Luận án: Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước Việt Nam

Trường đại học

Học Viện Hành Chính Quốc Gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là quá trình giám sát, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quyền con người, quyền công dân của bộ máy hành chính nhà nước. Quá trình này nhằm ngăn ngừa lạm dụng quyền lực, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Cơ sở lý luận của vấn đề này xuất phát từ nhiều nguồn triết học chính trị. Montesquieu nhấn mạnh quyền lực cần được kiểm soát để tránh tha hóa. Locke bàn về đặc quyền hành động phục vụ lợi ích công. Rousseau khẳng định chính phủ là cơ thể trung gian giữa nhân dân và quyền lực tối cao. Các quyền công dân bao gồm quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước, quyền khiếu nại tố cáo, quyền được bảo đảm về đời sống, giáo dục, y tế. Kiểm soát hoạt động này là biện pháp then chốt để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.1. Khái niệm và bản chất của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là hệ thống các biện pháp giám sát, đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo các cơ quan hành chính thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong việc bảo đảm quyền của công dân. Bản chất của hoạt động này thể hiện ở mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và trách nhiệm phục vụ nhân dân. Kiểm soát bao gồm nhiều phương thức: kiểm soát nội bộ trong cơ quan hành chính, kiểm soát của cơ quan lập pháp, tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng nền hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ lợi ích công.

1.2. Sự cần thiết của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Sự cần thiết kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân xuất phát từ bản chất của quyền lực. Quyền lực luôn có xu hướng tha hóa, lạm dụng nếu không được kiểm soát. Cơ quan hành chính nhà nước nắm giữ quyền lực lớn, trực tiếp tác động đến đời sống công dân. Việc cung cấp dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện chính sách xã hội đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ. Kiểm soát giúp phát hiện sai sót, xử lý vi phạm, nâng cao trách nhiệm cán bộ công chức. Đồng thời, kiểm soát còn bảo đảm tính minh bạch, công khai trong hoạt động hành chính, củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước.

II. Phân tích thực trạng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân ở Việt Nam

Thực trạng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay có nhiều tiến bộ nhưng vẫn tồn tại hạn chế. Về thể chế, hệ thống pháp luật về quyền công dân ngày càng hoàn thiện với Hiến pháp 2013, Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo. Tuy nhiên, một số quy định còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Về tổ chức thực hiện, các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã phát huy vai trò giám sát. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện chức năng giám sát hoạt động hành chính. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia phản biện xã hội. Đánh giá chung cho thấy hiệu quả kiểm soát chưa đạt kỳ vọng. Tình trạng vi phạm quyền công dân vẫn xảy ra ở một số lĩnh vực đất đai, môi trường, bồi thường thiệt hại. Năng lực cán bộ thực thi pháp luật còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp.

2.1. Thực trạng thể chế kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Thể chế kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam đã được xây dựng trên nền tảng pháp lý vững chắc. Hiến pháp 2013 dành chương riêng quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các đạo luật như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Phòng chống tham nhũng tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm soát. Nghị định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn mở rộng quyền tham gia giám sát của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính hệ thống, một số quy định chưa rõ ràng, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam được tiến hành qua nhiều kênh. Cơ quan thanh tra nhà nước thực hiện thanh tra hành chính, giải quyết khiếu nại. Kiểm toán nhà nước giám sát tài chính công. Hội đồng nhân dân tổ chức chất vấn, giám sát chuyên đề. Tòa án nhân dân xét xử các vụ việc hành chính. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện còn bất cập. Năng lực cán bộ thanh tra, kiểm tra chưa đồng đều. Việc phối hợp giữa các cơ quan kiểm soát còn lỏng lẻo. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tại một số địa phương còn hình thức. Dân chủ cơ sở chưa được phát huy đầy đủ.

III. Giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước

Để tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền công dân, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi. Xây dựng cơ chế giám sát độc lập, nâng cao vai trò của cơ quan lập pháp và tư pháp trong kiểm soát hành chính. Tăng cường minh bạch hóa hoạt động hành chính, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Nâng cao năng lực, trách nhiệm cán bộ công chức trong thực thi nhiệm vụ. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và báo chí. Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo, người khiếu nại. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát hoạt động hành chính. Giáo dục, tuyên truyền pháp luật nâng cao nhận thức của công dân về quyền và nghĩa vụ.

3.1. Giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật về kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Hoàn thiện thể chế pháp luật là giải pháp nền tảng để tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến quyền công dân, bảo đảm tính hệ thống, thống nhất. Xây dựng Luật Kiểm soát hoạt động hành chính, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể kiểm soát. Hoàn thiện cơ chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng đơn giản, nhanh chóng, hiệu quả. Quy định cụ thể trách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính khi để xảy ra vi phạm quyền công dân. Nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm khả thi trong thực tiễn.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kiểm soát: thanh tra, kiểm toán, tòa án, viện kiểm sát. Phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý phản ánh của công dân. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo phục vụ phân tích, đánh giá. Tăng cường đối thoại giữa cơ quan hành chính và công dân trong giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền công dân.

IV. Kết luận và ứng dụng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân trong thực tiễn

Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy hệ thống kiểm soát đã hình thành nhưng chưa phát huy đầy đủ hiệu quả. Vấn đề cốt lõi nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa thể chế và thực tiễn thực hiện. Cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực cán bộ, phát huy vai trò giám sát của nhân dân. Kiểm soát tốt hoạt động bảo đảm quyền công dân sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố niềm tin vào bộ máy nhà nước. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho việc hoạch định chính sách, cải cách hành chính và đào tạo cán bộ quản lý công. Ứng dụng thực tiễn bao gồm xây dựng mô hình kiểm soát hiệu quả tại các cơ quan hành chính địa phương.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân

Về mặt lý luận, nghiên cứu kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước làm sáng tỏ bản chất, phương thức và điều kiện kiểm soát. Nghiên cứu tổng hợp quan điểm của các nhà tư tưởng chính trị từ Locke, Montesquieu đến Rousseau về kiểm soát quyền lực. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế giám sát. Nghiên cứu giúp đánh giá đúng thực trạng, xác định nguyên nhân hạn chế và đề xuất giải pháp khả thi. Giá trị của công trình nằm ở tính hệ thống, toàn diện trong tiếp cận vấn đề kiểm soát quyền công dân trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay.

4.2. Khuyến nghị ứng dụng kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân trong thực tiễn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đề xuất cho thực tiễn. Thứ nhất, các cơ quan hành chính cần xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ đối với hoạt động bảo đảm quyền công dân. Thứ hai, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ công chức trong thực thi pháp luật. Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, đánh giá hoạt động hành chính. Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong phản biện xã hội. Thứ năm, xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo, khuyến khích công dân tham gia giám sát. Thứ sáu, thường xuyên tổ chức khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của công dân đối với dịch vụ hành chính công.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRẦN QUỐC VIỆT KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG HÀ NỘI, NĂM 2017 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA TRẦN QUỐC VIỆT KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 62 34 04 03 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1. Chu Xuân Khánh HÀ NỘI, 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả số liệu nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố. Tác giả Luận án Trần Quốc Việt II DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BĐQCD: Bảo đảm quyền công dân CQHCNN: Cơ quan hành chính nhà nước HĐND: Hội đồng nhân dân KTNN: Kiểm toán nhà nước MTTQ: Mặt trận Tổ quốc TAND: Tòa án nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân UBTV: Ủy ban thường vụ VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật XHCN: Xã hội chủ nghĩa III MỤC LỤC MỞ ĐẦU . TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN . Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án. Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án và những vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu . 23 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC . Hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước . Khái niệm, chủ thể và nội dung kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước . Phương thức kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước . Sự cần thiết, yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước. Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở một số nước và những giá trị tham khảo cho Việt Nam . THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY . Thực trạng thể chế kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay . Thực trạng tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay . Đánh giá chung về kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay . 107 IV CHƯƠNG 4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM QUYỀN CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY . Phương hướng tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước . Giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước . 158 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ . 160 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài Quyền lực luôn có xu hướng tha hoá. Ở đâu có quyền lực thì ở đó có thể có sự lạm dụng quyền lực. Giới cầm quyền bên cạnh việc sử dụng quyền lực để quản lý, để đem lại những lợi ích chung thì cũng dùng quyền lực để phục vụ những nhu cầu tự thân, thu lợi cho cá nhân mình. Quyền lực càng cao thì nguy cơ lạm quyền càng lớn. Mặt khác, con người luôn có “một khát vọng không ngừng đối với quyền lực” (Thomas Hobbes) [124, tr.161], thế lực cầm quyền luôn củng cố địa vị thống lĩnh của mình. Quyền lực tự bản thân nó luôn có xu hướng giãn nở, bành trướng. Điều này dẫn đến vượt quyền, thậm chí là lộng quyền. Mặc dù là một loại quyền lực đặc biệt nhưng quyền lực nhà nước cũng không vượt ra ngoài các quy luật trên. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước là một nhu cầu cần thiết, khách quan. Trong đó, kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) có ý nghĩa quan trọng, là trọng tâm của kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước. Bởi lẽ chính phủ là trung tâm của bộ máy nhà nước. Chính phủ mạnh thì nhà nước mạnh. Có học giả nói: “chính phủ mới là một nhà nước ở nghĩa đen và hẹp nhất của nhà nước” [25, tr. Có thể thấy, trong ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, quyền hành pháp mang tính “trội” nhất. Hoạt động thực thi quyền hành pháp có sức tác động mạnh nhất, nhanh nhất tới xã hội. Mọi quyết sách xuất phát từ các CQHCNN có tác động trực diện và tác động ngay tới đời sống xã hội, thậm chí có thể tính bằng giờ, bằng phút (ví dụ: sự điều chỉnh giá xăng dầu). Mặt khác, sức mạnh của hoạt động thực thi quyền hành pháp thể hiện ở tầm ảnh hưởng tới ngay cả hoạt động thực thi quyền lập pháp và hoạt động thực thi quyền tư pháp (công tác lập pháp của Quốc hội bị chi phối rất nhiều từ việc trình dự án luật của Chính phủ và chất lượng công tác xét xử của Toà án lại phụ thuộc rất lớn vào hoạt động điều tra và truy tố của hành pháp). Vì vậy, đồng thời với việc đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của CQHCNN thì vấn đề kiểm soát hoạt động của loại cơ quan này cũng ngày càng trở nên cấp thiết. 1 Bên cạnh đó, trong nhà nước pháp quyền, công dân và nhà nước có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, quyền công dân ngày càng được mở rộng. Bằng sự thực thi quyền lực của mình, nhà nước tiến hành các hoạt động bảo đảm quyền công dân (BĐQCD). Trong đó, thông qua hoạt động kiến tạo các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và pháp lý, bộ máy hành chính nhà nước bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền của mình một cách thường xuyên và trực tiếp nhất. Chính vì vậy, cần thiết phải kiểm soát cả hoạt động này để thúc đẩy bộ máy hành pháp hoàn thành trách nhiệm và để chống sự lạm quyền, vượt quyền trong quá trình tạo dựng một môi trường thuận lợi cho công dân thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản và thiêng liêng nhất của mình. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN chưa được giới học thuật nghiên cứu sâu, chưa được quy định rõ ràng, cụ thể về mặt pháp lý và trên thực tế, hoạt động này còn nhiều mặt hạn chế. Cụ thể: - Về mặt cơ sở lý luận, chưa có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và có chiều sâu về kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN. Các vấn đề về khái niệm và phương thức kiểm soát hoạt động này chưa được lý giải thấu đáo. - Về mặt cơ sở pháp lý, nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước đã được thể chế hóa thành nguyên tắc hiến định nhưng chưa được cụ thể hóa đầy đủ trong các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình tổ chức thực hiện. - Về mặt cơ sở thực tiễn, cơ chế kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở nước ta đã được hình thành, vận hành và đang từng bước được hoàn thiện. Tuy nhiên, cơ chế này vẫn còn nhiều bất cập, chất lượng và hiệu quả thấp. Kết quả kiểm soát chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra và chưa đạt được kỳ vọng của toàn xã hội. Vì vậy, đề tài “Kiểm soát hoạt động bảo đảm quyền công dân của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay” được chọn cho Luận án tiến sĩ của tác giả với mong muốn làm rõ hơn những vấn đề lý luận về kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN nhằm đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường công tác này, góp phần nâng cao chất 2 lượng kiểm soát hoạt động của cơ quan nhà nước và đóng góp vào công cuộc cải cách nền hành chính Việt Nam. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở Việt Nam hiện nay, mục đích của Luận án là đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường công tác này. Để đạt mục đích trên, những nhiệm vụ đặt ra là: - Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài Luận án, đánh giá tổng quan về nội dung, mức độ của các công trình đó và rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đối với Luận án. - Nghiên cứu lý luận về kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN và tìm hiểu kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở một số nước trên thế giới; - Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở Việt Nam hiện nay; - Nghiên cứu, đề xuất phương hướng và giải pháp tăng cường kiểm soát hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của Luận án là sự kiểm soát một cách có hiệu quả hoạt động BĐQCD của CQHCNN ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu của Luận án: - Về nội dung: Luận án nghiên cứu sự kiểm soát do nhà nước và xã hội tiến hành đối với hoạt động BĐQCD của CQHCNN. Cụ thể, đó là (1) sự kiểm soát mang tính quyền lực nhà nước (bao gồm: giám sát của Quốc hội; giám sát của Hội đồng nhân dân; giám sát của Tòa án nhân dân; kiểm toán của Kiểm toán nhà nước; kiểm tra, thanh tra trong hệ thống CQHCNN) và (2) sự kiểm soát mang tính xã hội (bao gồm: kiểm tra, giám sát của Đảng Cộng sản Việt Nam; giám sát của các tổ chức, hiệp hội quần chúng; giám sát của công luận; giám sát của cá nhân công dân). - Về không gian: Luận án nghiên cứu vấn đề trên phạm vi cả nước. 3 - Về thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề trong phạm vi thời gian từ năm 2011 đến nay. Đó là khoảng thời gian bao trọn nhiệm kỳ từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ