MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, lâm nghiệp đang là một trong những lĩnh vực được Việt Nam chú trọng nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế (BCH Trung Ương, 2021), kinh tế lâm nghiệp được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, vừa quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, vừa sử dụng bền vững diện tích rừng cũng như diện tích đất quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp, đồng thời, vừa tạo vùng nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ và thương mại lâm sản, vừa góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người dân gắn với việc bảo vệ môi trường và hệ sinh thái, bảo vệ quốc phòng và an ninh (Chính phủ, 2021). Trong năm 2021, cả nước đã khai thác hơn 21 triệu m3 gỗ từ rừng trồng tập trung mà phần lớn được trồng tại diện tích đất lâm nghiệp do các công ty lâm nghiệp đang quản lý, đây là nguồn nguyên liệu quan trọng góp phần phát triển ngành công nghiệp sản xuất, chế biến gỗ bền vững, đồng thời, giúp những người trồng rừng và sống bằng nghề rừng có cơ hội để tăng thu nhập (Thành, 2022). Khi nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng, tiêu chuẩn gỗ nguyên liệu ngày càng khắt khe, các công ty lâm nghiệp bị giới hạn bởi nguồn lực đất đai và chi phí sản xuất, nhà quản trị các công ty lâm nghiệp cần phải lựa chọn quyết định các phương án sản xuất kinh doanh vừa tăng quy mô sản xuất kinh doanh, áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất nhằm tăng sản lượng và nâng cao chất lượng gỗ nguyên liệu, vừa phải kiểm soát chi phí để không gây biến động lớn tới giá thành sản xuất.
Do đó, sự phát triển của các công ty lâm nghiệp gắn với công tác quản trị đóng vai trò quan trọng trong phát triển lâm nghiệp cả nước. Một trong các công cụ được sử dụng để cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị chính là kế toán quản trị. Kế toán quản trị hiện nay đã trở thành một bộ phận của quá trình quản lý, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin tài chính và phi tài chính một cách trực tiếp, nhanh chóng và chính xác, đồng thời, KTQT cũng là công cụ phân bổ nguồn lực, thực hiện giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Legaspi, 2018). Việc các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả hoặc thất bại là do không sử dụng công cụ KTQT (Lucas, Prowle, & Lowth, 2013).
Ở Việt Nam, KTQT được chính thức công nhận vào năm 2003 và tiếp tục được khẳng định vào năm 2015 (Quốc Hội, 2015), tuy xuất hiện muộn hơn so với thế giới nhưng nó được coi là vấn đề cấp bách khi các doanh nghiệp muốn nâng cao chất lượng quản trị để tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (Thu, 2019). 1 Tuyên Quang là một tỉnh thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc, có 448.589 ha đất lâm nghiệp, chiếm 76% tổng diện tích đất tự nhiên, mức độ che phủ rừng đạt 65%, có khoảng 88% lực lượng lao động đang làm việc liên quan đến sản xuất lâm nghiệp (Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, 2020), do đó, tỉnh đã đặt mục tiêu trở thành hình mẫu về phát triển lâm nghiệp của cả nước gắn với phát triển kinh tế - xã hội (UBND tỉnh Tuyên Quang, 2020). Phát triển kinh tế lâm nghiệp được Tuyên Quang xác định là một trong những khâu đột phát để trở thành tỉnh khá trong khu vực miền núi phía Bắc (ĐHĐB Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, 2020), đồng thời, tỉnh rất đề cao vai trò của các CTLN trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp của địa phương (UBND tỉnh Tuyên Quang, 2019). Năm 2020, kinh tế lâm nghiệp của tỉnh tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, giá trị sản xuất lâm nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) tăng bình quân 7,8%/năm (Hương L.
, 2021), kết quả này cho thấy định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là rất đúng đắn. Đã có nhiều công trình khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu về kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất. Trên thế giới, Sunarni (2013), Mihăilă (2014) và Legaspi (2018) khẳng định vai trò quan trọng của kế toán quản trị trong doanh nghiệp, là công cụ để nhà quản trị ra quyết định liên quan đến hoạt động nội bộ doanh nghiệp, Boučková (2015) cho rằng kế toán quản trị giúp gia tăng giá trị cho chủ sở hữu, các nhà nghiên cứu trong nước như Việt & cs. (2020), Phúc (2014) xem xét kế toán quản trị dưới góc độ là một môn khoa học.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp, các nghiên cứu Papaspyropoulos & cs. (2016) và Hải (2016) nhấn mạnh về vai trò cung cấp thông tin của kế toán quản trị trên cơ sở hỗ trợ của kế toán tài chính, đồng thời, kế toán quản trị cũng là công cụ giúp nhà quản trị đưa ra kỳ vọng về lợi nhuận đầu tư vào rừng. Như vậy, kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất là điều cần thiết và cũng là xu thế tất yếu, tuy nhiên, làm thế nào để nâng cao, hoàn thiện và phát triển nó trong các doanh nghiệp sản xuất lâm nghiệp, các nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này còn rất mới và chưa đa dạng. Đặc biệt, tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang, là một trong những tỉnh có diện tích rừng lớn nhất cả nước, trong tình hình mới, các công ty lâm nghiệp đã chuyển đổi thành công mô hình kinh doanh và các công ty lâm nhiệp ngoài quốc doanh đang ở trong những bước đầu của sự phát triển nhưng những nghiên cứu về công tác kế toán quản trị trong các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp ở địa phương hầu như chưa có.
Mặt khác, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang vẫn đặt trọng tâm vào kế toán tài chính, chưa quan tâm đúng mức đến việc vận dụng kế toán quản trị vào quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa nhận thức tầm quan trọng của kế 2 toán quản trị đối với công tác điều hành doanh nghiệp1, bên cạnh đó, trình độ và năng lực công tác của đội ngũ kế toán chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới2. Kết quả, các công ty tuy đã áp dụng kế toán quản trị nhưng ở mức đơn giản, là sự kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, trong đó, kế toán quản trị thực hiện chi tiết hóa số liệu của kế toán tài chính3, việc thiết lập hệ thống chỉ tiêu kinh tế gắn với chức năng quản lý của nhà quản trị chưa được thực hiện4 dẫn tới thông tin kế toán quản trị cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị các cấp, chính vì vậy, các công ty lâm nghiệp chưa khai thác triệt để công cụ kế toán quản trị phục vụ quản trị và điều hành doanh nghiệp. Từ thực tiễn công tác kế toán quản trị tại các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, cần thiết phải quan tâm đến hệ thống kế toán quản trị hơn nữa nhằm tạo nguồn thông tin chắc chắn cho nhà quản trị ra các quyết định, là điều kiện cần thiết để tận dụng và khai thác hiệu quả các nguồn lực, từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Vì vậy nghiên cứu vấn đề “Hoàn thiện kế toán quản trị trong các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu phát triển của các công ty lâm nghiệp nói riêng và mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp địa phương nói chung.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về về các vấn đề lý luận chung của kế toán quản trị KTQT là một bộ phận của hệ thống kế toán nhưng ra đời sau kế toán tài chính, tuy nhiên, sự xuất hiện của nó lại đang trở thành xu thế mới của kế toán hiện đại. Kể từ khi KTQT xuất hiện, có rất nhiều nghiên cứu về nó theo các cách tiếp cận khác nhau.
KTQT được các học giả nghiên cứu khá sớm theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu đầu tiên bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XIX tại Mỹ, xuất phát từ nhu cầu tất yếu về việc kiểm soát và đánh giá hoạt động của nhà quản trị doanh nghiệp khi quy mô và phạm vi SXKD ngày càng mở rộng và phát triển mạnh mẽ. Các nghiên cứu sau đó tiếp tục được kế thừa và phát triển tại nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam. Thứ nhất, cách tiếp cận theo góc độ quản lý 1 Tổng hợp từ kết quả khảo sát nhận thức về KTQT của các cấp quản trị trong các CTLN trên địa bàn tỉnh TQ. 2 Tổng hợp từ kết quả khảo sát năng lực và trình độ của kế toán trong các CTLN trên địa bàn tỉnh TQ 3 Tổng hợp từ kết quả thu thập tài liệu, chứng từ tại các CTLN trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
4 Tổng hợp từ kết quả khảo sát nhu cầu thông tin cho kiểm soát, đánh giá của các cấp quản trị trong các CTLN trên địa bàn tỉnh TQ 3 Sunarni (2013) cho rằng KTQT là quá trình xác định, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp, KTQT là một bộ phận cấu thành của quá trình quản lý. Thông thường, doanh nghiệp càng lớn thì nhu cầu về thông tin của các cấp quản lý càng lớn. Mục đích chính của KTQT trong doanh nghiệp nhằm giúp cho các cấp quản lý thực hiện chức năng của mình thông qua việc thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin. Từ “kế toán” không chỉ đề cập đến việc ghi chép chứng từ đơn thuần về nghiệp vụ giao dịch kinh doanh phát sinh mà còn bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu khác.
Theo quan điểm của học giả, KTQT không còn đơn thuần là người ghi chép nội dung thực hiện trong quá khứ mà đóng vai trò là người bổ sung giá trị cho các cấp quản lý của doanh nghiệp. Mihăilă (2014) khẳng định KTQT là một nhánh của hệ thống kế toán, hỗ trợ nhà quản trị doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch, ra quyết định, kiểm soát và phân tích. Khi sử dụng hiệu quả công cụ này trong quá trình vận hành kinh doanh sẽ đảm bảo doanh nghiệp tăng trưởng có lãi và tối ưu hóa kinh doanh.