Luận án Tiến sĩ: Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam - Vũ Đức Lễ

Khám phá chính sách phát triển giảng viên đại học công lập Việt Nam. Tìm hiểu chi tiết các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ và thách thức trong quá trình

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

220
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập

Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam là hệ thống quy định, định hướng của Nhà nước nhằm xây dựng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giảng dạy bậc đại học. Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội. Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nhà giáo. Thực tiễn cho thấy chính sách phát triển đội ngũ giảng viên cần bao quát nhiều lĩnh vực: thu hút, tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá và đãi ngộ. Các nghiên cứu quốc tế của Pamela N, Marcucci D, Bruce Johnstone (2006) cũng khẳng định tầm quan trọng của tài chính giáo dục và chính sách hỗ trợ giảng viên. Tại Việt Nam, nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách này.

1.1. Khái niệm và bản chất của chính sách phát triển đội ngũ giảng viên

Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên là tổng thể các quy định, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm thu hút, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ giảng viên đại học. Bản chất của chính sách này mang tính hệ thống, liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố: tuyển dụng đầu vào, đào tạo nâng cao trình độ, đánh giá năng lực và chế độ đãi ngộ. Phạm Tất Dong (2011) nhấn mạnh sản phẩm lao động của trí thức là hàng hóa đặc biệt, cần được trả giá xứng đáng trong nền kinh tế thị trường.

1.2. Vai trò của đội ngũ giảng viên trong hệ thống giáo dục đại học

Đội ngũ giảng viên đại học công lập đóng vai trò trung tâm trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Giảng viên là người trực tiếp truyền đạt kiến thức, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hình thành phẩm chất đạo đức cho sinh viên. Theo TS. Nguyễn Hải Thập (Bộ Giáo dục và Đào tạo), giảng viên giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo đại học. Phát triển đội ngũ giảng viên gắn liền với nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

II. Phân tích thực trạng và vấn đề trong phát triển đội ngũ giảng viên

Thực trạng đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết. Về cơ cấu, sự mất cân đối giữa các ngành nghề, vùng miền vẫn diễn ra rõ rệt. Đội ngũ giảng viên trình độ tiến sĩ tại nhiều trường chưa đạt tỷ lệ theo quy định. Tình trạng chảy máu chất xám, giảng viên giỏi chuyển sang khu vực tư nhân hoặc ra nước ngoài làm việc ngày càng tăng. Công tác tuyển dụng còn gặp khó khăn do mức lương chưa cạnh tranh so với thị trường lao động. Đánh giá năng lực giảng viên chưa đồng bộ, thiếu tiêu chí cụ thể theo chuẩn quốc tế. Chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với công sức và trình độ chuyên môn. Nhiều giảng viên trẻ có năng lực nhưng không mặn mà với nghề vì thu nhập thấp, cơ hội thăng tiến hạn chế. Tình trạng này đòi hỏi phải có giải pháp chính sách đồng bộ và căn cơ.

2.1. Những bất cập trong chính sách thu hút và tuyển dụng giảng viên

Chính sách thu hút giảng viên trình độ cao về công tác tại các trường đại học công lập còn nhiều hạn chế. Mức lương khởi điểm cho giảng viên mới tuyển dụng thấp hơn nhiều so với thu nhập trong khu vực doanh nghiệp. Quy trình tuyển dụng phức tạp, thiếu linh hoạt, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho ứng viên giỏi. Việc thu hút giảng viên người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng do thiếu cơ chế ưu đãi đặc biệt.

2.2. Hạn chế trong đào tạo bồi dưỡng và đánh giá giảng viên

Công tác đào tạo bồi dưỡng giảng viên chưa được đầu tư đúng mức, thiếu kế hoạch dài hạn. Nhiều chương trình đào tạo không đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nặng lý thuyết, thiếu thực hành. Hệ thống đánh giá năng lực giảng viên còn mang tính hình thức, chưa đo lường được hiệu quả thực tế công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tiêu chuẩn giảng viên các hạng chưa rõ ràng, thiếu cơ chế đánh giá định kỳ khách quan.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên

Hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần xây dựng khung chính sách tổng thể bao gồm: chính sách tuyển dụng và quản lý giảng viên, chính sách đào tạo bồi dưỡng, chính sách tiền lương phụ cấp và chính sách thu hút khác. Về quy hoạch, phải cân đối cơ cấu đội ngũ đảm bảo tính kế thừa và phát triển trước mắt cũng như tương lai. Căn cứ theo chuẩn năng lực và định hướng chiến lược phát triển ngành để quy hoạch chất lượng. Việc thu hút giảng viên cần mở rộng đối tượng, không phân biệt quốc tịch, độ tuổi, giới tính. Giao cho các trường đại học hàng đầu liên kết đào tạo chương trình tiên tiến với trường nước ngoài. Thực hiện công tác luân chuyển giảng viên giữa các vùng miền, tránh cục bộ bản vị. Nâng cao chế độ đãi ngộ, đảm bảo tiền lương và phụ cấp xứng đáng là động lực thúc đẩy giảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

3.1. Nâng cao chế độ đãi ngộ và thu hút giảng viên trình độ cao

Chế độ đãi ngộ là yếu tố quan trọng giúp đội ngũ giảng viên yên tâm công tác. Tiền lương, thưởng và các loại phụ cấp cần được tính toán xứng đáng, phản ánh đúng giá trị lao động đặc biệt của trí thức. Chính sách thu hút giảng viên trình độ cao ở nước ngoài, nhà khoa học, doanh nhân thành công về làm việc tại trường đại học cần có cơ chế ưu đãi đặc biệt. Đây là cầu nối quan trọng giữa nhà trường và thực tiễn sản xuất kinh doanh.

3.2. Đổi mới đào tạo bồi dưỡng và đánh giá năng lực giảng viên

Đào tạo bồi dưỡng giảng viên cần gắn liền với nhu cầu thực tế, tăng cường thực hành và nghiên cứu ứng dụng. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực khách quan, minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế. Đánh giá định kỳ dựa trên kết quả giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Cơ chế đánh giá phải khuyến khích đổi mới sáng tạo, tạo động lực cho giảng viên phát triển chuyên môn liên tục.

IV. Kết luận và ứng dụng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên

Nghiên cứu chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam cho thấy tầm quan trọng chiến lược của vấn đề này. Đội ngũ giảng viên chất lượng cao là nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục đại học, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cần xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, có tính hệ thống và dài hạn. Ứng dụng thực tiễn yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ và các cơ sở đào tạo. Mỗi trường đại học cần chủ động xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ phù hợp với đặc thù và định hướng phát triển. Tương lai, chính sách phát triển đội ngũ giảng viên phải thích ứng với xu thế cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận về quản lý công, chính sách giáo dục đại học ở Việt Nam. Về mặt lý luận, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm, nội dung và yếu tố tác động đến chính sách phát triển đội ngũ giảng viên. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý nhà nước tham khảo, hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển đội ngũ giảng viên đại học công lập.

4.2. Định hướng phát triển đội ngũ giảng viên trong bối cảnh mới

Định hướng phát triển đội ngũ giảng viên cần gắn với chiến lược phát triển đất nước và xu thế quốc tế. Ưu tiên đào tạo giảng viên có năng lực số, khả năng sáng tạo và tư duy phản biện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, trao đổi giảng viên và nghiên cứu khoa học. Xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên tham gia chuyển giao công nghệ, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận của chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập Chương 3: Thực trạng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập ở Việt Nam 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài 1. Về chính sách và chính sách công Trong những năm qua, các nghiên cứu liên quan đến giáo dục đại học nói chung và chính sách phát triển ĐNGV nói riêng đã được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu. Được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau.

Chính sách là đường lối cụ thể của một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy. Cấu trúc của chính sách: Đường lối cụ thể (nhằm thực hiện đường lối chung), biện pháp, kế hoạch thực hiện. Chủ thể ban hành chính sách: Cơ quan QLNN các cấp… Chính sách và chính sách công đã được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu và được tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Các tác giả William Jenkins trong: “Policy Analysis: A Political and Organise Perspective” (1978) [80]; Thomas R.Dye trong:”Understanding Public Policy” (1972) [75]; Jame.

Anderson trong:”Public Policy Making” (1984) đã đưa ra các quan điểm khác nhau về chính sách và chính sách công nhằm tìm kiếm một mô hình quản trị quốc gia hiệu quả. Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [70]. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [69, tr. Ở Việt Nam, nghiên cứu về chính sách công mới được tiến hành từ những năm đầu thập kỷ chín mươi.

Trong tác phẩm “Giáo trình phân tích và hoạch định chính sách công”, các tác giả của Học viện Hành chính Quốc gia đã nghiên cứu lý luận về chính sách công và quy trình hoạch định và thực thi chính sách công [31]. Theo tác giả Vũ Cao Đàm trong cuốn “Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách” thì chính sách là một thiết chế xã hội, bao gồm tập hợp nhiều thiết chế ngầm định [18]; “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một 9 mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát: Có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, trường học; cũng có một định nghĩa khác “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”. Trong nghiên cứu của tác giả Võ Kim Sơn trong cuốn “Phân tích chính sách trong quy trình chính sách và vai trò của nó trong quá trình soạn thảo luật” [54] và tác giả Lê Chi Mai trong “Những vấn đề cơ bản về chính sách công và chu trình chính sách” đã nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau về chính sách công và chu trình chính sách [45].

Trong cuốn sách chuyên khảo “Tìm hiểu hành chính công Hoa Kỳ lý thuyết và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Hữu Hải chủ biên có dành chương XI nghiên cứu về chính sách công đã phân tích khá sâu sắc về: Hoạch định, phân tích chính sách công, chủ nghĩa tự do và chính sách công, sáng kiến và nghịch lý trong chính sách công [23]. Theo các tác giả nghiên cứu về chính sách công ở Việt Nam thì chính sách khu vực nhà nước là chính sách quốc gia và phần lớn được hiểu đồng nghĩa với chính sách công và thường luận giải dưới góc độ chính trị, thể hiện tính đan xen, phức hợp của hệ thống chính sách, tương ứng với đặc điểm thể chế chính trị quốc gia. Về chính sách giáo dục đại học Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan, “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” [12]. Theo hai tác giả: Giảng viên là nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo NNL ở nước ta.

Đã phân tích, đánh giá sâu sắc vai trò, vị trí của trí thức giáo dục, đưa ra các giải pháp xây dựng, phát triển ĐNGV trước yêu cầu hội nhập quốc tế; Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển ĐNGV các trường đại học; Lê Thị Kim Dung (2012), “Hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” [17], Luận án Tiến sĩ Luật đã xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật giáo dục đại học và hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học; đề xuất các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học. Phân tích, đánh giá các ưu điểm và hạn 10 chế của pháp luật về giáo dục đại học trong thời gian qua. Trên cơ sở lý luận được xây dựng, những đặc điểm và hạn chế của chính sách giáo dục đại học, kết hợp tham khảo pháp luật giáo dục đại học của một số nước trên thế giới, tác giả đề xuất những phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển ĐNGV hiện nay; Nguyễn Bá Cần (2009), “Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” [9], Luận án Tiến sĩ Kinh tế, luận án tiếp cận đặc điểm của giáo dục đại học (GDĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả cho rằng: Là một loại sản phẩm dịch vụ, GDĐH có đầy đủ tính chất kinh tế giống như các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác, nhưng nó không thích hợp với việc mua - bán hàng hóa. Khi so sánh với các loại dịch vụ khác thì “sản phẩm dịch vụ GDĐH còn có tính đặc thù - đó là những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia.

Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hóa có ngoại biên thuận”; Đỗ Thị Hòa (2011), “Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường đại học ngoài công lập” [28], Đề tài khoa học cấp bộ, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về chính sách phát triển ĐNGV các trường đại học ngoài công lập ở nước ta. Nghiên cứu thực trạng chính sách đối với ĐNGV cho thấy: Trên thực tế tồn tại một hệ thống khá nhiều văn bản QPPL đã được ban hành. Tuy nhiên, hệ thống chính sách này chưa đầy đủ, còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ và đặc biệt, còn thiếu những chính sách quan trọng, phù hợp và những cơ chế thực hiện thống nhất đối với cả 2 khối trường đại học công lập (ĐHCL) và đại học ngoài công lập như: Thiếu chính sách qui hoạch ĐNGV toàn hệ thống GDĐH; chưa có chính sách thu hút những người có đủ tiêu chuẩn, trình độ cao về làm giảng viên; còn thiếu văn bản qui định về hệ thống tiêu chí đánh giá đầy đủ, toàn diện cả về phẩm chất, nhân cách, năng lực chuyên môn của giảng viên; chưa có chính sách hỗ trợ ban đầu về đào tạo giảng viên cho các trường mới thành lập; chưa có chính sách thống nhất về bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trường công lập và ngoài công lập; Ngoài ra, chính sách đãi ngộ, tôn vinh giảng viên hiện nay chưa phù hợp, chưa thỏa đáng; 11 Ngô Thị Minh (2013), “Hoàn thiện chính sách đối với trường đại học thuộc tỉnh ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay” [47], Luận án Tiến sĩ nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động của việc ban hành, triển khai một số chính sách hiện hành nhằm phát triển trường đại học địa phương ở Việt Nam.

Sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách đối với trường đại học đa cấp, đa ngành tại các địa phương. Đồng thời, đề xuất việc hoàn thiện một số chính sách: Xác lập vị trí pháp lý; quy hoạch mạng lưới; xác lập mô hình tổ chức, quản lý và phương thức đào tạo; chính sách đầu tư tạo nguồn lực; chính sách phát triển các quan hệ, liên kết nhằm giúp các trường thực hiện thành công sứ mệnh của mình; Đặng Thị Minh (2015), “Chính sách phát triển trường đại học tư thục ở Việt Nam” [46], Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công đã bổ sung về mặt học thuật các khái niệm, vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển trường đại học tư thục trong đó có nghiên cứu nội dung chính sách phát triển ĐNGV. Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện các chính sách phát triển ĐNGV như: Xây dựng quy hoạch tổng thể, dài hạn cho sự phát triển ĐNGV trong toàn hệ thống giáo dục đại học; bổ sung, sửa đổi các chính sách nhằm nâng cao chất lượng hệ thống các trường đại học sư phạm đảm bảo chuẩn đào tạo giảng viên; Nhà nước xây dựng và triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định về tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp của giảng viên đại học (GVĐH) trong toàn hệ thống; đảm bảo sự bình đẳng giảng viên ĐHCL và tư thục; thống nhất chế độ làm việc của giảng viên cho đại học công lập và tư thục; Vught F. Đã đúc kết hai mô hình điều khiển hệ thống giáo dục đại học của nhà nước mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của phương thức giám sát, nguyên lý tự quản và quản trị tốt; Fielden J.

(2008), “Global trends in university governance”, WB, Washington D. Đã hệ thống và khái quát xu hướng toàn cầu hóa trong quản trị đại học về thể chế hóa địa vị pháp lý các trường đại học công như các thực thể độc lập, tự chủ, giảm bớt sự kiểm soát nhà nước, trao quyền tự chủ tài chính cho các trường, tăng cường các biện pháp đảm bảo trách nhiệm xã hội, tăng cường hiệu quả quản lý cấp trường thông qua xây dựng Hội đồng trường…; 12 Salmi (2009), “The growing accountability agenda in tertiary education: Progress or mixed blessing”, WB Education Working Paper Series, No.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ