Luận án tiến sĩ chính sách dinh dưỡng học đường cho học sinh tiểu học - Nguyễn Hồng Trường, Học viện Hành chính Quốc gia

Luận án tiến sĩ phân tích chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học Việt Nam. Nghiên cứu chi tiết các biện pháp nâng cao sức khỏe, phát triển trí tuệ và thể

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học

Chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học là một phần quan trọng trong hệ thống chính sách y tế và giáo dục của Việt Nam. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Trường năm 2017 tại Học viện Hành chính Quốc gia đã nghiên cứu sâu về chủ đề này. Nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng xây dựng và thực thi chính sách dinh dưỡng học đường cấp tiểu học. Dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đối với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 10. Các chất dinh dưỡng chính bao gồm protein, sắt, canxi, vitamin C và kẽm. Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi vẫn là vấn đề phổ biến với tỷ lệ khoảng 29,5% trẻ em Việt Nam. Chính sách dinh dưỡng học đường bao gồm nhiều nội dung: chương trình bữa ăn học đường, tăng cường vi chất dinh dưỡng, giáo dục kiến thức dinh dưỡng và giám sát tình trạng dinh dưỡng. Nhà nước sử dụng chính sách như công cụ định hướng phát triển xã hội. Qua các mục tiêu, nội dung và biện pháp thực thi, chính sách tác động đến hành vi của các đối tượng trong xã hội theo những mục tiêu mong muốn của nhà xây dựng chính sách.

1.1. Khái niệm và vai trò của chính sách dinh dưỡng học đường

Chính sách dinh dưỡng học đường được hiểu là tập hợp các quy định, chương trình và biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Mục tiêu nhằm đảm bảo chế độ dinh dưỡng phù hợp cho học sinh trong môi trường giáo dục. Chính sách có ba vai trò cơ bản. Thứ nhất là vai trò định hướng phát triển xã hội. Thứ hai là vai trò hỗ trợ, khuyến khích và kích thích sự phát triển. Thứ ba là vai trò điều tiết phân phối nguồn lực giữa các vùng miền. Đối với học sinh tiểu học, chính sách tập trung vào bữa ăn trưa tại trường, chương trình sữa học đường và tăng cường bổ sung vi chất. Các chương trình này giúp cải thiện tầm vóc, thể lực và kết quả học tập của trẻ.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dinh dưỡng học đường

Nghiên cứu quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã triển khai thành công chương trình dinh dưỡng học đường. Nhật Bản là điển hình với Luật Bữa ăn học đường từ năm 1954. Chương trình giúp cải thiện đáng kể tầm vóc và sức khỏe học sinh. Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện. Lê Danh Tuyên và cộng sự năm 2010 nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em. Phạm Thị Bích Ngọc năm 2006 nghiên cứu khuynh hướng tăng trưởng thế tục về chiều cao và cân nặng trẻ em giai đoạn 1975 đến 2000. Tuy nhiên, các nghiên cứu về chính sách dinh dưỡng học đường dưới góc độ quản lý công vẫn còn hạn chế. Luận án của Nguyễn Hồng Trường lấp đầy khoảng trống nghiên cứu này.

II. Phân tích thực trạng dinh dưỡng học sinh tiểu học Việt Nam

Thực trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học ở Việt Nam đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi khoảng 29,5%. Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như sắt, kẽm, vitamin A vẫn phổ biến. Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền. Trẻ em vùng nông thôn và miền núi có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn thành thị. Điều kiện kinh tế gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ ăn của trẻ. Việc thực thi chính sách dinh dưỡng học đường còn nhiều bất cập. Ngân sách đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Đội ngũ nhân viên y tế trường học thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn. Cơ sở vật chất bếp ăn bán trú chưa đạt chuẩn. Mối liên kết giữa các bộ, ngành trong triển khai chính sách còn lỏng lẻo. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương cần phối hợp chặt chẽ hơn. Công tác giám sát đánh giá hiệu quả chính sách chưa được thực hiện thường xuyên.

2.1. Tình trạng suy dinh dưỡng và thiếu vi chất ở học sinh

Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học Việt Nam có những đặc điểm riêng. Giai đoạn 2000 đến 2015, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi giảm từ 36,5% xuống còn khoảng 24%. Tuy nhiên, tốc độ giảm chưa đạt mục tiêu đề ra. Nghiên cứu về khuynh hướng tăng trưởng thế tục cho thấy chiều cao và cân nặng trẻ em Việt Nam đã tăng rõ rệt. Đặc biệt trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, sự cải thiện thể hiện rõ nét. Yếu tố dinh dưỡng được xem là quan trọng nhất. Thiếu máu do thiếu sắt ảnh hưởng đến khả năng học tập. Thiếu kẽm làm giảm miễn dịch và tăng trưởng. Các vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở vùng khó khăn.

2.2. Các bất cập trong thực thi chính sách dinh dưỡng học đường

Chính sách dinh dưỡng học đường Việt Nam đối mặt nhiều thách thức. Thứ nhất, khung pháp lý chưa hoàn thiện. Các văn bản quy phạm pháp luật về dinh dưỡng học đường còn phân tán và thiếu đồng bộ. Thứ hai, nguồn lực thực thi hạn chế. Ngân sách trung ương và địa phương chưa đáp ứng nhu cầu. Nhân lực chuyên trách dinh dưỡng tại trường tiểu học rất thiếu. Thứ ba, nhận thức của phụ huynh và giáo viên còn hạn chế. Nhiều gia đình chưa ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của bữa ăn học đường. Thứ tư, cơ chế phối hợp liên ngành chưa hiệu quả. Sự phối hợp giữa y tế và giáo dục còn mang tính hình thức.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách dinh dưỡng học đường

Nghiên cứu chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều. Luận án áp dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng. Phương pháp này cho phép đánh giá toàn diện hiệu quả chính sách. Phương pháp định lượng bao gồm khảo sát bằng phiếu điều tra. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn đại diện cho các vùng miền trên cả nước. Số liệu về tình trạng dinh dưỡng được thu thập và phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Phương pháp định tính sử dụng phỏng vấn sâu và nhóm thảo luận tập trung. Các đối tượng bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế trường học. Phụ huynh học sinh cũng được tham gia khảo sát. Luận án đề xuất nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách. Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý là ưu tiên hàng đầu. Tiếp đến là tăng cường đầu tư nguồn lực và nâng cao năng lực thực thi. Giải pháp xây dựng cơ chế giám sát đánh giá cũng rất cần thiết để đảm bảo tính bền vững.

3.1. Phương pháp nghiên cứu đánh giá chính sách dinh dưỡng

Phương pháp nghiên cứu của luận án được thiết kế khoa học và chặt chẽ. Nghiên cứu sử dụng kết hợp nhiều phương pháp thu thập dữ liệu khác nhau. Điều này đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Khảo sát thực địa được tiến hành tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Các địa phương đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Mẫu nghiên cứu bao gồm trường tiểu học ở cả thành thị và nông thôn. Phỏng vấn sâu với các chuyên gia dinh dưỡng và quản lý giáo dục. Nhóm thảo luận tập trung với phụ huynh học sinh. Phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê quốc gia cũng được sử dụng.

3.2. Hệ thống giải pháp đề xuất cho chính sách dinh dưỡng học đường

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho chính sách dinh dưỡng học đường. Giải pháp thứ nhất là hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Cần xây dựng luật riêng về dinh dưỡng học đường để đảm bảo tính pháp lý cao nhất. Giải pháp thứ hai là tăng cường nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước. Cần ưu tiên cho chương trình bữa ăn học đường và xã hội hóa nguồn lực từ khu vực tư nhân. Giải pháp thứ ba là nâng cao năng lực đội ngũ nhân viên y tế trường học. Đào tạo chuyên sâu về dinh dưỡng cho giáo viên. Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về dinh dưỡng học đường cũng cần được đẩy mạnh.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu chính sách dinh dưỡng

Luận án tiến sĩ về chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện chính sách dinh dưỡng học đường hiệu quả hơn. Về mặt khoa học, luận án đóng góp vào lý luận quản lý công về chính sách xã hội. Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tác động của chính sách dinh dưỡng đến sức khỏe học sinh. Hệ thống tiêu chí đánh giá chính sách được xây dựng bài bản và có giá trị tham khảo. Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bằng chứng cho các nhà hoạch định chính sách. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao và áp dụng được cho nhiều địa phương. Kết quả nghiên cứu phản ánh trung thực thực trạng triển khai chính sách tại Việt Nam. Luận án cũng mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về so sánh chính sách dinh dưỡng học đường giữa các quốc gia và đánh giá tác động dài hạn của chương trình bữa ăn học đường.

4.1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp lý luận của luận án

Ý nghĩa khoa học của luận án thể hiện ở nhiều khía cạnh quan trọng. Thứ nhất, luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách dinh dưỡng học đường. Đây là đóng góp quý giá cho ngành quản lý công Việt Nam. Thứ hai, nghiên cứu xây dựng khung phân tích đánh giá chính sách dinh dưỡng. Khung này có thể áp dụng cho các chính sách xã hội khác. Phương pháp tiếp cận liên ngành được phát huy hiệu quả trong nghiên cứu. Thứ ba, luận án cung cấp dữ liệu thực tế về tình trạng dinh dưỡng học sinh tiểu học. Dữ liệu này phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về dinh dưỡng cộng đồng.

4.2. Khuyến nghị cho việc xây dựng và thực hiện chính sách

Từ kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra nhiều khuyến nghị cụ thể cho các cấp quản lý. Đối với cấp trung ương, cần ban hành luật về dinh dưỡng học đường và tăng cường phân bổ ngân sách cho chương trình bữa ăn trưa tại trường. Đối với cấp địa phương, cần thành lập ban chỉ đạo dinh dưỡng học đường. Tăng cường vai trò của trung tâm y tế dự phòng trong giám sát dinh dưỡng. Huy động sự tham gia của cộng đồng vào chương trình. Đối với cơ sở giáo dục, xây dựng thực đơn cân đối dinh dưỡng cho học sinh. Đội ngũ nhân viên bếp ăn cần được đào tạo vệ sinh an toàn thực phẩm. Giáo viên cần tích hợp kiến thức dinh dưỡng vào bài giảng hàng ngày.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ chính sách dinh dưỡng cho học sinh tiểu học ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH DINH DƯỠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Các tài liệu, công trình nghiên cứu về dinh dưỡng 1. Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài 1. Nghiên cứu về vi chất dinh dưỡng ở trẻ em Theo cách ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2000, ở bất cứ nơi nào, khi tỷ lệ SDD thể thấp còi (stunting) > 20%, nơi đó được coi là thiếu kẽm có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.

Khoảng 30% dân số thế giới bị thiếu kẽm và một tỷ lệ lớn trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu kẽm.55] Một điều tra ở Mexico ở trẻ 1 - 11 tuổi năm 2006, kết quả cho thấy, thiếu kẽm vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng ở đất nước này với tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ 1 - 4 tuổi là 28,1% và trẻ 5 - 11 tuổi là 25,8%[146, tr. Nghiên cứu trên trẻ em học đường 11 - 18 tuổi tại Delhi kết quả cũng cho thấy có 49,4% (50,8% nam và 48,2% nữ) bị thiếu kẽm. Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1.375 trẻ em ở Trung Quốc cho thấy rằng: mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) đã giảm, nhưng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng vẫn còn tồn tại cao ở trẻ em. Tỷ lệ chung thiếu kẽm trong huyết thanh (38,2%) và sắt (24,3%).

Trẻ em ở trường mầm non khu vực nông thôn có tỷ lệ thiếu kẽm cao nhất, trong khi những ở khu vực thành thị có mức độ thiếu sắt cao hơn. Trẻ em sống trong các gia đình (≤3 người) có tỷ lệ thiếu kẽm trong huyết thanh cao hơn so với trẻ em ở các gia đình có số người lớn hơn (41,8% so với 34,1%).23] Những phát hiện của các nhà nghiên cứu cho thấy trong việc phát triển kinh tế - xã hội gần đây của Trung Quốc cần có sự giám sát liên tục các yếu tố dinh dưỡng và làm nổi bật tầm quan trọng của ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở trẻ em ngay cả trong khu vực phát triển. Năm 2010, một cuộc điều tra về tình hình thiếu kẽm ở 1.655 đối tượng trẻ em từ 6 - 60 tháng tuổi (836 nam và 819 nữ) tại một số bang ở Miền Bắc và Miền Nam Ấn Độ cho thấy, tỷ lệ thiếu kẽm chung của quốc gia là 43,8%. Tỷ lệ thiếu kẽm cao nhất ở Orissa (51,3%), tiếp theo là Uttar Pradesh (48,1%), Gujarat (44,2%), Madhya Pradesh (38,9%) và Karnataka (36,2%).[154, tr72] Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, có khoảng một tỷ người thiếu vitamin D hoặc hàm lượng vitamin D thấp,[147, tr.8] thiếu vitamin D ở trẻ em có thể gây chậm phát triển và có các dấu hiệu và triệu chứng kinh điển của còi xương.[147,148] Ở người lớn, thiếu vitamin D sẽ làm giảm quá trình tạo xương, làm trầm trọng bệnh loãng xương và làm tăng nguy cơ gẫy xương.[147,148] Các nghiên cứu trên trẻ em Đông Nam Á và 8 thanh thiếu niên ở châu Phi, châu Mỹ cho thấy hậu quả của chế độ ăn nghèo canxi sẽ làm tăng dị hóa viatamin D, thiếu vitamin D và còi xương.[146,147] Nghiên cứu về vitamin D ở các nước trên thế giới và trong báo cáo kết quả nghiên cứu ở châu Á cho thấy, tình trạng thiếu vitamin D và vitamin D thấp vẫn đang là vấn đề cần được quan tâm.

Nghiên cứu ở Pakistan và Ấn Độ cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ em rất cao.[138,151] Nghiên cứu cũng thấy rằng tỷ lệ thiếu vitamin D cao nhất ở Mông Cổ và Trung Quốc.75-87] Tỷ lệ thiếu vitamin D và vitamin D thấp ở phụ nữ Bắc Kinh, Hồng Kông, Indonesia,[179,144,] và ở trẻ em Malaysia, mặc dù họ đang sống ở gần xích đạo. Nghiên cứu tình trạng thiếu vitamin ở trẻ từ 1 - 6 tháng tuổi tại Hàn Quốc cho thấy, trong 117 trẻ tham gia nghiên cứu có 48,7% số trẻ trong quần thể điều tra bị thiếu vitamin D. Những trẻ bú mẹ hoàn toàn có nồng độ vitamin D huyết thanh thấp hơn so với những trẻ được ăn thêm sữa công thức. Nghiên cứu về thiếu máu, thiếu sắt ở trẻ em Kết quả điều tra về tình hình thiếu máu, thiếu sắt ở một số nước cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em vẫn còn rất cao ở các nước phát triển 53%; ở Ấn Độ; 45%; ở Indonesia; 37,9% ở Trung quốc; và 31,8% ở Philipine.

Ở các nước phát triển, tỷ lệ thiếu máu tương đối thấp, ở Mỹ khoảng từ 3 - 20%; Hàn quốc là 15%.[176,177] Tại Iran, nơi bổ sung sắt là một chính sách bắt buộc đối với phụ nữ có thai và trẻ em dưới hai tuổi, thì tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em 6 tháng đến 5 tuổi vẫn là 19,7%, cao hơn so với các nước phát triển.[153] Nghiên cứu ở Brazil thấy rằng, tỷ lệ thiếu máu là 60,4% ở trẻ 0 - 35,9 tháng và 54% ở trẻ 6 - 15,9 tháng. Nghiên cứu về thừa cân, béo phì ở trẻ em Trước đây thừa cân, béo phì (TCBP) được xem như là đặc điểm riêng của các nước có thu nhập cao, nhưng gần đây TCBP đã tăng lên một cách kỷ lục ở cả những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nhất là ở vùng đô thị. Năm 2009, khoảng 300 triệu người ở các nước có thu nhập thấp, hơn 200 triệu người ở các nước có thu nhập trung bình và dưới 100 triệu người ở các nước có thu nhập cao bị tử vong có liên quan tới TCBP. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tử vong do các yếu tố liên quan đến béo phì cao hơn so với các yếu tố liên quan đến SDD, 65% dân số ở các nước có thu nhập trung bình và cao có tỷ lệ tử vong do căn nguyên béo phì cao hơn so với căn nguyên SDD.

Trên phạm vi toàn cầu thì TCBP gây tử vong nhiều hơn thiếu cân.57-65] Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về TCBP của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy, có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị TCBP (35 triệu trẻ em từ các nước đang phát triển, 8 triệu từ các nước đã phát triển), 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân. Tỷ lệ TCBP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% (CI 9 95%: 3,2% - 5,2%) năm 1990 lên 6,7% (CI 95%: 5,6% - 7,7%) vào năm 2010. Với xu hướng này thì dự kiến đến năm 2020 sẽ có 9,1% (CI 95%: 7,3% - 10,9%), tương đương với khoảng 60 triệu trẻ em bị TCBP. Tỷ lệ TCBP của trẻ em châu Phi là 8,5% năm 2010, ước tính năm 2020 sẽ là 12,7%, tỷ lệ béo phì ở các nước phát triển cao gấp 2 lần các nước đang phát triển.64] Hiện nay ở Mỹ, TCBP đang là mối quan tâm hàng đầu của ngành y tế và toàn xã hội.

Theo nghiên cứu từ năm 1971 - 1974, tỷ lệ béo phì ở trẻ nam 6 - 11 tuổi là 18,2%, trẻ em nữ là 13,9%. Nhưng đến năm 1988 - 1991 thì tỷ lệ này đã là 22,3% và 22,7%. Đáng chú ý là thừa cân ở trẻ em gái 4 - 5 tuổi tăng từ 5,8% năm 1974, lên 10,8% năm 1994. Cũng ở Mỹ, vào năm 2004, TCBP ở học sinh 6 -17 tuổi rất cao, tới 35,1% (nam) và 36% (nữ).1723-1727] Tại châu Á, tỷ lệ TCBP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng, tại Trung Quốc các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từ năm 1989 và 1997 cho thấy, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 - 6 tuổi tăng rất nhanh từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị.1-16] Ở Thái Lan, trong những năm 1990, tỷ lệ béo phì ở trẻ từ 6 - 12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2 năm.3-14] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế.

Tại châu Phi, số lượng trẻ em bị TCBP tăng từ 4 triệu trẻ năm 1990 lên 13 triệu trẻ vào năm 2010. Ở châu Á, tuy tỷ lệ TCBP không cao như châu Phi, nhưng số lượng trẻ bị TCBP thì rất cao (tăng từ 13 triệu trẻ em năm 1990 lên 18 triệu năm 2010), cao nhất trong 3 châu lục. Ngoài việc phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng của TCBP thì các quốc gia ở châu Á còn phải đối mặt với sự gia tăng nhanh của SDD thể còm còi, tạo ra gánh nặng kép về dinh dưỡng.3-14] Châu Mỹ La tinh có khoảng 2,4 triệu trẻ thừa cân và 1.591 trẻ SDD còm còi; riêng các nước đang phát triển có khoảng 3,3 triệu trẻ thừa cân và 50.3009-3016] Ở châu Mỹ La tinh, thừa cân và SDD còm còi có liên quan tỷ lệ nghịch với nhau. Ở các nước có tỷ lệ SDD còm còi thấp, thì lại có tỷ lệ thừa cân cao.

Ngược lại ở các nước có tỷ lệ SDD còm còi cao thì có tỷ lệ thừa cân thấp. Nhìn chung, tất cả các nước này đều phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, song song với vấn đề SDD còm còi là thừa cân của trẻ. Các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân ở trong nước Nghiên cứu, tìm hiểu, điều tra về tình hình dinh dưỡng cũng là một chủ đề được nhiều bác sỹ và các nhà quản lý y tế ở nước ta rất quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu đặc biệt là trong những năm gần đây, có thể nói đến một số công trình khoa học sau: 10 Theo nội dung giáo trình “Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” của tác giả Phạm Huy Tường, Nhà xuất bản Giáo dục 2012, dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sức khỏe và quá trình phát triển của cơ thể con người, dinh dưỡng có liên quan đến một số căn bệnh mãn tính như: béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh loãng xương và một số bệnh ung thư. 20-35] Cuốn sách giáo trình “Dinh dưỡng và VSATTP” của Trường Đại học Y Hà Nội, Nhà xuất bản Y học 2012, dùng cho đối tượng là sinh viên chuyên khoa dinh dưỡng cộng đồng.

Thông qua giáo trình, học giả có thể hiểu rõ hơn về lịch sử dinh dưỡng, mối quan hệ của dinh dưỡng với sức khỏe, bệnh tật; vấn đề an ninh dinh dưỡng, an ninh thực phẩm và đường lối dinh dưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ