Luận án tiến sĩ về cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ

Khám phá luận án tiến sĩ về cặp thoại hỏi trả lời cầu khiến hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ, phân tích sâu sắc và ý nghĩa nghệ thuật.

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Lý Luận Ngôn Ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

169
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kịch Lưu Quang Vũ

1.1.1. Nghiên cứu chung về phong cách nghệ thuật kịch Lưu Quang Vũ

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẶP THOẠI HỎI - TRẢ LỜI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CẶP THOẠI CẦU KHIẾN - HỒI ĐÁP TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

4. CHƯƠNG 4: TỪ NGỮ XƯNG HÔ QUA CẶP THOẠI HỎI - TRẢ LỜI, CẦU KHIẾN - HỒI ĐÁP TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ

Luận án tiến sĩ của Đàm Thị Ngọc Ngà tập trung vào việc phân tích cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cấu trúc và ngữ nghĩa của các cặp thoại mà còn chỉ ra vai trò của chúng trong việc phát triển cốt truyện và thể hiện phong cách nghệ thuật của tác giả. Kịch Lưu Quang Vũ nổi bật với ngôn ngữ sắc sảo và tính hiện đại, điều này tạo nên sự hấp dẫn cho các tác phẩm của ông.

1.1. Đặc điểm ngôn ngữ trong kịch Lưu Quang Vũ

Ngôn ngữ trong kịch Lưu Quang Vũ mang tính khẩu ngữ cao, thể hiện rõ nét qua các cặp thoại. Các nhân vật thường sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, gần gũi, tạo cảm giác chân thật cho người xem. Điều này giúp khán giả dễ dàng cảm nhận được tâm tư, tình cảm của nhân vật.

1.2. Mục đích nghiên cứu luận án

Mục đích chính của luận án là làm sáng tỏ đặc điểm cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp. Nghiên cứu này nhằm bổ sung lý thuyết về ngôn ngữ kịch hiện đại và chỉ ra những biểu hiện nghệ thuật độc đáo của Lưu Quang Vũ.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cặp thoại kịch

Nghiên cứu cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc phân tích ngữ nghĩa và cấu trúc của các cặp thoại. Việc xác định rõ ràng các hành động ngôn ngữ và cách thức tương tác giữa các nhân vật là rất quan trọng. Điều này đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về lý thuyết hội thoại và ngữ dụng học.

2.1. Thách thức trong việc phân tích ngữ nghĩa

Phân tích ngữ nghĩa của cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ không chỉ đơn thuần là xác định nội dung mà còn phải hiểu được ý định của nhân vật. Điều này đòi hỏi sự nhạy bén trong việc nắm bắt ngữ cảnh và tâm lý nhân vật.

2.2. Khó khăn trong việc xác định cấu trúc cặp thoại

Cấu trúc cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ thường phức tạp, với nhiều lớp nghĩa và cách thức tương tác khác nhau. Việc xác định rõ ràng các thành phần trong cặp thoại là một thách thức lớn đối với người nghiên cứu.

III. Phương pháp nghiên cứu cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ. Các phương pháp này bao gồm phân tích diễn ngôn, thống kê, và so sánh. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng, giúp làm rõ đặc điểm của cặp thoại trong tác phẩm.

3.1. Phân tích diễn ngôn trong cặp thoại

Phân tích diễn ngôn là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu này. Nó giúp làm rõ cách thức mà các nhân vật tương tác với nhau qua các cặp thoại, từ đó chỉ ra được ý nghĩa sâu xa của từng lời nói.

3.2. Thống kê và phân loại cặp thoại

Phương pháp thống kê được sử dụng để xác định tần suất xuất hiện của các cặp thoại trong các tác phẩm của Lưu Quang Vũ. Điều này giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về cách sử dụng cặp thoại trong kịch.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu cặp thoại trong kịch

Nghiên cứu cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy và học tập. Việc hiểu rõ cách thức tương tác trong kịch sẽ giúp sinh viên và người học có cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ kịch.

4.1. Giá trị giáo dục của nghiên cứu

Nghiên cứu này có thể được áp dụng trong giảng dạy ngôn ngữ kịch, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về cách thức sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật. Điều này sẽ nâng cao khả năng phân tích và cảm thụ văn học của sinh viên.

4.2. Đóng góp cho nghiên cứu ngôn ngữ học

Luận án góp phần làm phong phú thêm lý thuyết ngôn ngữ học, đặc biệt là trong lĩnh vực ngôn ngữ kịch. Những phát hiện từ nghiên cứu này có thể được áp dụng cho các tác phẩm kịch khác, mở rộng phạm vi nghiên cứu.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu cặp thoại trong kịch

Luận án đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật của cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp trong kịch Lưu Quang Vũ. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ cấu trúc và ngữ nghĩa của các cặp thoại mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các tác phẩm kịch khác trong tương lai.

5.1. Tóm tắt những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cặp thoại hỏi - trả lời và cầu khiến - hồi đáp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển cốt truyện và thể hiện phong cách nghệ thuật của Lưu Quang Vũ. Những phát hiện này có thể được áp dụng cho các tác phẩm khác.

5.2. Hướng nghiên cứu tương lai

Nghiên cứu có thể mở rộng sang các tác phẩm kịch khác, từ đó so sánh và đối chiếu với kịch Lưu Quang Vũ. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ kịch trong văn học Việt Nam.

22/06/2025
Luận án tiến sĩ cặp thoại hỏi trả lời cầu khiến hồi đáp trong kịch lưu quang vũ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu (mở thoại), đoạn thoại thân cuộc thoại (thân thoại), đoạn thoại kết thúc (kết thoại). Thông thường, đoạn mở và kết thoại có cấu trúc tương đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại. Đoạn mở thoại thường có tính công thức và đưa đẩy, nhằm mục đích tạo lập quan hệ là cơ bản. Đoạn thân thoại có thể chỉ một đoạn thoại hoặc một số đoạn thoại.

Mỗi một đoạn thoại có sự thống nhất về chủ đề, phạm vi hiện thực. Tuy nhiên, trong một cuộc thoại có nhiều đoạn thoại, thì mỗi đoạn thoại có thể có những chủ đề nhỏ, phản ánh những mặt, những khía cạnh, bình biện khác nhau nhằm làm sáng tỏ chủ đề lớn. Đoạn kết thoại thường là tổng kết cuộc thoại, kết luận về một đề tài kèm theo lời cảm ơn, lời chúc, từ biệt. Nhìn chung, đoạn mở thoại và đoạn kết thoại phụ thuộc nhiều vào yếu tố như: hoàn cảnh giao tiếp, nền văn hóa của dân tộc, mục đích giao tiếp cũng như tính chất của cuộc thoại.

Khái niệm Trong hệ thống cấu trúc hội thoại, cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu nhưng chưa phải là đơn vị cuối cùng. Nó là cặp thoại kế cận, nằm ở vị trí trung gian giữa tham thoại, đơn vị bậc dưới và đoạn thoại, đơn vị bậc trên. Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên” [15, tr. Tác giả Đỗ Thị Kim Liên quan niệm: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, cũng tức là cặp thoại kế cận, gồm hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp” [59, tr.

Luận án tiếp thu quan điểm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên khi đi vào tìm hiểu cặp thoại trong kịch Lưu Quang Vũ. Tham thoại ở lượt lời người trao gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai ở lượt lời người đáp gọi là tham thoại hồi đáp. Một cặp thoại ít nhất phải do hai tham thoại tạo nên. Có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để phân loại các cặp thoại như sau: - Cặp thoại một tham thoại xảy ra trong trường hợp: Người nghe thực hiện một hành động vật lý (gật - lắc đầu, xua tay…) thay cho hành động ngôn ngữ, hoặc người nghe im lặng, không có hành động gì cả (cặp thoại hẫng).

- Cặp thoại hai tham thoại (cặp thoại đôi), tương đương với sự kiện lời nói tối thiểu, gồm một cặp kế cận. - Cặp thoại ba tham thoại (cặp thoại ba). Về nguyên tắc một cặp thoại đủ hai tham thoại mới hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong thực tế chúng ta còn gặp ba tham thoại, 16 tham thoại thứ ba thường là biểu thị sự tán đồng, đánh giá, khẳng định, chúc mừng… nhằm “đóng lại” cặp thoại đó và mở ra cặp thoại khác.

Thường thì hai tham thoại trong cặp thoại liền kề nhau nhưng đôi khi hai tham thoại trong một cặp không liền kề nhau mà bị tách ra bởi một hoặc nhiều cặp thoại khác. Như vậy, cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ tương thích về chức năng. Một đoạn thoại có thể bao gồm nhiều cặp thoại, nhưng vai trò của mỗi cặp thoại không giống nhau. Căn cứ vào vai trò của nó mà chia thành cặp thoại chủ hướng và các cặp thoại phụ thuộc (cặp thoại củng cố, cặp thoại sửa chữa).

Cặp thoại hỏi - trả lời Trong kịch Lưu Quang Vũ, cặp thoại hỏi - trả lời xuất hiện nhiều nhất, có vai trò quan trọng trong việc phát triển cốt truyện kịch. Cặp thoại hỏi - trả lời là cặp thoại có tham thoại trao chứa hành động hỏi, tham thoại hồi đáp chứa lời hồi đáp. Tham thoại trao chứa hành động hỏi có thể chỉ có 1 hành động hỏi, cũng có thể có một số hành động, trong đó hành động hỏi là hành động chính. Tham thoại hồi đáp có thể chỉ có một hành động nhằm trả lời trực tiếp vào nội dung hành động hỏi, cũng có thể có một số hành động.

Khảo sát các cặp thoại hỏi - trả lời, chúng tôi thấy các tham thoại tồn tại theo các kiểu kết cấu sau: - Tham thoại trao là hành động hỏi, tham thoại hồi đáp chỉ có 1 hành động. Hoàng Việt: - Cháu nó đâu? Bà Bộng: - Nó đứng ngoài kia ạ.48] - Tham thoại trao là hành động hỏi, tham thoại hồi đáp là một số hành động (3). Trương Ba: - Thế bà có tin lời họ không? Vợ Trương Ba: - Tôi không tin. Nhưng ông ơi, có lẽ ông cũng nên biết tính toán hơn một chút, quần quật với mảnh vườn vừa vừa thôi.

Tham thoại hồi đáp trên có 2 hành động: (1) hành động trình bày và (2) hành động khuyên nhủ. - Tham thoại trao có hành động hỏi là chính và các hành động đi kèm, tham thoại hồi đáp là một hành động. Chính: - Việc của tôi cũng khẩn cấp. Việc của chúng ta.

Những lá thư tôi viết về, Nhâm đã đọc rồi nhỉ? Nhâm: - Em đã đọc.31] - Tham thoại trao có hành động hỏi là chính và các hành động đi kèm, tham thoại hồi đáp cũng có một số hành động. Ông Hà: - Kìa con! Bạn thân hả? Các chú ấy bảo con quen nhiều cô, đào hoa lắm hả? Hiến: - Họ đồn đại. Đơn vị bộ đội mà cũng hay đồn đại xì xầm như ở cái làng. Cặp thoại cầu khiến - hồi đáp Cặp thoại cầu khiến - hồi đáp là cặp thoại có tham thoại trao chứa hành động cầu khiến và tham thoại hồi đáp chứa thái độ đồng tình, phản đối hay lấp lửng.

Tham thoại trao chứa hành động cầu khiến có thể chỉ có 1 hành động cầu khiến, cũng có thể có một số hành động, trong đó, hành động cầu khiến là hành động chính. Tham thoại hồi đáp có thể chỉ có một hành động hoặc một số hành động. Cụ thể: - Tham thoại trao là hành động cầu khiến, tham thoại hồi đáp là một hành động đồng tình, phủ định hoặc lấp lửng. Bà Bộng: - Ông im đi! Ông Quýnh: - Có bà im đi thì có! [II, tr.18] - Tham thoại trao là hành động cầu khiến, tham thoại hồi đáp có 3 hành động (phủ đinh, giải trình, dặn dò).

Định: - Có im đi không? Dũng: - Không. Tôi đang phát huy quyền dân chủ. Miễn anh đừng có run lên như cầy sấy và làm tôi xấu hổ [IV, 14] - Tham thoại trao có một số hành động, trong đó có hành động cầu khiến là chính và một số hành động đi kèm, còn tham thoại hồi đáp lại có một hành động bình giá. Định: - Thôi cô Ngọc nhé, tôi đang bận, tôi đã ghi biển không tiếp khách ngoài cửa phòng.

Cô đi đi cho! Bây giờ không phải lúc. Ngọc: - Hơi hắc ín quá đấy! [III, 32] - Tham thoại trao có một số hành động, trong đó có hành động cầu khiến là chính và một số hành động đi kèm, tham thoại hồi đáp là một số hành động. Anh nhân viên: - Tôi là bảo vệ ở đây. Đây không phải cái chợ.

Cả cô nữa, đi đi! Cúc: - Thế để tôi bỏ cái bảng này đi đã (Chỉ cái bảng "Nhân dân là chủ") - Ai cho phép đầy tớ đuổi chủ. Thế là hỗn đấy chú em ạ! [IV, tr.33] Trong ví dụ (9), tham thoại trao có 3 hành động: hành động giới thiệu về bản thân, hành động phủ định A mà khẳng định B, hành động cầu khiến. Tham thoại hồi đáp cũng có 3 hành động: hành động đề nghị, hành động hỏi, hành động bình giá. Một trong những đặc điểm của cặp trao - đáp trong kịch Lưu Quang Vũ là 18 không có hiện tượng cố tình lạc đề.

Ngược lại, trong khẩu ngữ, vì những lý do riêng, có khi người đáp cố tình lạc đề. Tóm lại, trong kịch Lưu Quang Vũ các cặp thoại linh hoạt, đa dạng về kết cấu, tuy vậy chúng ta thường gặp dạng thoại gồm hai nhân vật mà giữa họ luôn diễn ra lời trao và lời đáp (hỏi – trả lời, cầu khiến – đồng tình/phản đối/lấp lửng), chúng diễn ra liên tục mới tạo nên một chu trình giao tiếp khép kín. Tham thoại Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham thoại khác lập thành một cặp. Theo Đỗ Hữu Châu: “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [15, tr.

Tham thoại được tính từ khi bắt đầu nói đến khi kết thúc. Tham thoại là đơn vị trực tiếp cấu thành cặp thoại. Tham thoại có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượt lời. Một tham thoại do một hoặc một số hành động ngôn ngữ tạo nên.

Nếu tham thoại do nhiều hành động ngôn ngữ tạo nên thì tham thoại đó sẽ chứa một hành động nòng cốt (chủ hướng - CH) và các hành động phụ thuộc (PT). Xét về tiêu chí cấu tạo, chúng ta có tham thoại đơn và tham thoại phức. Tham thoại đơn là tham thoại chỉ có một hành động, đó là hành động chính. Nhâm: - Sao anh biết? Minh: - Đoán thế.5] Tham thoại phức là tham thoại có từ hai hành động trở lên, trong đó có hành động chính, chủ hướng và một hay nhiều hành động đi kèm.

Tìm hiểu các cặp thoại cầu khiến - hồi đáp, hỏi - trả lời của nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ, chúng tôi thấy, trong lời nhân vật không chỉ có tham thoại đơn mà còn có cả tham thoại phức. Vì vậy, chúng tôi đi sâu phân tích cả hai loại tham thoại đơn và phức. Hành động ngôn ngữ (là đơn vị nhỏ nhất của hội thoại sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở mục 1. Các nhân tố chi phối hội thoại a.

Ngữ cảnh giao tiếp a1. Khái niệm: Ngữ cảnh là một trong những khái niệm cơ bản của ngữ dụng học. Tuy nhiên, khái niệm ngữ cảnh được các tác giả trình bày theo hai hướng: + Ngữ cảnh được hiểu theo nghĩa hẹp Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Ngữ cảnh là “Tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá 19 trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói. Căn cứ vào ngữ cảnh giải thích nghĩa của từ” [76, tr.

Theo quan niệm này, ngữ cảnh được hiểu trong phạm vi hẹp, đồng nghĩa với chu cảnh, gồm toàn bộ không gian, thời gian cụ thể cho phép một câu nói nói được hay không nói được. Tác giả Đỗ Hữu Châu sử dụng thuật ngữ “thoại trường” để chỉ khái niệm hoàn cảnh giao tiếp hẹp. Theo ông, một cuộc giao tiếp phải diễn ra trong một không, thời gian cụ thể. Theo đó, “thoại trường” được hiểu là cái không - thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan đến nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực xây dựng và công nghệ. Một trong những điểm nổi bật là việc nghiên cứu ứng xử của nền đất yếu gia cố, điều này rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các công trình xây dựng. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về các phương pháp gia cố nền đất, giúp giảm thiểu rủi ro trong quá trình thi công.

Ngoài ra, tài liệu cũng đề cập đến các ứng dụng công nghệ hiện đại như Ứng dụng computer vision trong bài toán proof of delivery, giúp nâng cao hiệu quả trong quản lý và giao nhận hàng hóa. Độc giả có thể khám phá thêm về Phân tích rủi ro tài chính dự án xây dựng chung cư ở thành phố Hồ Chí Minh, để hiểu rõ hơn về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến các dự án xây dựng.

Cuối cùng, việc tìm hiểu về Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc giảm thiểu chất thải xây dựng và phá dỡ tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp độc giả nắm bắt được các chiến lược bền vững trong ngành xây dựng. Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực này.