Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu 1. Nhóm công trình nghiên cứu có liên quan đến xây dựng căn cứ du kích trong chiến tranh nhân dân Việt Nam CCDK trước hết là hậu phương của CTDK. Căn cứ du kích vừa là nơi đứng chân dé giải quyết vấn đề tiềm lực, vừa là mặt trận đấu tranh với địch một cách toàn diện; vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương; vừa là kết quả của việc thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng; vừa là điều kiện dé biến đường lối đó thành hiện thực; vừa là kết quả của cuộc chiến tranh nhân dân, vừa là nguyên nhân làm cho chiến tranh nhân dân phát triển.
Liên quan đến nội dung xây dựng CCDK trong chiến tranh nhân dân Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới, với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Cụ thé như sau: 1. Những công trình nghiên cứu cua các học giả trong nước Nguyễn Quyết (1978), Máy kinh nghiệm công tác quân sự địa phương [158]. Với cái nhìn sâu sắc và toàn điện của người lãnh đạo (Nguyên chính ủy Quân khu 3), công trình đã tổng kết một số kinh nghiệm chính về công tác quân sự địa phương qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tác giả đã nhắn mạnh: “Sức mạnh của quân dân trong quân khu là sức mạnh của “quân dân một lòng tiêu diệt quân địch” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng cho nhân dân Thái Bình, Hà Bắc, là tinh thần “đoàn kết nhân dân đánh thắng giặc Pháp”. là sức mạnh của tinh thần kiên trung, bat khuất, anh dũng tuyệt vời sẵn sàng xả thân vi dân, vi nước” [158, tr. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1993), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 [189]. Bộ sách đã phản ánh một cách có hệ thống diễn biến cuộc kháng chiến chống Pháp, trong đó có đề cập đến phong trào CTDK và xây dựng CCDK trong vùng quân Pháp chiếm đóng.
Đặc biệt trong tập VI, đã dành một phần lớn chỉ ra những bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến, trong đó khang định đường lối lãnh đạo sáng suốt của Dang là nhân tố quyết định thang lợi hàng đầu. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã chủ trương xây dựng hệ thống CCDK rộng khắp cả nước, bên cạnh “vùng tự do là đất căn bản của hậu phương chiến tranh, quân và dân ta còn xây dựng được các căn cứ du kích và khu du kích trong vùng tạm bị chiếm, lây đó là đất đứng chân và huy động phần nào được tiềm lực nhân dân dé đánh giặc” [189, tr. Tuy nhiên, do nằm trong vùng sau lưng địch, ở thé xen ké cài răng lược và phải thường xuyên chiến đấu giằng co quyết liệt nên các KDK và CCDK thường có những biến động, có lúc được mở rộng, có lúc bị thu hẹp. Nhưng nhìn chung cả cuộc kháng chiến, các KDK và CCDK_ ngày càng được mở rộng, đảm bảo cho quân và dân Việt Nam có đất đứng chân và tiềm lực dé đánh giặc tại chỗ.
Ban Chi đạo tổng kết chiến tranh - trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - thắng lợi và bài học [23]. Công trình đã phản ánh nhiều nội dung phong phú của cuộc kháng chiến do Đảng lãnh đạo như khái quát tiễn trình của cuộc kháng chiến qua các giai đoạn lịch sử; đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến; tổng kết sáu bài học kinh nghiệm trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Qua những bài học kinh nghiệm đó, vi trí, vai trò của HP, CCD đã được khắc họa đậm nét trong đường lỗi kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính của Đảng. Trong đó đã đưa ra khái nệm về HP- CCD, các loại hình HP: Trong chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ của ta, khái niệm về hậu phương đã được mở rộng.
Đó không chỉ là khu vực phía sau trận tuyến của ta mà là một hệ thống căn cứ - hậu phương với các cấp độ khác nhau: căn cứ - hậu phương của cả nước, căn cứ - hậu phương của từng vùng, từng hướng chiến lược, của từng chiến trường, căn cứ - hậu phương của từng khu, liên khu, chiến khu, căn cứ - hậu phương của liên tỉnh, tỉnh, thành phó, huyện, liên huyện, thậm chí của làng xã [23. Căn cứ không phải chỉ là những vùng tự do, vùng giải phóng mà còn là cả những chỗ đứng chân của lực lượng cách mạng ba thứ quân trong vùng sau lưng 10 địch. Công trình đã khăng định: “Chiến tranh càng lâu dài thì tiền phương của ta càng mở rộng về phía sau lưng địch, hậu phương của địch càng bị thu hẹp và nhiều vùng dan dan sẽ biến thành hậu phương của ta” [23, tr.360], đó chính là nét sáng tao độc đáo của cuộc kháng chiến chống Pháp mà tác giả là hàng triệu nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975) [191].
Là đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước do Trung tướng GS - PTS Hoàng Phương làm chủ nhiệm, bằng phương pháp lịch sử cụ thé và phương pháp phân tích, dé tài đã làm rõ vị trí, vai trò của hậu phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp va dé quốc Mỹ xâm lược. Đề tài đã khang định: HP là một trong những nhân tố quyết định thăng lợi của chiến tranh. Bởi HP là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ tuật, là nơi chi viện chủ yếu Sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa tinh thần của tiền tuyến. “Hậu phương của ta trong kháng chiến chống Pháp bao gồm những vùng tự do, các khu du kích, căn cứ du kích sau lưng địch và lòng dân yêu nước trong vùng tạm chiếm” [191 tr.
Bộ Tổng tham mưu (1998), Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954 - Đặc trưng của chiến tranh du kích vùng đồng bằng Liên khu 3 trong kháng chiến chống Pháp [37]. Là công trình nghiên cứu công phu về đặc trưng của CTDK ở vùng đồng bang một liên khu rộng lớn, lại trải qua nhiều biến động về tô chức. Công trình đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản về CTDK vùng đồng bằng Liên khu 3: Đặc trưng thứ nhất là “Đánh phá hậu phương của địch, biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta” [37, tr.115]; đặc trưng thứ hai là “Vấn dé can quét và chống can quét” [37, tr.170]; đặc trưng thứ ba là “Làng xã chiến đấu, khu du kích, căn cứ du kích” [37, tr.203]; đặc trưng thứ tư là “ Phát động đồng bào công giáo đây mạnh chiến tranh du kích làm thất bại chủ trương biến nhà thờ thành đồn bốt hòng thực hiện âm mưu lay chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch” [37, tr. Trong đó đặc trưng thứ ba về xây dựng làng xã chiến dau, KDK và CCDK là một nội dung quan trọng, tao nên thế trận CTND ở cơ sở, đảm bảo vững chắc cho CTDK được duy trì và 11 phát triển.
Làng, xã chiến đấu, KDK, CCDK ở vùng đồng bằng Liên khu 3 đã phát triển từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, từ cô lập lẻ tẻ đến hỗ trợ cho nhau, tạo nên thế trận thiên la địa võng, làm bàn đạp cho lực lượng ba thứ quân liên tục tấn công uy hiếp quân địch, buộc chúng phải bị động phân tán, sa lầy trong biển lửa CTND. Hội đồng Chỉ đạo biên soạn công trình lịch sử kháng chiến chống Pháp khu Tả ngạn sông Hồng (2001), Lịch sử kháng chiến chống Pháp khu Tả ngạn sông Hong 1945 - 1955 [120]. Day là công trình mang giá trị lịch sử to lớn, đã làm sáng tỏ cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân khu Tả ngạn sông Hồng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trên cơ sở tìm tòi, chọn lọc, xử lý nhiều tư liệu phong phú cuốn sách đã dựng lại một cách khái quát, chân thực, sinh động những sự kiện lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân khu Tả ngạn sông Hồng.
Cuốn sách đã làm sáng tỏ đường lối và những phương châm chiến lược sáng suốt của Đảng trong cuộc kháng chiến ở vùng sau lưng địch. Đặc biệt cuốn sách đã làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng trong quá trình thực hiện phương châm kháng chiến toàn dân, gây dựng cơ sở làm nơi đứng chân cho lực lượng tại chỗ bám trụ đánh địch, thực hiện đúng lời day cua Bac: “Ta ngạn không có rừng cây nhưng có rừng người, phải bám đất, bám dân, có dân là có tất cả”[120, tr. Công trình được xuất bản nhân dịp 47 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, trong đó tác giả đã chỉ ra đặc điểm của các CCDK ở ĐBBB, quy luật hình thành và phát triển của các CCDK là: “Từ cơ sở chính trị tiến lên khu du kích và căn cứ du kích là một quy luật cơ bản trong quá trình xây dựng chỗ đứng chân ở đồng bằng Bắc Bộ” [117, tr.247]; Sự phát triển của các CCDK có những biến động phức tạp, tùy vào tình hình thực tế trên chiến trường, tác gia khang định: “Quá trình phát triển có những bước quanh co, thậm chí có những lúc thụt lùi” [117, tr. Đồng thời tác giả đã đi sâu khai thác vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và bảo vệ các KDK và CCDK ở ĐBBB qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng và bảo vệ các CCDK.
Công trình đã làm rõ quá trình hình thành và phát triển của một số CCDK lớn ở đồng băng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp như CCDK Khánh Trung - Khánh Thiện (tỉnh Ninh Bình); CCDK Thần Đầu - Thần Huống (tỉnh Thái Bình); CCDK Hòa - Hậu - Thắng (Hà Nam); CCDK Tiên - Quế - Võ (Bắc Ninh). Thông qua quá trình hình thành và phát triển các CCDK tác giả đã xác định những quy luật chung của quá trình xây dựng các CCDK đó, bước đầu rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng các CCDK. Lê Thanh Bài (2019), Làng chiến dau vùng Dong bang Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chong thực dân Pháp (1945-1954) [1]. La công trình nghiên cứu về các làng chiến đấu vùng ĐBBB trong cuộc kháng chiến chống Pháp.