phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được chia thành bốn chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam Chƣơng 3: Quy định của pháp luật thể hiện chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện Chƣơng 4: Quan điểm và các giải pháp bảo đảm thực hiện chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các vấn đề về bào chữa được nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, chẳng hạn về quyền bào chữa, người bào chữa, việc tham gia tố tụng của người bào chữa… Đó là nền tảng khoa học cho việc xây dựng, thực hiện các quy định pháp luật về chức năng bào chữa. Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của mô hình tố tụng hình sự là rất cần thiết đối với nghiên cứu sinh, bởi vì mô hình tố tụng hình sự là phương thức để thực hiện các chức năng của tố tụng hình sự. Theo bài viết “Major legal systems in world today” (tạm dịch: Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại) của Rene David, John E.Brierly, The Free Press năm 1978 thì hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới được phân thành 4 nhóm là: hệ thống pháp luật châu âu lục địa, hệ thống thông luật Anh-Mỹ, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật dựa trên vấn đề tôn giáo và truyền thống pháp luật khác. Cuốn sách “Những mô hình tố tụng hình sự trên thế giới” của tác giả Jean- Phillipe Rivaud năm 2000 đã tập trung phân tích, so sánh các mô hình tố tụng hình sự trên thế giới, đồng thời khẳng định các quyền cơ bản của người bị buộc tội như quyền có người bào chữa, quyền im lặng, quyền được bào chữa miễn phí… Cuốn sách “Tư pháp hình sự so sánh” của tác giả Phillip.Reichel (bản dịch tiếng việt của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý năm 1999) đã phân tích đặc điểm và so sánh các truyền thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đặc biệt là so sánh mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và mô hình tố tụng công bằng.
Tất cả các truyền thống pháp luật này đều có chung mục đích là phát hiện tội phạm, tìm ra sự thật khách quan của vụ án nhưng mỗi truyền thống pháp luật sử dụng mô hình tố tụng khác nhau, quan trọng là cách thức nào tốt nhất để tìm ra sự thật của vụ án. Sự khác nhau của các mô hình tố tụng tất yếu dẫn đến sự khác nhau của các chức năng tố tụng, trong đó có chức năng bào chữa và những nội dung cơ bản của chức năng bào chữa. Bài viết “Phân tích, so sánh hai hệ thống pháp luật Mỹ và Pháp” của tác giả James Claude và Joseph Daly (thông tin khoa học pháp lý tháng 10/1994) đã chỉ ra sự giống nhau trong hệ thống pháp luật của 2 nước này, đó là mô hình tố tụng thẩm vấn nhưng kết hợp yếu tố tranh tụng. Cuốn sách “Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Trung Quốc, Indonexia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga” do Liên hợp quốc thực hiện năm 2010 đã làm rõ cơ cấu tổ chức của cơ quan tư pháp hình sự, quy định về các quyền bào chữa của người bị buộc tội.
8 Các công trình nghiên cứu về vai trò của người bào chữa trong tố tụng hình sự có thể kể đến bài viết “The role of the defense attorney: not just an advocate” (tạm dịch: vai trò của luật sư bào chữa: không chỉ là một người ủng hộ) của tác giả Roberta K. Bài viết khẳng định vai trò của Luật sư bào chữa không chỉ là 1 người ủng hộ cho khách hàng của mình, mà còn là 1 thành viên của liên đoàn luật sư, người bào chữa chuyên nghiệp, không chỉ đại diện cho khách hàng mà còn là 1 cán bộ của hệ thống pháp luật, có trách nhiệm bảo vệ pháp lý, bảo vệ công dân. Bài viết cũng chỉ ra 3 vai trò, biện pháp để chức năng bào chữa có hiệu quả, đó là vai trò của luật sư bào chữa, vai trò của cán bộ tòa án và vai trò của bộ tư pháp (ở các nước theo truyền thống án lệ thì cơ quan công tố thuộc nhánh quyền lực hành pháp). Bài viết “Basic principles on the role of lawyers” (tạm dịch: Những nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư) của tác giả Adam Paker năm 2008 đã phân tích rõ nội dung nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự quốc tế qua việc chỉ ra các quy định minh bạch về quyền bào chữa và trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền bào chữa của người bị buộc tội như được nhanh chóng tiếp cận với luật sư, được tiếp xúc riêng với luật sư.
Bài viết cũng phân tích rõ các quyền của luật sư khi tham gia bào chữa như quyền có đủ thời gian và phương tiện chuẩn bị cho việc bào chữa của mình, tranh tụng, tiếp cận đối tượng có liên quan, thu thập chứng cứ…. Các công trình nghiên cứu về các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, đa số đều khẳng định có 3 chức năng cơ bản tồn tại, đó là chức năng buộc tội, chức năng gỡ tội (bào chữa) và chức năng xét xử. Bài viết “Rethinking the functions of criminal Proceduce” (tạm dịch: bàn về các chức năng của tố tụng hình sự) năm 2010 của tác giả Peter A Renella, nhà nghiên cứu luật tại đại học luật Boston đã đặt ra câu hỏi: các chức năng nào phục vụ cho tố tụng hình sự? Sau khi phân tích đặc điểm của các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, tác giả đã đồng ý với quan điểm là tồn tại 3 chức năng cơ bản: buộc tội, bào chữa, xét xử trong tố tụng hình sự. Các bài viết về chức năng bào chữa có thể kể đến như: bài viết “Defense function” ( tạm dịch: chức năng bào chữa) của Đoàn luật sư Hoa Kỳ tại trang web www.org / american Justice section archive đã nêu lên các tiêu chuẩn chung của người bào chữa và các chức năng của luật sư bào chữa.
Theo đó, Luật sư bào chữa là một thành phần thiết yếu của hệ thống tố tụng hình sự, bảo vệ công lý và lẽ phải. Một tòa án thành lập đúng quy định để xét xử một vụ án hình sự phải được xem như là một thực thể ba bên bao gồm các thẩm phán, công tố viên và luật sư bào chữa cho bị cáo. Các tiêu chuẩn cũng như chức năng của luật sư bào chữa, 9 đó là: Luật sư bào chữa phải có lòng can đảm, sự tận tâm để tham gia giải quyết vụ án một cách hiệu quả và chất lượng, thể hiện bằng việc hành động tuân theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, khi gặp các bất cập liên quan đến chính sách hình sự và quy định của pháp luật, người bào chữa phải đề xuất ý kiến, tìm cách cải cách và cải thiện hành chính tư pháp hình sự.
Người bào chữa không có nhiệm vụ phải thực hiện bất kỳ chỉ thị nào của bị cáo mà không đúng với quy định của pháp luật hoặc vi phạm pháp luật. Người bào chữa không được xuyên tạc hoặc bóp méo sự thật, cung cấp các chứng cứ, tài liệu sai sự thật cho Tòa án… Người bào chữa phải được hướng dẫn và tuân theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, những điều được làm và không được làm khi hành nghề luật sư. Bài viết “Functions of the police, prosecutor, court workers, defense counsel, Judge in aiding Juvenile Justice” (tạm dịch: Chức năng của cảnh sát, công tố viên, công chức của tòa án, luật sư bào chữa, thẩm phán) năm 2009 của tác giả Donald J. Bài viết “The emerging Role and Function of the Criminal defense lawyer”(tạm dịch: Vai trò và chức năng của luật sư bào chữa) của tác giả Samuel Dash (1969) tại trang web http:// scholar ship.ed/nclr đã khẳng định vai trò ngày càng to lớn của luật sư bào chữa.
Trước đây, luật sư bào chữa bị kì thị và cô lập với chính những người làm công tác bảo vệ pháp luật, vai trò của luật sư bào chữa mờ nhạt và ít được nhắc tới. Song ngày nay, vai trò của luật sư bào chữa được nhìn nhận đúng mực hơn, các quyền của luật sư bào chữa được bổ sung phù hợp với chức năng bào chữa của họ. Bài viết “Lawyer Defence in the Pre-Trial Proceedings” của tác giả Xiong Qiuhong, phó giáo sư-tiến sỹ của Viện luật, Viện khoa học xã hội Trung Quốc năm 2005 đã đưa ra những quan điểm của mình về luật sư bào chữa, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn trước khi vụ án được đưa ra xét xử. Theo đó, quyền bào chữa của người bị buộc tội là quyền đặc trưng, có tác dụng và hiệu lực trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, thông qua các tài liệu và sự kiện, tình tiết để bào chữa theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.
Thực chất, người bị buộc tội có quyền bác bỏ cáo buộc hình sự từ phía những người tiến hành 10 tố tụng, có quyền trình bày ý kiến và đưa ra tình tiết nhằm chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự. Luật sư bào chữa tham gia vụ án dựa trên cơ sở có sự buộc tội và được người bị buộc tội mời bào chữa hoặc các trường hợp khác do bào chữa chỉ định. Ở giai đoạn điều tra, các luật sư có thể tư vấn pháp lý để người bị nghi thực hiện tội phạm nộp đơn hoặc khiếu nại. Trong trường hợp nghi can bị bắt giữ, các luật sư tham gia bào chữa cho họ có thể áp dụng biện pháp bảo lãnh đối với nghi phạm.
Luật sư bào chữa có thể gặp người có thẩm quyền để hỏi về những căn cứ buộc tội đối với nghi can mà mình bảo vệ. Ở giai đoạn truy tố, trong thời hạn 3 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ vụ án từ cơ quan điều tra, viện kiểm sát thông báo cho người bị buộc tội có thể ủy thác cho luật sư bào chữa của mình. Bài viết cũng khẳng định, điều tra tội phạm và bảo vệ nhân quyền là hai mục đích của thủ tục tố tụng hình sự, trong đó có quyền bào chữa của người bị buộc tội. Đồng thời, khẳng định sự độc lập, vai trò quan trọng của chức năng bào chữa và nêu lên những hạn chế của chế định bào chữa trong BLTTHS Trung Quốc.