Luận án: Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam

Tìm hiểu cơ chế kiểm soát quyền công dân của Công Quân Hội CNNND Việt Nam. Phân tích vai trò, chức năng và những quy định pháp lý liên quan đến quản lý quyền

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là quá trình giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quyền con người, quyền công dân của bộ máy hành chính nhà nước. Quá trình này nhằm ngăn ngừa lạm dụng quyền lực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Cơ sở lý luận của vấn đề này xuất phát từ nhiều nguồn triết học chính trị. Montesquieu nhấn mạnh quyền lực cần được kiểm soát để tránh tha hóa. Locke bàn về đặc quyền hành động phục vụ lợi ích công. Rousseau khẳng định chính phủ là cơ thể trung gian giữa nhân dân và quyền lực tối cao. Các quyền công dân bao gồm quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, quyền khiếu nại tố cáo, quyền được bảo đảm về đời sống, giáo dục, y tế. Kiểm soát hoạt động này là biện pháp then chốt để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.1. Khái niệm và bản chất của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống các biện pháp giám sát, đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo các cơ quan hành chính thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong việc bảo đảm quyền của công dân. Bản chất của hoạt động này thể hiện ở mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và trách nhiệm phục vụ nhân dân. Kiểm soát bao gồm nhiều phương thức: kiểm soát nội bộ trong cơ quan hành chính, kiểm soát của cơ quan lập pháp, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nền hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ lợi ích công.

1.2. Sự cần thiết của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Sự cần thiết kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân xuất phát từ bản chất của quyền lực. Quyền lực luôn có xu hướng tha hóa, lạm dụng nếu không được kiểm soát. Cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ quyền lực lớn, trực tiếp tác động đến đời sống công dân. Việc cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện chính sách xã hội đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ. Kiểm soát giúp phát hiện sai sót, xử lý vi phạm, nâng cao trách nhiệm cán bộ công chức. Đồng thời, kiểm soát còn bảo đảm tính minh bạch, công khai trong hoạt động hành chính, củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước.

II. Phân tích thực trạng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân ở Việt Nam

Thực trạng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay có nhiều tiến bộ nhưng vẫn tồn tại hạn chế. Về thể chế, hệ thống pháp luật về quyền công dân ngày càng hoàn thiện với Hiến pháp 2013, Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Tuy nhiên, một số quy định còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Về tổ chức thực hiện, các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã phát huy vai trò giám sát. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện chức năng giám sát hoạt động hành chính. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia phản biện xã hội. Đánh giá chung cho thấy hiệu quả kiểm soát chưa đạt kỳ vọng. Tình trạng vi phạm quyền công dân vẫn xảy ra ở một số lĩnh vực đất đai, môi trường, bồi thường thiệt hại. Năng lực cán bộ thực thi pháp luật còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp.

2.1. Thực trạng thể chế kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Thể chế kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đã được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc. Hiến pháp 2013 dành chương riêng quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các đạo luật như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Phòng chống tham nhũng tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm soát. Nghị định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn mở rộng quyền tham gia giám sát của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính hệ thống, một số quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được tiến hành qua nhiều kênh. Cơ quan thanh tra nhà nước thực hiện thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại. Kiểm toán nhà nước giám sát tài chính công. Hội đồng nhân dân tổ chức chất vấn, giám sát chuyên đề. Tòa án nhân dân xét xử các vụ việc hành chính. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện còn bất cập. Năng lực cán bộ thanh tra, kiểm tra chưa đồng đều. Việc phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát còn lỏng lẻo. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tại một số địa phương còn hình thức. Dân chủ cơ sở chưa được phát huy đầy đủ.

III. Giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước

Để tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền công dân, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi. Xây dựng cơ chế giám sát độc lập, nâng cao vai trò của cơ quan lập pháp và tư pháp trong kiểm soát hành chính. Tăng cường minh bạch hóa hoạt động hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Nâng cao năng lực, trách nhiệm cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và báo chí. Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo, người khiếu nại. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát hoạt động hành chính. Giáo dục, tuyên truyền pháp luật nâng cao nhận thức của công dân về quyền và nghĩa vụ.

3.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật về kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Hoàn thiện thể chế pháp luật là giải pháp nền tảng để tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến quyền công dân, bảo đảm tính hệ thống, thống nhất. Xây dựng Luật Kiểm soát hoạt động hành chính, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể kiểm soát. Hoàn thiện cơ chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả. Quy định cụ thể trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính khi để xảy ra vi phạm quyền công dân. Nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm khả thi trong thực tiễn.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kiểm soát: thanh tra, kiểm toán, tòa án, viện kiểm sát. Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý phản ánh của công dân. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo phục vụ phân tích, đánh giá. Tăng cường đối thoại giữa cơ quan hành chính và công dân trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền công dân.

IV. Kết luận và ứng dụng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân trong thực tiễn

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát đã hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Vấn đề cốt lõi nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa thể chế và thực tiễn thực hiện. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực cán bộ, phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Kiểm soát tốt hoạt động bảo đảm quyền công dân sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố niềm tin vào bộ máy nhà nước. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho việc hoạch định chính sách, cải cách hành chính và đào tạo cán bộ quản lý công. Ứng dụng thực tiễn bao gồm xây dựng mô hình kiểm soát hiệu quả tại các cơ quan hành chính địa phương.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Về mặt lý luận, nghiên cứu kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước làm sáng tỏ bản chất, phương thức và điều kiện kiểm soát. Nghiên cứu tổng hợp quan điểm của các nhà tư tưởng chính trị từ Locke, Montesquieu đến Rousseau về kiểm soát quyền lực. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế giám sát. Nghiên cứu giúp đánh giá đúng thực trạng, xác định nguyên nhân hạn chế và đề xuất giải pháp khả thi. Giá trị của công trình nằm ở tính hệ thống, toàn diện trong tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền công dân trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân trong thực tiễn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đề xuất cho thực tiễn. Thứ nhất, các cơ quan hành chính cần xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ đối với hoạt động bảo đảm quyền công dân. Thứ hai, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ công chức trong thực thi pháp luật. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, đánh giá hoạt động hành chính. Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong phản biện xã hội. Thứ năm, xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo, khuyến khích công dân tham gia giám sát. Thứ sáu, thường xuyên tổ chức khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của công dân đối với dịch vụ hành chính công.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - Giới thiệu về chính trị toàn cầu với các lý thuyết về chính trị toàn cầu, quan hệ quốc tế và toàn cầu hóa, các vấn đề về nhà nước - quốc gia, tôn giáo, xã hội; Chương 3 - Các lý thuyết về chính trị toàn cầu bàn đến các nội dung về hiện thực, tự do, chủ nghĩa tự do trong thực tiễn, toàn cầu hóa, lý thuyết nữ quyền, chính sách đối ngoại; Chương 5 - Luật quốc tế và các chủ thể nói về việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, quá trình cải cách Liên 16 hiệp quốc, Liên minh châu Âu, quá trình hội nhập châu Âu, Liên minh châu Phi, sự phát triển của xã hội dân sự toàn cầu, các tổ chức phi chính phủ, các tổng công ty đa quốc gia; Chương 7 - Nhân quyền và an ninh con người với các nội dung nhân quyền là gì, nguồn gốc khái niệm nhân quyền, tự do nhân quyền, pháp luật nhân quyền quốc tế, an ninh con người. Hai tác giả Harold Koontz và Cyril O'Donnell trong cuốn sách “Nguyên tắc quản trị” [53] đã dành cả Phần Sáu (gồm 4 chương) để nói về kiểm soát. Hai ông đã bàn đến các vấn đề: Diễn trình kiểm soát (điều kiện kiểm soát, tầm quan trọng của kiểm soát, các phương pháp kiểm soát…); Những kỹ thuật kiểm soát mới (kỹ thuật tín dụng, hệ thống tiếp vận, đo lường những biến cố nhân sự…); Sự kiểm soát công việc toàn bộ (bản đúc kết và báo cáo ngân sách, kiểm soát bằng tiền lời, kiểm soát qua những lãnh vực chủ yếu…); Kiểm soát phẩm chất quản trị (kiểm soát gián tiếp, kiểm soát trực tiếp, kiểm soát quản trị…). Trong đó, các tác giả đã liệt kê 7 nguyên tắc mà các nhà quản trị phải tuân theo khi xây dựng cơ chế kiểm tra.

Cũng trong cuốn sách “Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội” [81] đã nêu ở trên, hai tác giả N. Davletshina đã dành nhiều chương để viết về nhà nước và chính quyền (Chương 4), về bầu cử - cơ chế thực thi dân chủ quan trọng (Chương 5), về chế độ liên bang và các hình thức tổ chức nhà nước khác (Chương 6) và về các đảng chính trị và tổ chức xã hội (Chương 7). Trong cuốn sách này, có rất nhiều những luận điểm có giá trị tham khảo lớn về quyền lực và sự kiểm soát quyền lực dưới góc nhìn của những học giả người Nga. Tình hình nghiên cứu về kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước 1.

Tình hình nghiên cứu trong nước về kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Cuốn “Phân cấp quản lý nhà nước” [94] của các tác giả Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Chí có bài “Cơ chế kiểm soát chính quyền địa phương tại Việt Nam” của tác giả Phạm Duyên Thảo. Bài viết đã luận giải khái niệm cơ chế kiểm soát chính quyền địa phương là: “tập hợp 17 những thành tố, hình thức, các mối quan hệ, các thiết chế, các cách thức… mà qua đó thực hiện việc xem xét, đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, đảm bảo cho các bộ phận, hoạt động của các bộ phận đó tuân theo đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lực thực sự của dân, do dân, vì dân, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của nhân dân” [94, tr. Bài viết cũng trình bày thực trạng, đánh giá nguyên nhân của những hạn chế, chỉ ra các yếu tố chi phối cơ chế kiểm soát và khảo sát kinh nghiệm kiểm soát chính quyền địa phương một số nước. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế kiểm soát chính quyền địa phương tại Việt Nam, bao gồm: phát huy dân chủ, tận dụng tích cực vai trò phản biện xã hội; bố trí hợp lý cơ cấu chính quyền địa phương; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các chủ thể kiểm soát; tăng cường tính chịu trách nhiệm, tính minh bạch trong hoạt động giám sát.

Luận án tiến sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Minh Hội đã làm rõ các nội dung: Khái niệm, nội dung điều chỉnh và vai trò của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN; Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN; Pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở một số nước trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam; Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam; Thực trạng pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam hiện hành; Quan điểm hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam hiện nay; Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát của nhân dân đối với CQHCNN ở Việt Nam hiện nay. Cũng trong bài “Kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” [76] đăng ở Tạp chí Quản lý nhà nước nêu trên, tác giả Đinh Văn Mậu đã gợi mở vấn đề kiểm soát tính “trội” của quyền hành pháp. Tính “trội” của hệ thống Chính phủ, bộ và chính quyền địa phương thể hiện ở các phương diện: hành pháp tạo thành một hệ thống từ trung ương xuống cơ sở; hành pháp tác động quyền lực bằng lập quy và bằng tác động 18 quyền lực trực tiếp; hành pháp có hệ thống thẩm quyền rộng lớn; trong hành pháp, dù có tăng cường dân chủ đến đâu thì quyền quyết định cũng thuộc về người đứng đầu. Từ đó, tác giả nhận định: cần dùng quyền kiểm soát “bao vây” nền hành chính từ trung ương xuống địa phương và kiểm soát chặt chẽ người đứng đầu các cơ quan hành pháp.

Bài viết còn đề cập tới vấn đề kiểm soát quyền hành pháp trong trường hợp dân khiếu kiện đòi bồi thường thiệt hại do công quyền gây ra. Theo đó, việc tồn tại một thiết chế tài phán hành chính là hợp lý, hợp pháp và cần triển khai ngay. Thiết chế này “sẽ kiểm soát tốt hơn đối với quyền hành pháp trong thực hiện thẩm quyền bảo đảm, bảo vệ tự do, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân do công quyền xâm hại mà có” [76, tr. Nó sẽ tạo thêm quyền phán quyết độc lập đối với việc ra quyết định hành chính và thực hiện hành vi hành chính của cơ quan hành pháp.

Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương trong bài “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của nhánh quyền hành pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền” [86] trên Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đã đề cập trực tiếp đến vấn đề kiểm soát quyền hành pháp. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ triển khai nghiên cứu vấn đề với quy mô hạn chế trong khuôn khổ một bài báo. Tác giả cũng không đi sâu vào các vấn đề lý luận mà chỉ tập trung đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát loại quyền lực này. Cụ thể, việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Chính phủ cần được triển khai theo các hướng sau: Tăng cường sự kiểm soát của lập pháp đối với hành pháp; Kiểm soát quyền lực của Tòa án Hiến pháp đối với hành pháp; Nâng cao vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) đối với hoạt động Chính phủ; Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực của nhân dân.

Tình hình nghiên cứu ngoài nước về kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Cuốn “Handbook of public administration” (tạm dịch: Sổ tay về hành chính công) [118] của tác giả James L. Perry gồm 42 bài viết của các học giả quốc tế. Trong đó, có nhiều bài đáng chú ý có liên quan đến vấn đề hoạt động của CQHCNN: “Enhancing Accountability” (tạm dịch: Tăng cường trách nhiệm) của Barbara S. Romzek; “Developing Effective Relations with 19 Legislatures” (tạm dịch: Phát triển sự hợp tác hiệu quả với các cơ quan lập pháp) của Anne M.

Khademian; “Empowering Citizens” (tạm dịch: Trao quyền cho công dân) của John Parr và David Lampe; “Designing effective Programs” (tạm dịch: Thiết kế chương trình có hiệu quả) của Carson K. Eoyang và Peter D. Spencer; “Implementing Public Programs” (tạm dịch: Thực hiện chương trình công cộng) của Laurence J. O'Toole, Jr; “Managing Contracts and Grants” (tạm dịch: Quản lý hợp đồng và tài trợ) của Rosemary O'Leary; “Enhancing Employee Performance” (tạm dịch: Tăng cường hiệu suất của nhân viên) của Lois Recascino Wise; “Tracking the Quality of Services” (tạm dịch: Theo dõi chất lượng của dịch vụ) của Harry P.

Hatry; “Evaluating Public Programs” (tạm dịch: Đánh giá các chương trình công cộng) của Kathryn E. Cuốn “Modern politics and government” (tạm dịch: Chính trị và chính phủ hiện đại) [115] của hai tác giả Alan R. Guy Peters đã bàn về bản chất của vấn đề thông qua 4 phần lớn: Part I. The nature of politics (tạm dịch: Phần I.

Bản chất của chính trị); Part II. Parties, pressure groups and representation (tạm dịch: Phần II. Các đảng phái, nhóm gây áp lực và đại diện); Part III. Structures of government (tạm dịch: Phần III.

Cấu trúc của chính phủ); Part IV. Political change (tạm dịch: Phần IV. Sự thay đổi chính trị). Những luận bàn về chính trị nằm ở các nội dung: Vấn đề nghiên cứu chính trị và thực tiễn chính trị; Chính trị, quyền lực và quyền hạn; Văn hoá chính trị; Đảng chính trị; Các nhóm gây áp lực; Đại diện, bầu cử và hành vi bầu cử… Phần liên quan trực tiếp đến vấn đề của Luận án được đề cập đến trong phần Cơ cấu của chính phủ với các nội dung: Sự phân phối quyền lực; Phân loại các chính phủ (mục tiêu phân loại; các vấn đề phân loại; hệ thống phân loại); Hội đồng (bản chất của hội đồng; quan hệ điều hành; chức năng lập pháp; chức năng đại diện; tổ chức nội bộ); Điều hành chính trị (giám đốc điều hành - tổng thống, thủ tướng; nguồn gốc và sự ổn định của các giám đốc điều hành; chức năng và quyền hạn của giám đốc điều hành); Bộ máy hành chính công (phạm vi quản lý của chính phủ; cấu trúc; chức năng; kiểm soát của bộ máy; thay đổi 20 bộ máy hành chính); Bản chất của luật pháp, các chức năng của ngành tư pháp và kiểm soát của ngành tư pháp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ