Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách KH&CN ở cơ sở GDĐH. Thực trạng thực hiện chính sách KH&CN ở ĐHTN hiện nay.
Định hướng và giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách KH&CN ở ĐHTN hiện nay. 12 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tình hình nghiên cứu về chính sách công, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách khoa học và công nghệ ở cơ sở giáo dục đại học 1. Nhóm những công trình nghiên cứu về chính sách công, chính sách khoa học và công nghệ a) Nghiên cứu trong nước: Dương Xuân Ngọc và đồng tác giả (2008) với công trình: Khoa học chính sách công, nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Theo các tác giả, chính sách công có từ lâu đời nhưng giữa thế kỷ XX mới thực sự trở thành khoa học độc lập và phát triển mạnh mẽ.
Ở nước ta, chưa có sự thống nhất các tính chất, tiêu chí về chính sách công để phân biệt chính sách với đường lối, chiến lược, cũng như khó phân định được đường lối của Đảng với chính sách của Nhà nước. Từ đó các tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng, chức năng nhiệm vụ và phương pháp của khoa học chính sách công, chủ thể quy trình và phân tích chính sách công, hoạch định chính sách công, tổ chức thực hiện chính sách công, đánh giá hoàn thiện chính sách công. Các tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề chung về chính sách công ở Việt Nam, những thành tựu, hạn chế và phương hướng nhằm đổi mới và hoàn thiện việc xây dựng chính sách công ở nước ta hiện nay [93]. Phạm Quý Thọ và đồng tác giả (2012) với công trình Chính sách công, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
Theo nhóm tác giả, chính sách công là một bộ môn còn non trẻ ở nước ta. Trong những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu việc hoạch định các chính sách công đã được Đảng, Nhà nước ta và cả xã hội quan tâm. Theo nhóm tác giả chính sách công là một hệ thống, và khoa học chính sách công phải nghiên cứu chỉ ra được nội dung và bản chất chính sách công, cấu trúc hệ thống chính sách công, chủ thể hoạt động chính sách công, công cụ chính sách công, hoạch định và thực thi chính sách công, đánh giá chính sách công, kết thúc và chu kỳ của chính sách công, và một số chính sách công tại Việt Nam [114]. Hồ Việt Hạnh (2018) với bài viết Bàn về khái niệm chính sách công, Tạp chí Nhân lực KHXH, số 12/2017.
Theo tác giả, chính sách công là một ngành khoa học có tính ứng dụng cao song được nghiên cứu ở nước ta chưa lâu. Chính vì vậy mà nhiều vấn đề căn cốt của ngành khoa học này vẫn còn được tranh luận một cách sôi nổi. Trong những vấn đề căn cốt đó có vấn đề khái niệm chính sách công. Nhằm góp phần làm rõ vấn đề này, bài viết tập trung làm rõ khái niệm chính sách công dựa trên cách tiếp cận quyền lực và trong sự so sánh với chính sách tư [68].
13 Võ Khánh Vinh (2016) với bài viết Khoa học chính sách công: Một số vấn đề cơ bản, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 10/2016. Theo tác giả, khoa học chính sách công là một ngành mới phát triển ở nước ta trong những thập niên gần đây. Khoa học chính sách công nghiên cứu chính sách công ở tất cả các phương diện phong phú, đa dạng của nó. Bài viết bước đầu luận giải chính sách công với tư cách là một khoa học, làm sáng tỏ những vấn đề: chính sách công trong quan hệ hiện thực và quan hệ nghiên cứu, hiểu biết chính sách công và khoa học chính sách công, sự hình thành và phát triển của khoa học chính sách công, nghề chính sách công, cơ cấu của khoa học chính sách công [137].
Nguyễn Hữu Hải (2010) với công trình sách chuyên khảo Chính sách công – Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Công trình cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về chính sách công như: quá trình phát triển khoa học chính sách; đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; cấu trúc nội dung và chu trình chính sách công; nguyên tắc, căn cứ, các bước và phương pháp, công cụ hoạch định chính sách công; yêu cầu, các hình thức, phương pháp tổ chức thực thi chính sách công và phân cấp quản lý chính sách công; nguyên tắc, tiêu chí, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích chính sách công; nội dung đánh giá chính sách công; tổ chức công tác phân tích, đánh giá chính sách công. Đặc biệt tác giả còn chú trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào thực tiễn đánh giá chính sách công [65]. Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2013) (đồng chủ biên) với công trình Đại cương về chính sách công, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Mục đích của công trình nhằm đáp ứng nhu cầu về giảng dạy và học tập về chính sách công cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành chính sách công và là tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ, công chức đang hoạt động thực tiễn trong các cơ quan nhà nước, những nhà nghiên cứu về chính sách công,. Nội dung của cuốn sách giới thiệu những kiến thức đại cương về phân tích chính sách công như: khái quát về phân tích chính sách công, đặc trưng của nghề phân tích chính sách công, tiêu chuẩn nhân sự làm chuyên môn về phân tích chính sách công, quy trình, nội dung và phương pháp phân tích chính sách công. Các tác giả đặc biệt chú trọng đến việc vận dụng những kiến thức cơ bản vào thực tiễn phân tích chính sách công thông qua rèn luyện kỹ năng trong các bài tập ứng dụng [66]. 14 Lê Văn Hòa (2016) với công trình Quản lý thực thi chính sách công theo kết quả, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Tác giả tập trung làm rõ bản chất của quản lý theo kết quả, bản chất của thực thi chính sách công và quản lý thực thi chính sách công theo kết quả, đánh giá thực trạng quản lý thực thi chính sách công ở Việt Nam; từ đó đề xuất áp dụng quản lý thực thi chính sách công theo kết quả, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm giải trình và phát huy dân chủ trong thực thi chính sách công ở Việt Nam [71]. Đặng Duy Thịnh (2014), với nghiên cứu “Những chặng đường phát triển của chính sách KH&CN Việt Nam”. Bằng các phương pháp như nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn sâu, tác giả đã chỉ ra mốc lịch sử của nền khoa học hiện đại Việt Nam bắt nguồn từ năm 1906 khi Toàn quyền Pháp tại Đông dương ký sắc lệnh thành lập Viện Đại học Đông Dương; nghiên cứu không phủ nhận thành quả của các bậc tiền nhân trước năm 1945 và cả các thành tựu của miền Nam trước 1975, nhưng nghiên cứu chỉ tập trung từ giai đoạn 1959 đến nay, năm khởi đầu thành lập Ủy ban Khoa học nhà nước. Những chặng đường phát triển của Chính sách KH&CN Việt Nam được tác giả khái quát trong các luận điểm: 1- Từ hoạt động KH&CN thuộc quyền độc tôn chỉ huy quan liêu của Nhà nước sang hoạt động KH&CN đa thành phần trên thị trường; 2- Từ cách thức tổ chức biệt lập đến mối liên kết ngày càng chặt chẽ giữa KH&CN với sản xuất và đào tạo trong một thiết chế hướng tới tự trị; 3- Từ nguồn tài chính duy nhất của Nhà nước cấp phát theo nguyên tắc hành chính cứng nhắc đến nguồn tài chính đa dạng, hoạt động theo thị trường; 4- Từ nguồn nhân lực KH&CN tù đọng, hành chính hóa sang nguồn nhân lực ngày càng vận động linh hoạt theo thị trường; 5- Chủ động đưa các thành tựu công nghệ đối mặt với thị trường.
Chính sách KH&CN thời gian qua đã chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang quản lý theo pháp quyền; chuyển từ Nhà nước độc tôn thực hiện nhiệm vụ KH&CN sang đa dạng hóa hoạt động KH&CN và chuyển từ việc doanh nghiệp không tham gia hoạt động KH&CN sang doanh nghiệp trở thành chủ thể chính trong hoạt động KH&CN [113]. Trần Quốc Khánh (2014) với đề tài: Một số nội dung cơ bản trong đổi mới chính sách KH&CN đã chỉ ra những điểm đổi mới toàn diện trong chính sách KH&CN của Việt Nam trong những năm gần đây, đánh dấu bằng ba văn bản quan trọng: Nghị quyết Trung ương 6 khóa IX về "Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN 15 và HNQT (Nghị quyết số 20 - NQ/TW ngày 01/11/2012); Luật KH&CN số 29/2013/QH13; Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020. Nghiên cứu đã chỉ ra những điểm đổi mới căn bản trong chính sách KH&CN của Việt Nam từ đổi mới chính sách nhân lực KH&CN như việc ưu đãi đối với người bổ nhiệm vào các chức danh khoa học, chức danh công nghệ; chính sách thu hút và trọng dụng đối với ba nhóm các nhà khoa học là nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng và nhà khoa học trẻ tài năng; đối với cơ chế chính sách quản lý nhiệm vụ KH&CN nhấn mạnh vào việc “đẩy mạnh thực hiện cơ chế đặt hàng, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ KH&CN và cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm KH&CN cuối cùng theo kết quả đầu ra. Xây dựng cơ chế đặc thù trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN”[54]; đối với chính sách đầu tư cho KH&CN, nghiên cứu đã chỉ ra việc huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và nguồn vốn nước ngoài đầu tư cho phát triển KH&CN, không ngừng tăng đầu tư GDP cho KH&CN tăng 2% đến năm 2020 và tăng 3% đến năm 2030 [82;22,23]; đối với chính sách tài chính cho KH&CN đã chỉ ra những điểm mới trong chính sách như khoán chi đối với thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách Nhà nước; cấp kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH&CN theo hình thức quỹ [82;24].
Phan Xuân Dũng (2016), nghiên cứu Đẩy mạnh hoạt động KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phân tích tổng hợp, tác giả cho rằng KH&CN đóng vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH. Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng trí tuệ và tố chất của đội ngũ cán bộ KH&CN cũng như người dân Việt Nam, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.