PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam, do Tổng cục Thống kê Việt Nam ban hành ngày 02/3/1979, ngƣời Cơ ho thuộc ngữ hệ Môn - Khơ me ở Việt Nam. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, ngƣời Cơ ho ở Việt Nam có dân số 200.800 ngƣời, xếp thứ 16 trong 54 dân tộc, cƣ trú tại nhiều tỉnh thành, trong đó tỉnh Lâm Đồng là nơi tập trung đông ngƣời Cơ ho sinh sống nhất (175.531 ngƣời), tiếp đến là các tỉnh Bình Thuận (13.724 ngƣời), Ninh Thuận (3. Tại Lâm Đồng, ngƣời Cơ ho có dân số đứng thứ hai toàn tỉnh (sau ngƣời Kinh), sống tập trung chủ yếu tại các huyện Di Linh, Lạc Dƣơng, Lâm Hà, Đơn Dƣơng, Đức Trọng, Bảo Lâm.
Ngƣời Cơ ho bao gồm nhiều nhóm địa phƣơng: Cơ ho Srê, Cơ ho Nộp, Cơ ho Chil, Cơ ho Lạch, Cơ ho T’ring, trong đó, nhóm Cơ ho Srê chiếm số lƣợng đông nhất (năm 2019 là 103.682 ngƣời), địa bàn sinh sống của họ tập trung tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Lâm Hà, Đơn Dƣơng, Đức Trọng. Di Linh là nơi có đông ngƣời Cơ ho Srê nhất. Sau năm 1975, thực hiện chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, luồng cƣ dân từ các tỉnh miền Trung và miền Bắc di cƣ vào Lâm Đồng với quy mô lớn, ngoài ra các luồng di cƣ tự do cũng chiếm tỷ lệ cao. Cùng với đó, trong hơn 40 năm qua, với mục tiêu xây dựng cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đoàn kết, ổn định và phát triển bền vững, trong đó tập trung vào việc ổn định đời sống, tạo sinh kế lâu dài và bền vững cho ngƣời dân tộc thiểu số.
Đảng và Nhà nƣớc đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách đối với ngƣời dân tộc thiểu số nói chung và ngƣời dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng nói riêng: chƣơng trình định canh, định cƣ, chƣơng trình thành lập các nông, lâm trƣờng quốc doanh, xây dựng kinh tế với mô hình tập đoàn sản xuất, chƣơng trình xóa đói giảm nghèo, chƣơng trình xây dựng nông thôn mới, các dự án trồng rừng và bảo vệ rừng. và nhiều chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội khác. Điều đó, đã tác động mạnh mẽ đến kinh tế, xã hội của các tộc ngƣời thiểu số tại địa phƣơng nói chung và ngƣời Cơ ho Srê nói riêng. Ngƣời Cơ ho Srê là nhóm địa phƣơng tận dụng thành công nhất các chính sách để phát triển kinh tế, xã hội và ổn định đời sống.
Nền kinh tế và tổ chức xã hội truyền thống của họ có những chuyển biến quan trọng. Đó là sự thay đổi mạnh mẽ về không gian sống, thiết chế cộng đồng, dòng họ, gia đình, hoạt động kinh tế, giao lƣu tiếp biến văn hóa và vị thế chính trị của ngƣời Cơ ho Srê. Tất cả những chuyển biến trong kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê cần đƣợc nghiên cứu và đánh giá một cách có hệ thống dƣới góc độ khoa học. Về mặt khoa học, việc nghiên cứu chuyển biến kinh tế, xã hội về ngƣời Cơ ho nói chung và nhóm Cơ ho Srê nói riêng ở Lâm Đồng đã đƣợc nhiều học giả trong và ngoài nƣớc quan tâm.
Tuy nhiên, các công trình tập trung nghiên cứu về kinh tế, xã hội của tộc ngƣời này chủ yếu dƣới góc độ Dân tộc học/ Nhân học. Đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê từ năm 1975 đến năm 2015 dƣới góc độ lịch sử. Việc nghiên cứu bức tranh toàn cảnh về kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê ở Lâm Đồng giai đoạn 1975 - 2015 sẽ góp thêm những tƣ liệu lịch sử về ngƣời Cơ ho Srê nói riêng cũng nhƣ ngƣời Cơ ho ở Lâm Đồng nói chung. Đồng thời, trên quy luật chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê trong 40 năm qua, sẽ có nhận định, đánh giá hợp lý và đúc kết những kinh nghiệm không chỉ có giá trị trong xây dựng cộng đồng ngƣời Cơ ho Srê ổn định và phát triển, mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng, rộng hơn là các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Vì thế, với cái nhìn toàn diện, đề tài này sẽ làm rõ thực trạng chuyển biến kinh tế, xã hội của ngƣời Cơ ho Srê ở tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn 1975 - 2015; các nhân tố tác động đến sự chuyển biến kinh tế, xã hội. Đồng thời, đề tài có những đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để từ đó đƣa ra các giải pháp nhƣ là những gợi ý khoa học giúp các nhà quản lý đƣa ra những chủ trƣơng phù hợp, khả thi, phát triển kinh tế, xã hội một cách bền vững ở ngƣời Cơ ho Srê sinh sống nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung. Đó chính là vấn đề có tính cấp thiết mà đề tài quan tâm hƣớng đến. Từ các lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Những chuyển biến kinh tế, xã hội của người Cơ ho Srê ở tỉnh Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1 Các công trình nghiên cứu về DTTS có đề cập ngƣời Cơ ho Srê trƣớc năm 1975 Đầu thế kỷ XIX, trong bộ Đại Nam nhất thống chí có ghi chép về các DTTS sống ở miền núi huyện Tuy Phong (tƣơng đƣơng với huyện Tuy Phong và Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận hiện nay - TG), với tên gọi chung là Man hoang (Mọi), trong đó khái quát các DTTS phía Tây Bắc của huyện (vùng Đức Trọng, Di Linh, tỉnh Lâm Đồng hiện nay - TG) nhƣ đi 16 ngày mới đến, có sông Dã Dƣơng (Đạ Dâng - TG), ngƣời Man có đóng thuế và thỉnh thoảng đi lại buôn bán (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2006, tr. Tác phẩm Les Jungles Moi được Henri Maitre công bố tại Paris năm 1912 đã dịch sang tiếng Việt với tựa đề Rừng người Thượng và đƣợc Viện Viễn Đông Bác cổ, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và NXB Tri thức hợp tác xuất bản, đã phác thảo một cách cơ bản lƣợc sử Tây Nguyên, đề cập nhiều tộc ngƣời trong đó có Cơ ho (Maitre, H. Jacques Dournes có thời gian khá lâu sống ở Di Linh (từ 1947 - 1954) nên những hiểu biết của ông về nhóm Cơ ho Srê là hết sức tin cậy, Dicsionaire Srê (Köho) - Francais (Từ điển Srê (Cơ ho) - Pháp) bản tiếng Pháp, đƣợc hoàn thành năm 1949, xuất bản năm 1950, đề cập lịch sử tộc ngƣời, ngôn ngữ, kinh tế (Dournes J. Miền đất huyền ảo - Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương (1950), Nguyên Ngọc dịch và xuất bản năm 2003 (bản tiếng Pháp Les pooulations montagnardes de Sud - Indochinois, Saigon, 1950, France Asie, No 45 - 50) đề cập nhiều nội dung liên quan đến đời sống kinh tế và tổ chức xã hội truyền thống của ngƣời Cơ ho chủ yếu tập trung vào nhóm Cơ ho Srê ở Di Linh (Dournes, J.
Sau đó, năm 1953 ông cùng Bouchet G. hiệu đính và bổ sung Từ điển Srê – Pháp, trong Lexique polyglotte Viêtnamien - Köho - Röglay - Francais, (tiếng Pháp) xuất bản tại Sài Gòn, trình bày kỹ hơn một số vấn đề của văn hóa Cơ ho Srê (Bouchet,G. Có thể nói, Jacques Dournes là ngƣời có công đầu đối với việc nghiên cứu về tộc ngƣời Cơ ho, tập trung nhất là nhóm Cơ ho Srê. Sau 1954, khi Nhóm Cố vấn về Việt Nam của Đại học Michigan Hoa Kỳ và Chi vụ An ninh công cộng phái bộ viện trợ kinh tế Hoa Kỳ tại Việt Nam, làm thẻ căn cƣớc cho ngƣời từ 18 tuổi trở lên ở Việt Nam, đòi hỏi phải nghiên cứu về tên họ ngƣời Thƣợng ở Tây Nguyên.
Tác phẩm A Study of Montagnard Names in Vietnam (1962) của E. Adkins ra đời trong bối cảnh đó, và nó đề cập đến nhiều tộc ngƣời Tây Nguyên, trong đó có ngƣời Cơ ho (Adkins, E. Năm 1964, để phục vụ cho công cuộc can thiệp vào miền Nam Việt Nam của ngƣời Mỹ, trƣờng Chiến tranh đặc biệt của quân đội Mỹ (Army Special Warfare School (U.) xuất bản tác phẩm Montagnard Tribal Groups of the Republic of South Viet-Nam (Các nhóm ngƣời Thƣợng của Cộng hòa Nam Việt Nam), đã dành chƣơng 8 (The Koho tribe), trình bày ngắn gọn về địa bàn cƣ trú, lịch sử, kinh tế, xã hội, tập tục của ngƣời Cơ ho (Army Special Warfare School (U. Trong Minority Groups in The Republic of Vietnam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa) với một chƣơng gần 50 trang (từ tr.435) miêu tả về sinh hoạt kinh tế, tổ chức xã hội, đời sống văn hóa truyền thống của ngƣời Cơ ho tập trung nhiều vào Cơ ho Srê.
Phần lớn tƣ liệu trình bày đƣợc dựa vào nguồn tƣ liệu của các nhà nghiên cứu ngƣời Pháp trƣớc đó (American University (Washington, D. Nhà nhân học ngƣời Mỹ Gerald C.Hickey trong The highland people of South Vietnam: social and economic development (1967) (Các cƣ dân miền núi ở miền Nam Việt Nam: sự phát triển kinh tế và xã hội) đã đề cập đến nhóm Cơ ho Srê trong bối cảnh chung của các dân tộc Tây Nguyên (Hickey, C. Trƣớc 1975, các học giả miền Nam cũng nghiên cứu các DTTS Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, trong tác phẩm Địa phương chí hai khu vực Bảo Lộc và Di Linh (1968), Ngô Tằng Giao có đề cập đến các “sắc dân Thƣợng” tại Lâm Đồng (gồm 2 quận Di Linh và Bảo Lộc), trong đó ông có đề cập đến dân số, phong tục (chủ yếu là hôn nhân) của ngƣời Cơ ho (thực chất là nhóm Srê) ở Di Linh (Ngô Tằng Giao, 1968). Ngoài ra, có các công trình khảo cứu về Tây Nguyên trong đó có giới thiệu về ngƣời Cơ ho Srê nhƣ: Các sắc tộc thiểu số tại Việt Nam (1970); Nguyễn Trắc Dĩ với Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) (1973); Cửu Long Giang - Toan Ánh, Cao Nguyên miền Thượng (1974).
tất cả đƣợc xuất bản tại Sài Gòn. Trƣớc năm 1975, ở phía Bắc các nhà khoa học cũng có một số công trình nghiên cứu về ngƣời DTTS trong đó có ngƣời Cơ ho, nhƣng còn khá sơ sài: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959) của các tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mạc Đƣờng, Bước đầu tìm hiểu các dân tộc thiểu số Việt Nam trong sự nghiệp giữ nước (1973) của Lã Văn Lô.