CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu trong nước 1. Các nghiên cứu đề cập đến tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục Để đánh giá chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục, các nghiên cứu đã tập trung sâu vào quản lý chất lượng, trong đó chất lượng đào tạo và chất lượng đào tạo của các CSGD tại Việt Nam là mối quan tâm của khá nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Hầu hết các tiêu chí đánh giá được xác định thông qua bộ tiêu chí đảm bảo chất lượng do cơ quan quản lý nhà nước ban hành.
Một số công trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến như: Nghiên cứu về chất lượng đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục, các tác giả Phạm Thành Nghị (2000), Vũ Quốc Bình (2003), Nguyễn Văn Ly (2009), Vũ Duy Hiền (2013), Nguyễn Tiến Hùng (2014), Bùi Quang Chuyện (2014), Đỗ Trọng Tuấn (2014), Nguyễn Đức Chính (2015), Trần Khánh Đức (2015), Trịnh Thị Diệu Hằng (2016), Phạm Anh Tuấn (2016), Nguyễn Thị Kim Nhung (2017) đã hệ thống hóa được các khái niệm về chất lượng đào tạo, các mô hình QLCL, các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của các CSGD, kinh nghiệm của các quốc gia trong QLCL đào tạo .; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các CSGD. Phạm Thành Nghị (2000) trong công trình nghiên cứu “Quản lý chất lượng giáo dục đại học” đã nêu lên những vấn đề cơ bản về chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo đại học. Tác giả đã phân tích tổng hợp các trường phái lý thuyết về chất lượng giáo dục: lý thuyết về sự khan hiếm của chất lượng, lý thuyết về sự gia tăng giá trị và lý thuyết về chất lượng xét theo nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo. Đồng thời cũng đã nêu ra những tiêu chí, chuẩn mực, quy trình đánh giá (trong và ngoài) đảm bảo chất lượng giáo dục đại học [22].
Nguyễn Văn Ly (2009), trong công trình nghiên cứu “Quản lý chất lượng đào tạo trong các học viện, trường công an nhân dân”, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề - Kiến thức chuyên môn nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một chuyên môn nghiệp vụ nào đó trong xã hội. Ví dụ: ngành kế toán, quản trị kinh doanh, quản trị nhân lực, marketing…. và nghề nghiệp gồm có: nghề điện, điện tử, mộc, may mặc lí luận, trong đó bao gồm các tiêu chí đánh giá về CLĐT và QLCL đào tạo trong và ngoài nước để vận dụng vào QLCL đào tạo trong các học viện, cơ sở giáo dục Công an nhân dân; xây dựng hệ thống QLCL đào tạo đại học và đề xuất các giải pháp triển khai nhằm nâng cao CLĐT trong các học viện, trường Công an Nhân dân [20]. Nguyễn Tiến Hùng (2014) trong công trình nghiên cứu “Quản lý chất lượng trong giáo dục” dựa trên một số nghiên cứu của tác giả và các công trình nghiên cứu tiêu biểu, cập nhật về chất lượng và quản lý chất lượng giáo dục trong những năm gần đây ở trên thế giới, với những nội dung cụ thể về phản ánh những nội dung cơ bản từ các khái niệm, tầm quan trọng, các kiểu/hình thức đến nguyên tắc và bản chất của chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục.
Tiếp đến tác giả tập trung phân tích mô hình và khung quản lý chất lượng trong giáo dục, từ khái quát các mô hình quản lý chất lượng bên trong, bên ngoài và mô hình tương lai đến khung quản lý cũng như quy trình đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục. Tác giả trình bày và phân tích về chỉ số và đánh giá chất lượng trong giáo dục, thông qua việc phân loại các chỉ số, khung chỉ số và đo/đánh giá chất lượng trong giáo dục của nhà trường phổ thông, cơ sở đào tạo nghề và cơ sở giáo dục đại học và một số nội dung khác. Đây được xem là giáo trình rất hữu ích phục vụ cho tham khảo và nghiên cứu khi thực hiện kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục [5]. Bùi Quang Chuyện (2014) trong công trình nghiên cứu “Đánh giá việc quản lý chất lượng đào tạo các cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ Công Thương” đã tập trung nghiên cứu, khảo sát thực tế đối với cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên các cơ sở giáo dục thuộc Bộ Công Thương về bộ tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng đào tạo.
Đó là sứ mệnh và mục tiêu, chương trình giáo dục, hoạt động đào tạo, quản lý đội ngũ giảng viên, ứng dụng phát triển nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ, - Kiến thức chuyên môn nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một chuyên môn nghiệp vụ nào đó trong xã hội. Ví dụ: ngành kế toán, quản trị kinh doanh, quản trị nhân lực, marketing…. và nghề nghiệp gồm có: nghề điện, điện tử, mộc, may mặc trang thiết bị dạy học. Kết quả khảo sát cho thấy trong 6 tiêu chuẩn nêu trên, tiêu chuẩn về sứ mệnh và mục tiêu là quan trọng nhất.
Nghiên cứu cũng đã đưa ra nguyên tắc lựa chọn và các giải pháp để phát triển, nâng cao việc quản lý chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục thuộc Bộ Công Thương [4]. Đỗ Trọng Tuấn (2014) trong công trình nghiên cứu “Quản lý chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục tư thục khu vực Miền Trung Việt Nam”. Tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về CLĐT và QLCL đào tạo tại các cơ sở giáo dục, đại học tư thục trên thế giới và tại Việt Nam; xác định những bất cập của các cơ sở giáo dục tư thục hiện nay; đề xuất các giải pháp QLCL đào tạo ở các cơ sở giáo dục tư thục bằng việc hoạch định hoàn thiện, nâng cao CLĐT theo AUN; hoàn thiện QLCL theo mô hình đảm bảo chất lượng của AUN. Với nội dung của luận án này, tác giả đã tiếp cận theo hướng đáp ứng yêu cầu CĐR cho sinh viên [28].
Nguyễn Đức Chính (2015) trong công trình nghiên cứu "Quản lý chất lượng trong giáo dục" cho rằng: “QLCL trong GD là một phương thức có công cụ chủ yếu là Bộ chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo và các quy trình thực hiện các tiêu chuẩn đó”. Tác giả cho rằng QLCL thực chất bao gồm các hoạt động sau [6]: + Thiết lập chuẩn; + Đối chiếu thực trạng so với chuẩn; + Xây dựng các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn. Ba hoạt động này được tiến hành đồng thời, liên tục thông qua một hệ thống QLCL. Hệ thống QLCL bao gồm các bộ phận cấu thành bởi: + Danh mục các lĩnh vực cần quản lý (tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo); + Những quy trình thực hiện các công việc để đạt được các chỉ báo, tiêu chí, tiêu chuẩn (danh mục các công việc và bản hướng dẫn thực hiện các công việc).
Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành các bước trong quy trình thực hiện các công việc. Từ đó, tác giả đưa ra quan niệm: “QLCL trong GD là xây dựng và vận hành một hệ thống quản lý (trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí) nhằm tác động vào các điều kiện đảm bảo chất lượng trong tất cả các giai đoạn của quá trình giáo dục, cho tất cả các sản phẩm của cả hệ thống chứ không nhằm vào chất lượng của từng giai đoạn hay từng sản phẩm đơn lẻ”. - Kiến thức chuyên môn nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một chuyên môn nghiệp vụ nào đó trong xã hội. Ví dụ: ngành kế toán, quản trị kinh doanh, quản trị nhân lực, marketing….
và nghề nghiệp gồm có: nghề điện, điện tử, mộc, may mặc Trần Khánh Đức (2015) trong công trình nghiên cứu "Kinh nghiệm và những xu hướng Quốc tế về chất lượng, quản lý cải thiện chất lượng giáo dục đại học tại một số nước Châu Á" đã phân tích kinh nghiệm QLCL của các cơ sở giáo dục của Hoa Kỳ, Thái Lan, Hàn Quốc. Những kinh nghiệm về xây dựng khung đánh giá, chuẩn mực chất lượng, định hướng mục tiêu và trách nhiệm của nhà nước về thực tiễn QLCL [11]. Trịnh Thị Diệu Hằng (2016) trong công trình nghiên cứu “Quản lý quá trình đào tạo đại học liên kết Quốc tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã đề xuất một số biện pháp hoàn thiện hệ thống quản lý quá trình đào tạo đại học theo TQM nhằm đảm bảo và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học liên kết Quốc tế tại đại học Quốc gia Hà Nội [16]. Phạm Anh Tuấn (2016) trong công trình nghiên cứu “Cơ sở lý luận và thực tiễn của tự đánh giá trong QLCL ở trường trung học phổ thông” tác giả đã xác định, làm rõ bản chất tự đánh giá trong đảm bảo chất lượng; chỉ ra các điều kiện thực hiện và tiêu chí, nội dung cơ bản của tự đánh giá trong đảm bảo chất lượng ở trường trung học phổ thông; đề xuất một số biện pháp đổi mới tự đánh giá ở trường trung học phổ thông Việt Nam [35].
Nguyễn Thị Kim Nhung (2017), trong công trình nghiên cứu “Quản lý đào tạo theo hướng đảm bảo chất lượng ở các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc”, tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận về CLĐT và QLĐT theo hướng đảm bảo chất lượng ở trường cao đẳng; đánh giá thực trạng về đào tạo và QLĐT theo hướng đảm bảo chất lượng ở các trường cao đẳng khu vực Tây Bắc; đề xuất các biện pháp QLĐT theo hướng đảm bảo chất lượng ở các trường CĐ khu vực Tây Bắc [21]. Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Chất lượng đào tạo nghề và QLCL đào tạo nghề cũng được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu. Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Đức Trí (2008), Lê Quang Sơn (2009), Nguyễn Đức Trí, Phan Chính Thức (2010), Đoàn Đức Tiến (2012), Ngô Phan Anh Tuấn (2013), Nguyễn Thị Hằng (2013), Nguyễn Chí Trường (2013), Khổng Hữu - Kiến thức chuyên môn nghề nghiệp là kiến thức lý thuyết và thực hành để thực hiện một chuyên môn nghiệp vụ nào đó trong xã hội. Ví dụ: ngành kế toán, quản trị kinh doanh, quản trị nhân lực, marketing….