phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì Luận án cấu trúc gồm 3 chương: - Chương 1. Những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự - Chương 2. Quy định BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 về khởi tố vụ án hình sự 20 - Chương 3. Thực tiễn khởi tố vụ án hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả khởi tố vụ án hình sự 3.
Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận 3. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để phân tích và làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu. Quá trình nghiên cứu đề tài được thực hiện trên cơ sở gắn liền lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Lý luận và phương pháp luận này đòi hỏi quá trình phân tích, đánh giá, so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước, các kết luận đưa ra không thể mang tính chất khen hay chê mà chỉ là sự khác biệt hay tương đồng.
Những sự khác biệt hay tương đồng này phải được đánh giá trong bối cảnh lịch sử cụ thể của từng giai đoạn hình thành, phát triển của hiện tượng pháp luật này. Trong quá trình nghiên cứu, Luận án vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về cải cách tư pháp, nhằm bảo đảm các kết quả nghiên cứu và các đề xuất kiến nghị phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Các vấn đề trong Luận án được phân tích, lý giải trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát xã hội học, phỏng vấn chuyên gia, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. nhằm giải quyết các mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án.
Các phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp được sử dụng khi phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, so sánh với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn, từ đó tìm ra ưu điểm cũng như những hạn chế bất cập của chúng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật. Các số liệu giải quyết án hàng năm, điều tra xã hội học, thông tin về tình hình giải quyết 21 án từ báo cáo công tác, thông báo rút kinh nghiệm và phương tiện thông tin đại chúng sẽ được tổng hợp, phân tích, nghiên cứu, làm cơ sở cho đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn. Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu - Luận án kế thừa (có chọn lọc, phân tích, đánh giá) các kết quả nghiên cứu đã được công bố trước đó với mục đích bổ sung, hoàn thiện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án. - Luận án tiếp cận nghiên cứu các quy định của luật thực định liên quan đến đề tài để làm rõ những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự cũng như những thiếu sót, hạn chế, vướng mắc của quy định này trong quá trình nhận thức và áp dụng.
- Luận án tiếp cận thực tiễn thông qua việc nghiên cứu số liệu giải quyết án hàng năm, thông tin từ báo cáo công tác và thông báo rút kinh nghiệm trong giải quyết án của của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh và Trung ương, thông tin về vụ án đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua khảo sát tại các địa phương và phỏng vấn những người tiến hành tố tụng hoặc trực tiếp nghiên cứu các hồ sơ vụ án. - Các kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ được thực hiện trên cơ sở gắn kết chặt chẽ pháp luật thực định với các lý thuyết khoa học, gắn kết chặt chẽ lý luận và thực tiễn cuộc sống nói chung, thực tiễn áp dụng pháp luật nói riêng. Cách tiếp cận này cho phép đánh giá tính phù hợp, tính tương thích của các quy định pháp luật với lý luận và thực tiễn. Kết cấu các chương mục của Luận án phản ánh hướng tiếp cận này.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khởi tố vụ án hình sự - giai đoạn độc lập của Tố tụng hình sự 1. Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là bằng những trình tự và thủ tục luật định phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội. Đó là nhiệm vụ trọng tâm cũng đồng thời là mục đích của tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động phức tạp, gắn liền với việc phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội. Hoạt động đó liên quan trực tiếp đến các quyền, lợi ích hợp pháp của con người. Vì vậy, nhiệm vụ trọng tâm, mục đích của tố tụng hình sự không thể đạt được bằng mọi giá; hoạt động tố tụng hình sự phải được giới hạn trong những phạm vi nhất định. Mục đích tố tụng được thực hiện phải trên cơ sở không chỉ không bỏ lọt tội phạm, mà quan trọng hơn là không làm oan người không có tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Vì vậy, không ngẫu nhiên mà BLTTHS quy định mục đích, nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm; phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người không có tội; bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tố chức, cá nhân. Để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tố tụng, đạt được mục đích tố tụng nêu trên, BLTTHS quy định trình tự, thủ tục toàn bộ quá trình tố tụng qua từng giai đoạn gắn liền với hoạt động phong phú của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng và hoạt động của người tham gia tố tụng khác. Trình tự, thủ tục đó tạo ra khả năng tối ưu cho việc thực hiện mục đích tố tụng đối với việc xử lý vụ án nói chung và mục đích, nhiệm vụ trực tiếp của từng giai đoạn tố tụng nói riêng. 23 Nghiên cứu BLTTHS nước ta cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, chúng tôi thấy rằng dù cơ cấu của Bộ luật có khác nhau, các phân chia các giai đoạn tố tụng có khác nhau, nhưng có những điểm giống nhau nhất định.
Theo pháp luật tố tụng của các quốc gia thì giai đoạn tố tụng được quy định như là một phần độc lập tương đối của tố tụng hình sự, có những đặc điểm sau: Thứ nhất, mỗi giai đoạn tố tụng có những nhiệm vụ tố tụng nhất định. Nhiệm vụ chung cơ bản của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự là phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn, khách quan, công minh tội phạm. Tuy nhiên, để hoàn thành được nhiệm vụ chung đó, quá trình tố tụng được thực hiện qua các giai đoạn khác nhau; mỗi giai đoạn có nhiệm vụ cụ thể riêng của mình: nhiệm vụ giai đoạn khởi tố vụ án là xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án; nhiệm vụ giai đoạn điều tra là xác định các tình tiết của tội phạm và người phạm tội để ra quyết định khởi tố bị can, kết thúc điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra… Mỗi giai đoạn tố tụng là một phần độc lập tương đối, nhìn chung được giới hạn bằng thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Tuy nhiên, các giai đoạn tố tụng không chỉ nối tiếp nhau một cách đơn thuần, mà có mối liên kết tố tụng qua lại, tạo điều kiện và kiểm tra lẫn nhau một cách hệ thống.
Giai đoạn trước là điều kiện làm phát sinh giai đoạn sau; giai đoạn tố tụng tiếp theo chỉ được thực hiện khi nhiệm vụ giai đoạn trước đã được hoàn thành và giai đoạn sau kiểm tra tính đúng đắn, khách quan kết quả tố tụng của giai đoạn tố tụng trước. Thứ hai, mỗi giai đoạn có những cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng xác định. Khối lượng, phạm vi, quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể quan hệ tố tụng cũng khác nhau trong mỗi giai đoạn. Trong giai đoạn điều tra vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng chính là cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra; còn Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện việc kiểm sát điều tra.
Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm 24 sát là cơ quan tiến hành tố tụng chính. Trong giai đoạn xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng chính là Tòa án; Viện kiểm sát thực hiện việc kiểm sát xét xử và thực hành quyền công tố tại phiên tòa v.v… Những người tham gia tố tụng cũng có sự khác nhau trong từng giai đoạn tố tụng: trong giai đoạn khởi tố vụ án có thể chưa có hoặc có người bị nghi thực hiện tội phạm; trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, đặc biệt là giám đốc thẩm, tái thẩm người tham gia tố tụng lại càng hẹp hơn. Ngay đối với cùng một người tham gia tố tụng thì trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, địa vị tố tụng cũng khác nhau tùy theo nhiệm vụ, bản chất của mỗi giai đoạn. Ví dụ, người bị tạm giữ có địa vị pháp lý khác với bị can trong giai đoạn điều tra; bị can trong giai đoạn điều tra, truy tố có quyền và nghĩa vụ tố tụng khác với quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị cáo trong giai đoạn xét xử v.v… Khi nghiên cứu đặc điểm này của giai đoạn tố tụng, chúng tôi thấy một vấn đề cần xem xét là khái niệm bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Theo quy định của khoản 1 Điều 50 BLTTHS thì bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, trong giai đoạn xét xử người bị truy cứu trách nhiệm hình sự vừa là bị can (trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử), vừa là bị cáo. Điều này không thật phù hợp với đặc điểm về chủ thể tố tụng trong giai đoạn tố tụng. Theo chúng tôi, phải chăng nên coi là bị cáo "là người đã có quyết định truy tố bằng bản cáo trạng".
Điều này không làm thay đổi địa vị pháp lý của người bị truy tố nhưng phù hợp hơn với lý thuyết về giai đoạn tố tụng hình sự.