CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MỞ RỘNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSNCL nói chung và BVCL nói riêng trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường là chủ đề có tính thời sự đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành. Đến nay đã có một số luận án tiến sỹ kinh tế, các đề án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ liên quan đến đề tài của luận án này. Việc tổng quan các công trình khoa học đã nghiên cứu để chỉ ra cách tiếp cận vấn đề của tác giả, mục đích nghiên cứu của đề tài, vấn đề được giải quyết như thế nào? và đã giải quyết được đến đâu? đồng thời khẳng định những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Qua đó xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án. Cùng với quá trình đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với lĩnh vực hoạt động sự nghiệp đã có những công trình nghiên cứu khoa học sau đây. Những nghiên cứu trong nước - Về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp. + Trần Thu Hà (1997).
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSN có thu (Trần Thu Hà 1997) [53]. Đề tài này là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối tổng quát về cơ chế quản lý tài chính đối với ĐVSN, đã giải quyết được các vấn đề như: • Làm rõ được vai trò, vị trí của các ĐVSN đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự tồn tại khách quan của hoạt động sự nghiệp. • Tổng kết, đánh giá khá toàn diện về thực trạng hoạt động sự nghiệp và tình hình quản lý tài chính đối với các ĐVSN trong thời kỳ chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường (giai đoạn 1991-1995). Đã đánh giá được những vướng mắc, hạn chế trong chính sách như: về quản lý phí, lệ phí, cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN chưa thống nhất, chưa phù hợp với các loại hình hoạt động sự nghiệp.
7 • Đã đưa ra được một số quan điểm, định hướng những kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các ĐVSN có thu giai đoạn 1999- 2005. Trên cơ sở các kiến nghị, đề xuất này, Bộ Tài chính đã tiếp tục nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các ĐVSN có thu và tiếp sau là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành cơ chế tự chủ tài chính đối với tất cả các ĐVSN công. Tuy nhiên đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu: • Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN có thu, nặng về tổng kết thực tiễn. Chưa phân tích làm rõ những khác biệt về bản chất của cơ chế quản lý tài chính các ĐVSN thời kỳ này so với thời kỳ bao cấp, chưa khái quát được lý luận chung về chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công nói chung.
• Chưa luận giải rõ được sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường đối với khu vực sự nghiệp công. • Các đề xuất chủ yếu mới dừng lại việc giải quyết vấn đề cơ chế quản lý; chính sách quản lý chi NSNN vẫn còn ảnh hưởng của tư duy bao cấp, chưa làm rõ được chính sách tài chính đối với khu vực doanh nghiệp công; chính sách thuế, chính sách khuyến khích phát triển sự nghiệp công, chính sách về quản lý vốn, tài sản công. chưa phù hợp với cơ chế thị trường. + Nguyễn Đăng Khoa (1999).
Luận án tiến sỹ: Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN (Nguyễn Đăng Khoa 1999) [36] Luận án này là một công trình nghiên cứu tương đối sâu về cơ chế quản lý tài chính trong các đơn vị HCSN (HCSN), đã có được kết quả sau: • Làm rõ một số vấn đề về cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị HCSN trong cơ chế thị trường, như: bản chất, nội dung, vai trò của cơ chế quản lý tài chính và tác động của nó đối với hoạt động của các đơn vị HCSN. • Khái quát hoá về mặt lý luận, thực tiễn, những nhận xét về quá trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách, quản lý tài sản công trong khu vực HCSN. • Đưa ra những yêu cầu, nguyên tắc quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN trong nền kinh tế thị trường và khi triển khai áp dụng Luật NSNN. 8 • Đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN trong giai đoạn 2000-2005.
Đây là những cơ sở tiền đề cho việc nghiên cứu, đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công. Song công trình nghiên cứu còn những giới hạn chưa vượt qua được là: • Tác giả không phân định được sự khác biệt giữa quản lý tài chính của ĐVSN với quản lý tài chính của các cơ quan hành chính (CQHC). Vì vậy những kiến nghị, đề xuất đều không đưa ra được những giải pháp phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý tài chính đối với các ĐVSN công. • Các quy luật của kinh tế thị trường tác động đến cơ chế quản lý, chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công cũng chưa được tác giả đề cập và luận giải rõ.
Cho nên các đề xuất vẫn chỉ nhằm tập trung vào giải quyết việc nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN. + Bạch Thị Minh Huyền (2001). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Thực trạng và giải pháp tài chính nhằm thực hiện khoán chi đối với cơ quan hành chính và cơ chế tự trang trải ở ĐVSN có thu (Bạch Thị Minh Huyền 2001) [18]. • Trong công trình nghiên cứu tác giả đã tập trung làm rõ về cơ chế, bản chất của việc thực hiện khoán chi hành chính đối với các CQHC và cơ chế tự chủ tài chính đối với các ĐVSN.
Luận giải kỹ về lý thuyết quản lý theo kết quả đầu ra; tổng kết, đánh giá được kinh nghiệm của Thuỵ Điển, Canada, Cộng hoà Pháp, Hàn Quốc, Côlômbia, và rút ra những bài học của việc vận dụng vào việc thực hiện quản lý kinh phí trọn gói (khoán chi). • Tuy vậy, đề tài nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở việc tổng kết tình hình thực tiễn trong quản lý tài chính đối với các CQHC và ĐVSN nhằm mục tiêu giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tế quản lý; tính khái quát, lý luận chưa toàn diện. Các giải pháp thực hiện cơ chế tự trang trải ở ĐVSN có thu chỉ mới được phác thảo những nét chung nhất, chưa có biện pháp cụ thể, đặc biệt chưa đi sâu phân tích làm rõ những đặc thù khác biệt giữa các lĩnh vực sự nghiệp, những khó khăn trong thực tiễn của các vùng, miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Mặt khác, do 9 những nghiên cứu này thực hiện từ năm 2000, nên đến thời điểm hiện nay đã có nhiều nội dung không còn phù hợp.
+ Dương Đăng Chinh, Nguyễn Ngọc Ánh (2003). Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Cơ chế, chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội (Dương Đăng Chinh 2003) [27]. • Đề tài này đã tập trung nghiên cứu, đánh giá tương đối toàn diện hệ thống chính sách về an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2001, tổng kết các mô hình an sinh xã hội của một số nước; đã đưa ra được mô hình của hệ thống an sinh xã hội và đề xuất các giải pháp, kiến nghị về hệ thống cơ chế, chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam. • Nội dung và phương pháp tiếp cận của đề tài này mặc dù không hướng tới việc đổi mới chính sách tài chính đối với các ĐVSN công; tuy vậy những kết quả nghiên cứu trong đề tài này đã làm rõ sự cần thiết Nhà nước phải có những chính sách hỗ trợ cho người dân trong việc đảm bảo quyền được thụ hưởng các phúc lợi xã hội về giáo dục, y tế, văn hoá.
do các ĐVSN công đáp ứng; từ đó có những đề xuất về các nhóm giải pháp nhằm hỗ trợ nhân dân trong việc thụ hưởng các dịch vụ của các ĐVSN. + Phạm Đức Phong (2003). Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản công tại ĐVSN (Phạm Đức Phong 2003) [44]. • Đề tài tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề quản lý tài sản công tại các ĐVSN: nghiên cứu, tổng kết và đánh gái khái quát về thực trạng quản lý tài sản công tại khu vực này; trong đó đã làm rõ phạm vi, phân cấp và cơ chế quản lý.
• Song do chưa có cách tiếp cận toàn diện, để làm rõ bản chất tư liệu sản xuất của tài sản công ở các ĐVSN công. Vì vậy, chưa có những phân tích và đánh giá về chính sách quản lý tài sản công để đề xuất kiến nghị phải thực hiện hạch toán đầy đủ chi phí khấu hao tài sản vào giá thành hoạt động dịch vụ sự nghiệp, sửa đổi chính sách về thuế sử dụng đất Nhà nước đã giao cho các ĐVSN công quản lý và sử dụng lâu dài. + Phạm Chí Thanh (2011). Luận án tiến sỹ: Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam (Phạm Chí Thanh 2011) [45].
10 Đề tài nghiên cứu đạt được những kết quả sau: • Tác giả tiếp cận nghiên cứu tài chính đối với hu vực sự nghiệp công với tư cách là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với ĐVSNCL trong sự hình thành, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ. Qua đó làm rõ bản chất, chức năng tài chính của ĐVSNCL trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. • Phân tích mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước giao nhiệm vụ và kinh phí thực hiện nhiệm vụ với ĐVSNCL tổ chức hoạt động cung cấp dịch vụ, tức là Nhà nước mua các dịch vụ của đơn vị này. Do vậy, đơn vị được quyền quyết định trong quản lý, sử dụng kinh phí và chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp cần đổi mới theo hướng xoá bỏ bao cấp, thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và hoạt động của ĐVSNCL.