảm quyền tiếp cận tài liệu đầy đủ cho kiểm toán viên nội bộ.
    • Đối với các tổ chức nghề nghiệp (Hội đồng Kiểm toán viên, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam - VAA): Tổ chức đào tạo, hội thảo và biên dịch các chuẩn mực kiểm toán nội bộ quốc tế phục vụ thực hành.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ lý luận chung về tổ chức kiểm toán nội bộ trong loại hình công ty tài chính - một định chế tài chính phi ngân hàng đặc thù. Luận án làm rõ tác động của các đặc trưng nghiệp vụ (sản phẩm vô hình, tài sản tài chính nhạy cảm, rủi ro tích tụ nhanh) đến phương pháp tiếp cận và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ.
    • Luận giải cơ sở khoa học của việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận kiểm toán truyền thống sang phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro trong điều kiện của công ty tài chính, tích hợp khung lý thuyết của IIA và kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn Việt Nam.
  2. Về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh toàn diện và có hệ thống về thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam tính đến ngày 31/12/2009 thông qua kết quả điều tra thực tế tại 11/12 đơn vị và khảo sát sâu tại 8 công ty.
    • Phân tích rõ nét hai mảng cấu thành của tổ chức kiểm toán nội bộ: tổ chức bộ máy (vị trí, thẩm quyền, nhân sự) và tổ chức hoạt động (lập kế hoạch, quy trình kỹ thuật, bằng chứng, hồ sơ kiểm toán).
    • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao, trong đó thiết kế cụ thể các công cụ thực hành: bảng chấm điểm rủi ro (Bảng 3.1), ma trận kiểm toán (Sơ đồ 3.1), mẫu bảng đánh giá ảnh hưởng và khả năng rủi ro (Bảng 3.3), quy trình kiểm toán nghiệp vụ tín dụng (Bảng 3.4), hồ sơ rủi ro (Bảng 3.5) và chỉ tiêu đánh giá kiểm toán hoạt động (Bảng 3.6).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào nội dung và phạm vi nghiên cứu được tác giả công bố:

  • Hạn chế về dữ liệu và thời gian: Toàn bộ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp của luận án được tổng hợp và xử lý đến thời điểm 31/12/2009. Tại thời điểm này, số lượng công ty tài chính tại Việt Nam còn ít (12 công ty), nhiều đơn vị mới thành lập nên quy mô bộ máy và dữ liệu hoạt động kiểm toán nội bộ chưa có chuỗi lịch sử dài để đánh giá tác động định lượng nhiều năm.
  • Hạn chế về mô hình kiểm toán hoạt động: Luận án mới dừng lại ở việc đề xuất khung chỉ tiêu và phương pháp luận cho kiểm toán hoạt động và kiểm toán định hướng rủi ro; chưa có điều kiện kiểm nghiệm vận hành thực tế các mô hình chấm điểm rủi ro trong dài hạn tại toàn bộ các công ty tài chính.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá thực nghiệm việc áp dụng kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro khi số lượng công ty tài chính gia tăng; nghiên cứu tác động của việc áp dụng chuẩn mực kế toán/kiểm toán quốc tế (IFRS, Basel) và ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu trong kiểm toán nội bộ tại các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với nhà quản trị và kiểm toán viên nội bộ tại các công ty tài chính: Cung cấp bộ công cụ biểu mẫu thực hành (bảng chấm điểm rủi ro, ma trận rủi ro, chương trình kiểm toán tín dụng và đầu tư) có thể áp dụng trực tiếp để tái cấu trúc bộ máy và đổi mới phương pháp kiểm toán hàng năm.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam): Cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng, sửa đổi các thông tư, quy chế hướng dẫn về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ áp dụng cho khối tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên sâu về kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính; cung cấp phương pháp luận kết hợp khảo sát thực tế và phân tích hệ thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng dữ liệu thực tế từ bao nhiêu công ty tài chính tại Việt Nam?
Tác giả đã gửi phiếu điều tra khảo sát đến toàn bộ 12 công ty tài chính Việt Nam hoạt động tính đến ngày 31/12/2009 và thu về 11 phiếu hợp lệ. Đồng thời, tác giả đã tiến hành khảo sát và phỏng vấn trực tiếp tại 8 trên 12 công ty tài chính, bao gồm PVFC, EVNFC, SDFC, CFC, Công ty Tài chính Than - Khoáng sản...

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro được tác giả phân tích là gì?
Phương pháp tiếp cận hệ thống tập trung vào câu hỏi "liệu các thủ tục kiểm soát có đầy đủ và hiệu lực hay không?", xuất phát từ bản thân các thủ tục kiểm soát. Ngược lại, phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro xuất phát từ mục tiêu của tổ chức và các rủi ro đe dọa việc đạt được mục tiêu đó, trả lời cho câu hỏi "rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào?", từ đó xác định các hoạt động kiểm soát cần thiết và tối ưu hóa nguồn lực kiểm toán.

3. Tại sao kiểm toán nội bộ tại công ty tài chính cần chuyển trọng tâm sang kiểm toán hoạt động thay vì chỉ làm kiểm toán tài chính?
Báo cáo tài chính hàng năm của các công ty tài chính theo quy định bắt buộc phải được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập. Do đó, việc kiểm toán nội bộ lặp lại kiểm toán tài chính sẽ gây trùng lặp và lãng phí nguồn lực. Kiểm toán hoạt động giúp đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu năng trong sử dụng vốn, kiểm soát các rủi ro tín dụng và đầu tư vốn là bản chất hoạt động cốt lõi của công ty tài chính.

4. Mô hình bộ máy kiểm toán nội bộ nào được luận án khuyến nghị áp dụng để bảo đảm tính độc lập?
Luận án khuyến nghị mô hình bộ phận kiểm toán nội bộ trực thuộc Ủy ban Kiểm toán (thuộc Hội đồng quản trị). Theo mô hình này, Ủy ban Kiểm toán bổ nhiệm, phê duyệt kế hoạch, ngân sách và đánh giá kết quả kiểm toán nội bộ, tách biệt kiểm toán viên khỏi Ban điều hành (Tổng Giám đốc) và các bộ phận nghiệp vụ tác nghiệp.

5. Luận án đề xuất đánh giá rủi ro đơn lẻ dựa trên những tiêu chí định lượng nào?
Luận án đề xuất đánh giá từng rủi ro dựa trên hai tiêu chí: khả năng xảy ra (xác suất) và mức độ ảnh hưởng (tác động) của rủi ro đến hoạt động của đơn vị. Hai tiêu chí này được xác định theo thang điểm (ví dụ từ 1 đến 5), sau đó tổng điểm rủi ro được tính bằng tổng hoặc tích số của hai tiêu chí để xếp hạng thứ tự ưu tiên kiểm toán.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thu Hà là công trình nghiên cứu hệ thống về tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam trong giai đoạn phát triển đến năm 2009. Bằng việc kết hợp lý luận chuẩn mực của IIA, kinh nghiệm quốc tế và dữ liệu khảo sát thực tế tại 11 công ty tài chính, luận án đã làm rõ các hạn chế mang tính cấu trúc của kiểm toán nội bộ trong việc nhận diện và kiểm soát rủi ro tài chính. Các giải pháp đề xuất về đổi mới phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro, chuẩn hóa ma trận rủi ro và thành lập Ủy ban Kiểm toán mang giá trị thực tiễn đối với công tác quản trị tại các tổ chức tín dụng phi ngân hàng ở Việt Nam.