Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu 1.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước Trong Báo cáo gửi UNESSCO của Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI (Học tập – Một kho báu tiềm ẩn) (1996), tác giả Jacques đã phân tích bối cảnh và khuyến nghị giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI với bốn trụ cột: Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung sống [80]. Các quan điểm này đang được các quốc gia, các tổ chức giáo dục vận dụng, cụ thể hóa trong các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển giáo dục cũng như trong tổ chức các hoạt động giáo dục cụ thể. Một quan điểm nữa được tác giả đưa ra đó là xây dựng xã hội học tập giúp cho mọi cá nhân có thể thỏa mãn nhu cầu học tập, gia tăng tri thức của mình. Quan điểm này đưa đến yêu cầu phải đa dạng hóa các phương thức cung cấp dịch vụ giáo dục cho xã hội trên cơ sở huy động tối đa nguồn lực ngoài Nhà nước trong tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục cho xã hội cùng với ứng dụng tối đa công nghệ thông tin, thành quả khoa học công nghệ vào các hoạt động giảng dạy – học tập.
Trong cuốn School reform from the inside out: Policy, Practice and Performance (2004), tác giả Richard F. Elmore đã phân tích và chỉ ra các vấn đề của hệ thống chính là các vấn đề của những đơn vị nhỏ. Do đó, muốn cải cách, phát triển giáo dục thành công cần bắt đầu từ trong ra ngoài và từ những đơn vị nhỏ nhất – các cơ sở giáo dục cụ thể [125]. Quan điểm này có thể luôn đúng là đối với yêu cầu phát triển của các chuỗi hệ thống.
Một hệ thống, một 14 cơ thể ổn định, phát triển phải trên cơ sở mọi bộ phận, mọi thành tố trong đó phải ổn định, phát triển. Đối với đổi mới, phát triển giáo dục cũng vậy. Hai tác giả Les Bell và Howard Stevenson đã cung cấp các lý thuyết về chính sách giáo dục với các nội dung: chính sách và giáo dục; các chủ đề trong chính sách giáo dục; sự tác động của chính sách giáo dục trong cuốn Education policy: process, themes and impact (2006). Tài liệu đưa ra các mối liên hệ giữa hoạch định và tổ chức thực thi chính sách giáo dục với phát triển nguồn lực con người của các quốc gia; mối liên hệ giữa hoạch định, tổ chức thực thi chính sách với đảm bảo quyền công dân và công bằng xã hội.
Đồng thời, tài liệu cũng đưa ra yêu cầu đảm bảo trách nhiệm giải trình, trách nhiệm xã hội, quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục. Ngoài ra, tài liệu cũng giới thiệu chính sách giáo dục của Hồng Kông, Anh quốc… và đưa ra các khuyến nghị trong hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách giáo dục [134]. Trong bài viết Impact evaluation of educational development programmes (2002) đăng trên tạp chí International Journal for Academic Development, các tác giả Carolin Kreber và Paula Brook đã đưa ra sáu điểm có thể tập trung trong đánh giá sự tác động của các chương trình phát triển giáo dục: (i) Sự hài lòng của người học; (ii) Sự tin tưởng của người học về quá trình dạy và học; (iii) Hoạt động giảng dạy; (iv) Đánh giá của người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên; (v) Việc học tập của người học; (vi) Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức của cơ sở giảng dạy [122]. Tác giả Greert Driessen so sánh chính sách đối với giáo dục và dân tộc thiểu số của Hà Lan với một số nước phương Tây, đưa ra các khuyến nghị trong hoạch định chính sách giáo dục trong bài viết The limits of education policy and Practice? The case of ethnic in The Netherlands (2000) [128].
Đối với những quốc gia có nhiều dân tộc và trình độ phát triển giáo dục giữa các khu vực, giữa các dân tộc có sự chênh lệch có thể xem đây là tài liệu tham khảo quý. 15 Về giáo dục Việt Nam, hai tác giả Paul Glewwe và Harry Anthony Patrinos đã phân tích vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển giáo dục trong bài viết The role of the private sector in education in Vietnam: Evidence from the Vietnam living standards (1998). Bài viết cung cấp nhiều thông tin và luận điểm có giá trị và đưa ra các khuyến nghị đối với các cơ quan nhà nước trong hoạch định và tổ chức thực thi CSPTGD của Việt Nam [137]. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở trong nước, phát triển giáo dục là đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học… Tiêu biểu là quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nói về vai trò của giáo dục, tại Lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I ngày 12 tháng 6 năm 1956, Người nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Bây giờ đang xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để dần dần đến chủ nghĩa xã hội. Kháng chiến thì cần nhiều cán bộ quân sự. Bây giờ xây dựng kinh tế.
Không có cán bộ không làm được. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá” [89, tr. Tại Lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13 tháng 9 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra các công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà” [90, tr.
Theo Người, giáo dục bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục. Trong đó, “thể dục: để làm thân thể mạnh khoẻ, đồng thời cần giữ vệ sinh riêng và vệ sinh chung; trí dục: ôn lại những điều đã học, học thêm những tri thức mới; mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không đẹp; đức dục: là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công… [89, tr. Những quan điểm, tư tưởng của Người về giáo dục, phát triển giáo dục vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn đổi mới, phát triển giáo dục hiện nay. 16 Cuốn Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức (2010) của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức - những người sản sinh ra tri thức và ứng dụng sáng tạo tri thức sẽ đóng góp ngày càng lớn cho sự nghiệp phát triển KTXH.
Cuốn sách tập trung phân tích kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức là những nước phát triển hiện đại, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, có quá trình CNH - HĐH lâu dài, có nhiều thành công trong phát triển giáo dục; Hàn Quốc và Singapore là những nước công nghiệp mới, từ một trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật lạc hậu cách nay mấy thập kỷ nhưng đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nước phát triển mới nhờ vào sự quan tâm phát triển giáo dục, khoa học công nghệ; Trung Quốc là nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều thông tin và phân tích chính sách gắn phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước [114]. Đối với Việt Nam, công trình đã chỉ ra những bất cập, khuyết điểm trong phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức, trong đó chỉ ra các bất cập, khuyết điểm: “Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong thời gian qua chưa đủ sức chuyển biến mạnh mẽ lĩnh vực giáo dục, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước, các giải pháp đổi mới giáo dục còn lúng túng, chắp vá, bị động, chưa có chủ trương nhất quán tiến hành một cuộc cải cách giáo dục mới [114, tr. Những bất cập, khuyết điểm đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân: “Bất cập lớn nhất trong thời gian qua là các chủ trương, chính sách đúng đắn, song đã không được thực hiện nghiêm túc, mặt khác không có những chế tài đủ mạnh đảm bảo cho việc thực thi các chủ trương, chính sách đó” [114, tr.
Công trình cũng đưa ra các bài học kinh nghiệm, trong đó nhận định: “Trong quá trình chuẩn bị, xây dựng và ban hành các chính sách phát triển 17 các ngành, lĩnh vực kinh tế ít khi được tham vấn một cách cẩn trọng từ cơ sở lý luận khoa học, từ ý kiến các chuyên gia, cũng như chưa đưa các chủ trương đó vào trong chính sách phát triển các ngành, lĩnh vực” [114, tr. Cuốn Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế (2012) do Trần Quốc Toản chủ biên đã tập trung làm rõ các nội dung cơ bản về giáo dục trong điều kiện KTTT. Theo công trình nghiên cứu, trong điều kiện KTTT, giáo dục chịu sự tác động, điều tiết, chế định ở ba cấp độ: (i) Tác động của nền KTTT lên cả nền giáo dục (KTTT vừa là môi trường vừa là đối tượng phục vụ của giáo dục – đào tạo); (ii) Các yếu tố của quá trình giáo dục “đi vào” KTTT như thế nào, ở mức độ nào, hình thức nào?; (iii) Cơ chế thị trường được vận dụng trong cơ chế phát triển giáo dục như thế nào? [107]. Công trình nghiên cứu chỉ ra bản chất của giáo dục trong nền KTTT: i) Giáo dục là phúc lợi xã hội: “trong đó, mọi người dân đều có quyền được tiếp cận và tiếp cận và thụ hưởng giáo dục như nhau, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội… Tuy nhiên, trên thực tế không có nhà nước nào có đủ nguồn lực để thực hiện phổ quát quyền lợi học tập cho tất cả mọi người như nhau ở mọi cấp độ, nhất là khi giáo dục trở nên đại chúng hóa [107, tr.
120, 121]”; ii) Giáo dục là hàng hóa dịch vụ: “Trong điều kiện KTTT, giáo dục – đào tạo được coi là hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Dịch vụ giáo dục – đào tạo đưa ra cho xã hội, cho người tiêu dùng (người sử dụng, người hưởng thụ) các loại sản phẩm và hàng hóa dịch vụ cần thiết mà trọng tâm mà cung cấp tri thức cho người học” [107, tr.