Luận án Tiến sĩ: Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam giai đoạn 2010-2020

Phân tích các nguồn lực, chính sách và giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội tại vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, hướng đến mục tiêu giảm

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Nguyễn Văn Dũng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Kinh tế

2014

271
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về huy động vốn đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của Việt Nam. Đây là nơi sinh sống của hơn 50 dân tộc anh em với đa dạng bản sắc văn hóa. Tuy nhiên, vùng này luôn trong tình trạng thiếu vốn đầu tư trầm trọng. Giai đoạn 2010-2020, Đảng và Nhà nước xác định phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS và MN là nhiệm vụ chiến lược. Nguồn vốn đầu tư được huy động từ nhiều kênh khác nhau. Bao gồm ngân sách nhà nước, tín dụng chính sách xã hội, vốn doanh nghiệp nhà nước và nguồn vốn FDI. Mục tiêu nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh chỉ rõ: vùng nào muốn phát triển phải khai thác tốt tiềm năng nội tại. Tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và công nghệ là ba trụ cột quan trọng. Việc huy động vốn phải gắn liền với cơ chế phân bổ hợp lý. Đầu tư phải hướng vào hạ tầng, giáo dục, y tế và sản xuất nông nghiệp. Hiệu quả đầu tư được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.

1.1. Khái niệm và bản chất huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng

Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng là quá trình tập trung các nguồn lực tài chính từ nhiều kênh khác nhau để phục vụ mục tiêu phát triển. Nguồn vốn bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, vốn doanh nghiệp và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bản chất của quá trình này là chuyển hóa các nguồn lực nhàn rỗi thành vốn đầu tư sản xuất. Mỗi vùng kinh tế xã hội có đặc điểm riêng đòi hỏi phương thức huy động phù hợp. Vùng DTTS và MN có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí thấp hơn mặt bằng chung. Do đó, cơ chế huy động vốn cần có chính sách ưu đãi đặc thù. Mục tiêu cuối cùng là tạo động lực tăng trưởng bền vững cho vùng.

1.2. Các lý thuyết nền tảng về đầu tư và phát triển vùng

Nhiều lý thuyết kinh tế giải thích vai trò của đầu tư trong phát triển vùng. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh năng lực sản xuất nội tại của vùng. C.Fisher khẳng định chuyên môn hóa vùng và phân công lao động là động lực tăng trưởng chính. Lý thuyết tăng trưởng cân bằng đề xuất phân bổ đều nguồn lực giữa các vùng. Ngược lại, lý thuyết tăng trưởng không cân bằng cho rằng nên tập trung đầu tư vào vùng có lợi thế so sánh. Kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước ASEAN cho thấy: chính sách phát triển vùng cần gắn với đặc thù địa phương. Bài học thành công là kết hợp giữa vốn nhà nước và thu hút đầu tư tư nhân.

II. Phân tích thực trạng huy động vốn đầu tư vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Giai đoạn 2001-2010, vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên đạt được một số kết quả trong huy động vốn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư vẫn thấp hơn bình quân cả nước. Vốn ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư. Nguồn tín dụng chính sách xã hội phục vụ hộ nghèo và cận nghèo phát triển mạnh. Vốn doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế do hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Vốn FDI thu hút được ít do hạ tầng yếu kém và khoảng cách địa lý xa trung tâm. Thực tế cho thấy mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng GDP có độ trễ nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Thu ngân sách nội địa thấp, phụ thuộc nhiều vào trợ cấp từ trung ương. Xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm thô, giá trị gia tăng thấp. Những tồn tại này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức huy động vốn. Cần xây dựng chiến lược tổng thể cho giai đoạn 2010-2020.

2.1. Kết quả huy động các nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2001 2010

Giai đoạn 2001-2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội vùng DTTS và MN tăng trưởng bình quân 15-18% mỗi năm. Vốn ngân sách nhà nước chiếm trên 60% tổng vốn đầu tư toàn vùng. Chương trình 135 và các chương trình mục tiêu quốc gia đóng góp đáng kể. Tín dụng chính sách xã hội giải ngân hàng nghìn tỷ đồng cho hộ nghèo. Vốn doanh nghiệp nhà nước tập trung vào khai khoáng và thủy điện. Vốn tư nhân trong nước bắt đầu tham gia vào thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ trọng vốn FDI chỉ chiếm dưới 5% tổng vốn đầu tư vùng.

2.2. Những tồn tại và thách thức trong huy động vốn đầu tư phát triển vùng

Nhiều thách thức cản trở quá trình huy động vốn đầu tư vùng DTTS và MN. Hạ tầng giao thông yếu kém làm tăng chi phí logistics. Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu hụt nghiêm trọng. Môi trường đầu tư chưa hấp dẫn do thủ tục hành chính phức tạp. Thể chế quản lý đầu tư công còn bất cập, gây lãng phí nguồn lực. Tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, biến đổi khí hậu và thiên tai đe dọa tính bền vững của dự án. Khả năng hấp thụ vốn của vùng còn thấp do trình độ quản lý hạn chế.

III. Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Để đạt mục tiêu phát triển bền vững vùng DTTS và MN đến năm 2020, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, tái cơ cấu đầu tư công theo hướng tập trung và có trọng tâm. Ngân sách nhà nước ưu tiên cho hạ tầng chiến lược và chương trình giảm nghèo. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế tín dụng chính sách xã hội. Mở rộng đối tượng thụ hưởng và tăng hạn mức cho vay ưu đãi. Thứ ba, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh. Đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch thông tin quy hoạch. Thứ tư, phát huy nội lực vùng thông qua đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế. Thứ năm, đa dạng hóa hình thức hợp tác công tư PPP. Thu hút đầu tư tư nhân vào hạ tầng, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao. Thứ sáu, tăng cường liên kết vùng và liên kết với các trung tâm kinh tế. Bài học từ Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy vai trò then chốt của thể chế. Cần xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư thường xuyên.

3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước và chính sách đầu tư công

Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong huy động vốn đầu tư vùng DTTS và MN. Cần ban hành chính sách ưu đãi thuế, đất đai cho nhà đầu tư vào vùng khó khăn. Tái cơ cấu ngân sách nhà nước theo hướng tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển. Hoàn thiện Luật Đầu tư công gắn với quản lý mục tiêu chương trình. Xây dựng quỹ phát triển vùng từ nguồn thu khoáng sản và thủy điện. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ viện trợ ODA cho dự án hạ tầng. Tăng cường phân cấp quản lý cho địa phương phù hợp thực tiễn.

3.2. Giải pháp huy động vốn từ khu vực tư nhân và nguồn lực nội tại

Khu vực tư nhân là nguồn lực quan trọng bổ sung cho đầu tư công. Cần tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào vùng DTTS và MN. Phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới gắn với chuỗi giá trị nông sản. Khai thác tiềm năng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Ứng dụng công nghệ số trong xúc tiến thương mại và kết nối thị trường. Đào tạo kỹ năng quản lý tài chính cho hộ gia đình và tổ chức cộng đồng. Tận dụng nguồn kiều hối từ lao động xuất khẩu trở về địa phương.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu huy động vốn đầu tư vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Nghiên cứu về huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS và MN giai đoạn 2010-2020 mang lại nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống lý luận về huy động vốn và phát triển vùng được tổng hợp toàn diện. Thực trạng huy động vốn giai đoạn 2001-2010 cho thấy nhiều tồn tại cần khắc phục. Nguồn vốn ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo nhưng hiệu quả chưa cao. Vốn tư nhân và FDI còn hạn chế do môi trường đầu tư chưa hấp dẫn. Các giải pháp đề xuất mang tính đồng bộ và khả thi cao. Tái cơ cấu đầu tư công là nhiệm vụ then chốt trong bối cảnh hội nhập. Phát huy nội lực vùng thông qua đào tạo nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ. Kinh nghiệm quốc tế từ Hàn Quốc, Trung Quốc và ASEAN cung cấp bài học giá trị. Nghiên cứu này là cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược phát triển vùng. Ứng dụng thực tiễn đòi ngại sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền. Mục tiêu cuối cùng là thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống nhân dân vùng DTTS và MN.

4.1. Đóng góp khoa học và giá trị lý luận của nghiên cứu

Luận án đóng góp vào kho tàng khoa học về phát triển vùng DTTS và MN. Hệ thống hóa các lý thuyết về đầu tư, tăng trưởng và phát triển vùng một cách có hệ thống. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế vùng. Xây dựng khung phân tích đánh giá hiệu quả đầu tư phù hợp bối cảnh Việt Nam. Đề xuất mô hình huy động vốn đa nguồn cho vùng khó khăn. Nghiên cứu trường hợp Trung du Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tính đại diện cao. Kết quả là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhà hoạch định chính sách.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị cho giai đoạn 2010 2020

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào quy hoạch phát triển vùng DTTS và MN. Khuyến nghị tập trung đầu tư vào ba lĩnh vực: hạ tầng giao thông, giáo dục và nông nghiệp. Đề xuất thí điểm cơ chế PPP tại một số dự án hạ tầng trọng điểm. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho từng loại dự án. Khuyến khích mô hình liên kết chuỗi giá trị nông sản đặc trưng vùng. Áp dụng bài học quốc tế phù hợp với điều kiện thực tế trong nước. Cần thành lập ban điều phối liên vùng để đảm bảo tính liên kết trong triển khai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của việt nam giai đoạn 2010 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nước ta có 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 53 DTTS chiếm khoảng 14,3% dân số cả nước, đồng bào cư trú chủ yếu ở 52 tỉnh, thành phố. Địa bàn dân tộc, miền núi nước ta chiếm ¾ diện tích, là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu và môi trường sinh thái của cả nước. Trong thời kỳ kháng chiến, địa bàn vùng DTTS và MN là chỗ dựa vững chắc, hậu phương lớn để xây dựng lực lượng cách mạng làm nên các chiến thắng vẻ vang của dân tộc, đồng bào DTTS có truyền thống yêu nước, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Trong thời kỳ hiện nay, địa bàn vùng DTTS và MN chủ yếu nằm trải dọc biên giới nối liền nước ta với các nước Trung Quốc, Lào, Căm Pu Chia, là vùng “phên dậu của tổ quốc”, là hàng rào vững chắc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta, vì thế nó có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, KT-XH, ANQP. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đầu tư vào vùng DTTS và MN. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các DTTS và MN nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đăc biệt khó khăn đã có nhiều thay đổi và dần được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể; hạ tầng KT-XH được tăng cường đầu tư; lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn; bản sắc văn hóa các dân tộc được quan tâm bảo tồn và phát triển; ANQP, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Thành tựu trên đây đã thể hiện đường lối nhất quán và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và sự chung tay góp sức của nhân dân cả nước đối với sự nghiệp phát triển KT-XH vùng DTTS và MN.

2 Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vùng DTTS và MN KT- XH vẫn còn chậm phát triển, khoảng cách chênh lệch còn lớn so với các vùng khác trong cả nước, đời sống đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, nhất là vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên cao gấp 1,5 đến 2 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước, mức hưởng thụ các tiến bộ xã hội và mức sống của đồng bào DTTS ngày càng doãng xa so với mặt bằng chung của cả nước; chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực rất thấp, phần lớn người trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở năng lực, trình độ còn nhiều bất cập chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc còn hạn chế; kết cấu hạ tầng không đáp ứng được yêu cầu sản xuất và phát triển; các thế lực thù địch luôn lợi dụng, kích động, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc, tiềm ẩn nhiều bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một trong những nguyên nhân cơ bản của hạn chế nêu trên đó là: thiếu vốn cho đầu tư phát triển, nhất là vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên, vấn đề này đang trở thành lực cản rất lớn cho phát triển KT-XH của Vùng. Với mong muốn góp một phần công sức vào việc tìm ra một số giải pháp huy động mọi nguồn vốn của nền kinh tế, trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, nhằm tăng cường nguồn lực đầu tư phát triển KT-XH và tạo thêm thực lực cho kinh tế Nhà nước, giúp Chính phủ, ngành, địa phương thực hiện việc quản lý, phân bổ, điều tiết vốn đầu tư vào ngành, lĩnh vực, vùng theo định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển KT-XH đất nước nói chung, vùng DTTS và MN nói riêng. Vấn đề nêu trên, không phải là trăn trở của riêng tôi, mà là mối quan tâm chung của các nhà khoa học, quản lý, các cấp, các ngành từ TW đến địa phương, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để huy động tối đa các nguồn lực đầu tư phát triển KT-XH vùng DTTS và MN nói chung, vùng TD và MN 3 phía Bắc, Tây Nguyên nói riêng, nhằm khai thác tiềm năng sẵn có của Vùng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong nghiên cứu “Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”, Tác giả lựa chọn địa bàn nghiên cứu “Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên của Việt Nam đến năm 2020”, bởi vì, đây là hai vùng đặc trưng nhất vùng DTTS và MN của Việt Nam để làm luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế là phù hợp và rất cần thiết. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Khi bàn về vốn, đầu tư, vốn đầu tư, huy động vốn đầu tư nhiều nhà kinh tế học đã giành nhiều công sức nghiên cứu và đi đến kết luận quan trọng. Xin tóm tắt một số công trình nghiên cứu như sau: Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư, chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Điều này được các nhà kinh tế học chứng minh: Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên” [2]. Sang thể kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền KT-XH, về các vấn đề liên quan trực tiếp đến tích lũy và huy động tích luỹ (huy động vốn) cho đầu tư phát triển; trong tác phẩm “Tư bản”, theo C.

Mác: tích luỹ là quy luật của tái sản xuất mở rộng. Để thực 4 hiện tái sản xuất mở rộng, cần tăng cường các yếu tố đầu vào, tức là phải thực hiện đầu tư vốn. Vậy, theo quan điểm của C. Mác, chúng ta thấy rằng: con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.

Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. Nhà kinh tế học hiện đại John Maynard Keynes, trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, ông đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng: Tức là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư Tiết kiệm = Thu nhập - Tiêu dùng Như vậy: Đầu tư = Tiết kiệm Hay: (I) = (c) [53, tr. Đây là nghiên cứu quan trọng cho chúng ta biết rõ mối quan hệ giữa đầu tư và tiết kiệm; vậy, muốn tăng nguồn vốn đầu tư chúng ta phải có chính sách tiêu dùng và chính sách tiết kiệm phù hợp.

Trong những năm gần đây vùng DTTS và MN đang được các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu tìm hiểu và hỗ trợ đầu tư phát triển KT-XH thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo: Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã triển khai công trình nghiên cứu Phân tích Xã hội Quốc gia dân tộc và phát triển ở Việt Nam [77] tập trung vào vấn đề “Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam”, tìm ra nguyên nhân của tình trạng liên tục nghèo ở các DTTS. Nghiên cứu kết luận: “có 6 “trụ cột” bất lợi cụ thể giúp lý giải vì sao các DTTS vẫn nghèo hơn so với dân tộc Kinh cùng sinh sống trên cùng địa bàn. Sáu nhân tố cơ bản này bao gồm: trình độ giáo dục 5 thấp hơn; tính di chuyển kém hơn; ít tiếp cận các dịch vụ tài chính hơn; ít đất sản xuất hơn; tiếp cận thị trường thấp hơn; và lối suy nghĩ rập khuôn cũng như các rào cản văn hoá khác”. Ở phương diện tiếp cận tín dụng và dịch vụ tài chính đối với người DTTS nghiên cứu cho rằng: “tiếp cận tín dụng ở mức độ và thời điểm thích hợp có thể giúp các hộ gia đình người DTTS tự thoát ra khỏi cảnh nghèo với điều kiện có những lựa chọn đầu tư tốt và sử dụng đồng vốn sáng suốt… Việc cấp tín dụng cho các vùng DTTS là rất cấp thiết bởi việc thiếu tiếp cận nguồn tín dụng phù hợp có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và đầu tư vào các lĩnh vực mới, như thương mại và dịch vụ, của người DTTS…”.

Từ đó khuyến nghị chính sách dịch vụ tài chính các nội dung chủ yếu: “Cần có những chính sách tín dụng cụ thể hướng tới người DTTS như một nhóm người đặc biệt. Người DTTS cần những lựa chọn đa dạng hơn trong tiếp cận tín dụng. Các hộ gia đình cần có được tiếp cận linh hoạt tới nhiều nguồn tín dụng. Cần áp dụng luật lệ trong hoạt động cho vay tư nhân và thế chấp để bảo vệ những người dễ bị tổn thương”.

Nghiên cứu cho ta những gợi mở quan trọng là cần có chính sách đặc thù về: giáo dục, đất sản xuất, dịch vụ tài chính, thị trường cho người DTTS có điều kiện thuận lợi để phát triển và hội nhập chung với cộng đồng các dân tộc, góp phần phát triển KT-XH vùng DTTS và MN ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ