CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự cần thiết của nghiên cứu 1. Về mặt lý thuyết Chuyển giao quyền sở hữu tài sản và quyền kiểm soát doanh nghiệp nhà nước từ nhà nước sang khu vực tư nhân là khái niệm tư nhân hóa (Privatization) theo quan điểm của Ngân hàng thế giới được chấp nhận rộng rãi (Shirley, 1992). Tuy nhiên, ở Việt Nam, dùng từ cổ phần hóa (Equitization) phù hợp hơn, tư nhân hóa là cách gọi của thế giới, cổ phần hóa là cách gọi của Việt Nam và được hiểu là chuyển doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần.
Lý thuyết quyền sở hữu (Property right theory) (Coase, 1960; Alchian & Demsetz, 1973; Furubotn & Pejovich, 1972) cho rằng sự tập trung quyền sở hữu vào tư nhân sẽ tạo động lực tìm kiếm lợi nhuận hơn so với sự phân tán, không rõ ràng của sở hữu công. Lý thuyết người đại diện (Agency theory) (Jensen & Merkling (1976) cho rằng các nhà quản lý trong doanh nghiệp nhà nước không có động lực để tìm kiếm lợi nhuận, bởi bản chất của con người là có tính tư lợi, sự tồn tại của thông tin bất cân xứng sẽ dẫn đến hành vi cơ hội của người đại diện khi lợi ích của người chủ sở hữu và người đại diện mâu thuẫn với nhau. Lý thuyết lựa chọn công (Public choice theory) (Buchanan, 1978; Ott & Hartley, 1993; Gubin et al., 1999) cho rằng tính không hiệu quả của sở hữu công do lợi ích cá nhân của các nhà làm chính trị. Chính phủ theo đuổi mục tiêu chính trị sẽ mâu thuẫn với việc tối đa hóa lợi nhuận, sự can thiệp chính trị vào kinh tế có thể làm lệch mục tiêu và gây trở ngại đến công việc điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản lý (Shleifer & Vishny, 1997).
Lý thuyết người đại diện, lý thuyết quyền sở hữu, lý thuyết lựa chọn công đều có chung quan điểm rằng sở hữu tư nhân bản chất vốn có là hiệu quả hơn so với sở hữu nhà nước xét về mặt kinh tế (Zhibin, 2004), nên việc chuyển quyền sở hữu và quyền kiểm soát DNNN từ nhà nước sang khu vực tư nhân là cách tốt nhất để cải thiện kết quả kinh doanh. 2 Djankov & Murrell (2002) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp (meta analysis), tổng hợp hơn 100 nghiên cứu về tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi, tác giả rút ra kết luận rằng sở hữu công nhân viên, sở hữu của lãnh đạo, sở hữu nhà nước là những sở hữu cản trở nhiều nhất hoạt động thay đổi cấu trúc chủ sở hữu khi tư nhân hóa và sau tư nhân hóa. Sở hữu công nhân viên, sở hữu của lãnh đạo trong công ty thậm chí chống lại quá trình tái cấu trúc, làm quá trình tư nhân hóa chậm lại ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch tư nhân hóa của chính phủ. Trong khi đó, sở hữu nước ngoài, sở hữu các nhà đầu tư lớn sẽ giúp đẩy nhanh quá trình thay đổi, tái cấu trúc chủ sở hữu lần lượt gấp 12 và 10 lần so với cổ đông nội bộ và tư nhân phân tán.
Iwasaki & Mizobata (2017) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, tác giả tập hợp 121 nghiên cứu trước giai đoạn 1989-2015, để nghiên cứu mối quan hệ giữa các loại sở hữu sau tư nhân hóa và kết quả kinh doanh, kết quả cho thấy có sự ảnh hưởng vượt trội của loại hình sở hữu nước ngoài với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân hóa so với loại hình sở hữu nhà nước và sở hữu khác trong nước, có bằng chứng rõ ràng rằng tư nhân hóa theo cách bán ưu đãi cổ phần là một sự nguy hiểm của chính sách tư nhân hóa trong các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi. Bachiller (2016) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, tác giả tổng hợp 60 nghiên cứu về mối quan hệ giữa tư nhân hóa và kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 1989-2014 thuộc 48 quốc gia, để kiểm định vấn đề còn tranh cãi là phương pháp tư nhân hóa và mức độ phát triển của quốc gia ảnh hưởng thế nào đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp tư nhân hóa sẽ quyết định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, những doanh nghiệp tư nhân hóa theo cách bán cổ phần rộng rãi ra công chúng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn so với những doanh nghiệp được tư nhân hóa theo các phương pháp khác như bán khép kín hay bán với giá ưu đãi. Kết quả nghiên cứu cũng cho rằng có bằng chứng mạnh mẽ bác bỏ quan điểm cho rằng tư nhân hóa tại các nước đang phát triển không có sự cải thiện kết quả kinh doanh về mặt tài chính, ảnh hưởng của quá trình hội nhập khu vực và thế 3 giới gắn kết với sự thay đổi cấu trúc chủ sở hữu là nguyên nhân dẫn đến sự cải thiện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tại các quốc gia đang phát triển.
Phổ biến nhất là các nghiên cứu đo lường kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân hóa theo phương pháp đo lường khách quan (Objective performance), sử dụng dữ liệu tài chính thứ cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của doanh nghiệp để phân tích, đánh giá kết quả kinh doanh trên cơ sở các chỉ số tài chính truyền thống. Phần lớn các nghiên cứu đều có bằng chứng cho thấy rằng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân hóa tốt hơn doanh nghiệp nhà nước (Shirley & Walsh, 2000; Djankov & Murrell, 2002), tư nhân hóa sẽ dẫn đến cải thiện chi phí, sáng tạo và đổi mới (Shleifer, 1998) cũng như cải thiện quản trị DN và tăng năng lực cạnh tranh (Shirley & Walsh, 2000), nhiều nghiên cứu thực nghiệm cũng đưa ra bằng chứng khẳng định tư nhân hóa, bao gồm tư nhân hóa từng phần có tác động dương đến kết quả kinh doanh xét về mặt lợi nhuận tài chính (Boycko et al. Xét về mối quan hệ giữa các loại hình chủ sở hữu và kết quả kinh doanh, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu với phương pháp nghiên cứu định lượng như Sun & Tong (2003); Gupta (2005); We et al., (2005) được thực hiện tại Trung Quốc, nước có nền kinh tế chuyển đổi khá tương đồng với Việt Nam, kết luận rằng sở hữu nhà nước có mối quan hệ âm với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp cổ phần hóa từng phần. Lin et al., (2009) nghiên cứu 461 doanh nghiệp cổ phần hóa hoạt động trong lĩnh vực sản xuất tại Trung Quốc giai đoạn 1990 – 2002, kết quả chỉ ra rằng trong các loại hình sở hữu, hầu hết sở hữu nhà nước có mối quan hệ âm với kết quả kinh doanh, có bằng chứng chắc chắn rằng sự can thiệp chính trị vào kinh tế đã làm doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả.
Qua đó, cho thấy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giúp cải thiện quản trị doanh nghiệp đã làm tăng kết quả kinh doanh, nhưng cổ phần hóa từng phần mà không chuyển giao quyền sở hữu và quyền kiểm soát từ nhà nước sang các hình thức ngoài nhà nước vẫn là nguyên nhân chính dẫn đến việc hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp cổ phần hóa tại Trung 4 Quốc. Li et al., (2012) nghiên cứu kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cổ phần hóa tại Trung Quốc, dựa trên lý thuyết người đại diện, các tác giả đã chia thành ba loại hình sở hữu trong doanh nghiệp cổ phần hóa, bao gồm do nhà nước kiểm soát, sở hữu phân tán và do tư nhân kiểm soát. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng loại hình sở hữu nào kiểm soát doanh nghiệp sau cổ phần hóa đóng vai trò quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thuộc sở hữu phân tán và do tư nhân kiểm soát có sự cải thiện kết quả kinh doanh rõ ràng và giảm chi phí người đại diện (agency cost) hơn nhiều so với doanh nghiệp do vốn nhà nước kiểm soát. Garaca (2017) cho rằng tư nhân hóa mà không chuyển giao quyền kiểm soát doanh nghiệp thì sẽ không giải quyết được vấn đề mà doanh nghiệp nhà nước đang đối mặt là sự thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả về mặt tài chính là kết luận chung của nhiều nghiên cứu.
Lý do chung nhất của hầu hết các nghiên cứu để giải thích doanh nghiệp tư nhân hóa hoạt động tốt hơn so với trước kia là doanh nghiệp nhà nước là vấn đề cải thiện chất lượng quản trị doanh nghiệp, cụ thể hơn là các chủ sở hữu tư nhân sẽ yêu cầu các nhà quản lý tập trung tìm kiếm lợi nhuận một cách quyết liệt, mạnh mẽ hơn so với sự quan liêu của các nhà quản lý thuộc doanh nghiệp nhà nước (Shleifer & Vishny, 1997). Bên cạnh các nghiên cứu phổ biến liên quan đến mối quan hệ giữa các loại hình sở hữu và kết quả kinh doanh, còn có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố phi sở hữu và kết quả kinh doanh. Garaca (2017) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp (meta analysis), tác giả tổng hợp hơn 150 nghiên cứu khác nhau về tư nhân hóa, kết quả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh thường được nhắc đến như sự can thiệp chính trị, sự thiếu động lực của ban quản lý là nguyên nhân dẫn đến việc kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp do nhà nước có vốn chi phối. Dựa trên nền tảng lý thuyết người đại diện, lý thuyết quyền sở hữu và lý thuyết lựa chọn công, trên cơ sở phương pháp nghiên cứu định tính, Cuervo & Villalonga, (2000); Ramaswami & Glinow, (2000); Shaker et al., (2000); Orawee, (2007), Cuervo & Villalonga (2000) kết luận rằng tư nhân hóa là sự khởi đầu cho một quá trình 5 thay đổi trong doanh nghiệp, bao gồm phong cách lãnh đạo, động lực của ban quản lý, mục tiêu, động cơ làm việc, chiến lược kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và những nhân tố này tác động đến kết quả kinh doanh.
Muzangaza (2001) sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp định tính và định lượng, khảo sát 500 doanh nghiệp tại Zimbabwe, kết luận rằng việc tồn tại sự khác nhau giữa ý thức hệ và hành vi giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân là nhân tố cản trở quá trình chuyển đổi sở hữu từ lĩnh vực công sang lĩnh vực tư. Trong đó, ý thức hệ là nhân tố cản trở giai đoạn bắt đầu của chương trình tư nhân hóa, hành vi là nhân tố cản trở trong quá trình thực thi chương trình tư nhân hóa.