Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học "Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Quỳnh thực hiện tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2014), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt và TS. Nguyễn Thanh Bình. Công trình thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62.05).
Về tính cấp thiết, vấn đề con người và giáo dục con người giữ vị trí trọng tâm trong lịch sử triết học, gắn liền với sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận nhận thức. Nho giáo từ khi hình thành đã coi giáo dục là công cụ chủ yếu để quản lý xã hội. Tại Việt Nam, từ thời Lý đến thời Lê sơ, các triều đại phong kiến đã tiếp nhận tư tưởng giáo dục Nho giáo làm cơ sở lý luận nhằm xây dựng hệ thống giáo dục - khoa cử, đào tạo quan lại phục vụ bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Mặc dù Nho giáo không còn giữ vai trò chi phối trong kiến trúc thượng tầng xã hội hiện đại, ảnh hưởng của nó vẫn tồn tại lâu dài trên hai phương diện tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực thể hiện ở truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tinh thần "học không biết chán, dạy người không biết mệt"; mặt tiêu cực là tâm lý thi cử cầu danh, chạy theo bằng cấp, coi trọng hư danh hơn thực học. Trước yêu cầu đổi mới căn bản nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng giáo dục Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó trong lịch sử là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: phần lớn các công trình trước đây tiếp cận Nho giáo và giáo dục Nho học dưới góc độ sử học, văn hóa học hoặc liệt kê sự kiện, chưa có công trình nào đi sâu phân tích toàn diện quá trình ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trình bày có hệ thống tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, từ đó làm rõ ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể:
- Trình bày khái quát sự ra đời và những nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc về giáo dục.
- Phân tích quá trình ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV.
- Phân tích một số đóng góp chủ yếu của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp đổi mới, phát triển nền giáo dục ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Nho giáo về giáo dục và sự ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV.
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, luận án tập trung vào tư tưởng Nho giáo về giáo dục (mục đích, nguyên tắc, nội dung, phương pháp); lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đại Việt giai đoạn thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV (thời Lý, Trần, Hồ, Lê sơ); đồng thời liên hệ với thực trạng cùng những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam hiện nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về Nho giáo và tư tưởng giáo dục của Nho giáo.
Tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu trình bày cô đọng các tư tưởng Nho giáo, nhấn mạnh tính chất nhân bản sâu sắc và vai trò hoàn thiện nhân cách, dù nhân cách này thuần túy nhìn từ góc độ đạo đức Nho gia. Tác phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim hệ thống hóa các phạm trù cơ bản nhằm đề cao giá trị học thuyết trong bối cảnh Pháp bãi bỏ khoa cử (1919), tuy nhiên có xu hướng tuyệt đối hóa vai trò Nho học. Tác phẩm Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào Duy Anh nhìn nhận Nho giáo khách quan, biện chứng hơn khi khẳng định công dụng lịch sử không thể phủ nhận của học thuyết. Nguyễn Khắc Viện trong Bàn về đạo Nho phân tích các phạm trù Nhân, Lễ, Nghĩa và tác động của chúng tới văn hóa Việt Nam. Tác phẩm Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm vạch rõ hai mặt tích cực và tiêu cực của Nho giáo để giữ gìn nhân tố hợp lý và loại trừ tàn dư trong xã hội hiện đại.
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo tới giáo dục - khoa cử Việt Nam thế kỷ XI - XV.
Vũ Khiêu trong bài viết Những vấn đề Nho giáo trong lịch sử tư tưởng Việt Nam và tác phẩm Bàn về văn hiến Việt Nam khẳng định thời Bắc thuộc và một thế kỷ đầu độc lập, Nho giáo chưa có vai trò đáng kể, chỉ từ thời Lý - Trần mới phát triển và đạt cực thịnh dưới thời Lê sơ. Trần Nghĩa (Thử bàn về thời điểm du nhập cùng tính chất, vai trò của Nho học Việt Nam thời Bắc thuộc) và Nguyễn Thanh Bình (Về sự du nhập và phát triển của Nho giáo Việt Nam từ thời Bắc thuộc đến triều Lý) làm rõ thời điểm du nhập Nho học vào đầu Công nguyên qua con đường xâm lược và giao lưu văn hóa, khẳng định thời Bắc thuộc Nho học chỉ đóng vai trò phụ trợ cho Phật giáo. Nguyễn Đăng Thục (Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 5) phác họa việc dung hợp Tam giáo thời Lý - Trần và sự chuyển dịch dần sang Nho học. Trần Văn Giàu (Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám) nhấn mạnh triều Lý sùng Phật nhưng củng cố chính quyền thì dựa vào Nho giáo. Các công trình lịch sử giáo dục của Nguyễn Đăng Tiến (Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 - 1945), Nguyễn Tiến Cường (Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến), Bùi Xuân Đính (Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long Hà Nội), Vũ Ngọc Khánh (Giai thoại các vị đại khoa Việt Nam), Phan Trọng Báu (Giáo dục Việt Nam thời cận đại), và Trần Đình Hượu (Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại) đều phân tích sự hình thành trường lớp, quy chế thi cử, lối học từ chương cử tử và tính hai mặt của việc đào tạo đội ngũ quan lại. Nguyễn Đức Sự trong Vị trí và vai trò của Nho giáo ở thời kỳ cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam lý giải nguyên nhân Nho giáo độc tôn thời Lê sơ gắn với nhu cầu củng cố chế độ quân chủ trung ương tập quyền.
Nhóm thứ ba: Các công trình về ý nghĩa của tư tưởng giáo dục Nho giáo đối với giáo dục hiện nay.
Lê Văn Giạng (Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam) đúc kết bài học về tác hại của lối học giáo điều, hư danh, đồng thời khẳng định tác dụng củng cố nhà nước phong kiến buổi đầu. Nguyễn Thị Nga và Hồ Trọng Hoài (Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người), Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng (Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp), Hoàng Thu Trang (Tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay) đề xuất các giải pháp kế thừa giá trị đạo đức và khắc phục hạn chế lịch sử.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Luận án kế thừa tư liệu từ các công trình đi trước nhưng lựa chọn hướng tiếp cận triết học chuyên sâu, dùng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa nhu cầu tồn tại xã hội (xây dựng thể chế quân chủ tập quyền) với việc lựa chọn, biến đổi mô hình giáo dục - khoa cử Nho học từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, chỉ ra bước chuyển về chất của nền giáo dục truyền thống qua từng giai đoạn lịch sử.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát triển giáo dục - đào tạo.
Hệ thống khái niệm và thuật ngữ công cụ được xác định rõ:
- Nho giáo: Viết tắt của mệnh đề "dĩ Nho học giáo dân", nhấn mạnh khía cạnh ứng dụng, vai trò giáo hóa và quản lý xã hội của học thuyết.
- Nho học: Viết tắt của "Nho gia học thuyết", chỉ toàn bộ hệ thống tư tưởng và nền học thuật của phái Nho gia.
- Nho thuật: Phương pháp, cách thức ứng dụng Nho học vào công việc trị nước, an dân và đời sống chính trị.
- Tư tưởng Nho giáo về giáo dục: Hệ thống các quan niệm, quan điểm về mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục.
- Hệ thống giáo dục - khoa cử: Được tiếp cận dưới góc độ chỉnh thể phức hợp, vừa mang tính "hệ thống vật chất" (trường lớp, cấp bậc đào tạo, quy chế thi cử, sự đầu tư của nhà nước), vừa mang tính "hệ thống ý niệm" (hệ thống khái niệm, lý luận dùng để hoạch định đường lối giáo dục).
- Lĩnh vực giáo dục - khoa cử: Khái niệm bao hàm cả hệ thống trường quy chính thống lẫn các hình thức giáo huấn đạo đức xã hội ngoài quy chế thi cử.
Phương pháp nghiên cứu thực tế: Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy thuộc chuyên ngành triết học, không sử dụng các kỹ thuật định lượng hay mô hình thống kê thực nghiệm. Tác giả kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động khách quan của giáo dục Nho học từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc tại Trung Quốc đến các chặng đường lịch sử Đại Việt (thời Bắc thuộc, Ngô - Đinh - Tiền Lê, Lý - Trần - Hồ, và Lê sơ).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các yếu tố cấu thành tư tưởng giáo dục (mục đích, nội dung, phương pháp) và các quy chế thi cử qua từng triều đại, sau đó tổng hợp thành các quy luật biến đổi.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy chế giáo dục - khoa cử thời Lý - Trần (khi Nho giáo kết hợp với Phật giáo) với thời Lê sơ (khi Nho giáo giữ địa vị độc tôn).
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân loại tư liệu, quy chuẩn hóa các thuật ngữ và sắp xếp các dữ kiện lịch sử tư tưởng thành một chỉnh thể logic.
Nguồn tư liệu nghiên cứu: Luận án dựa trên các tác phẩm kinh điển của Nho gia (bộ Tứ thư, Ngũ kinh), các bộ chính sử Việt Nam (Đại Việt sử ký toàn thư, các văn bia tiến sĩ), văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam và các công trình nghiên cứu chuyên khảo về triết học, lịch sử tư tưởng, lịch sử giáo dục Việt Nam đã được công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Sự ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục và một số nội dung cơ bản của nó
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử, tiền đề tư tưởng và cấu trúc lý luận của tư tưởng giáo dục Nho giáo sơ kỳ tại Trung Quốc cổ đại:
Điều kiện và tiền đề ra đời: Về kinh tế - xã hội, sự xuất hiện công cụ đồ sắt vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã thúc đẩy nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, dẫn đến sự suy tàn của chế độ tông pháp Tây Chu và sự vươn lên của tầng lớp địa chủ mới. Trật tự phong kiến phân phong sụp đổ, chiến tranh cục bộ liên miên ("Xuân Thu thất bá", "Chiến Quốc thất hùng"), nảy sinh tình trạng xã hội "vô đạo", "lễ nhạc băng hoại". Bối cảnh "bách gia tranh minh" đặt ra yêu cầu tái lập trật tự xã hội bằng các mô hình lý luận khác nhau. Về tư tưởng - văn hóa, Nho giáo kế thừa các tri thức thiên văn học, y học, kinh nghiệm chép sử, văn học dân gian (nguồn gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Xuân Thu) và đặc biệt là tín ngưỡng thờ Trời, tế tổ, chữ "Đức" và chữ "Hiếu" từ thời Thương - Chu.
Vai trò sáng lập và lịch sử giáo dục Trung Quốc: Khổng Tử (551-479 TCN) chủ trương đường lối "đức trị", dùng giáo dục để cảm hóa con người theo nguyên tắc "thuật nhi bất tác". Ông là người khởi xướng hình thức "tư học" (mở trường tư), phá vỡ độc quyền "quan học" của quý tộc thời Tây Chu (vốn chỉ có trường quốc học và hương học dạy Lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số). Tư tưởng Khổng Tử được Mạnh Tử (372-289 TCN) phát triển theo hướng duy tâm chính thống, và Tuân Tử (313-238 TCN) bổ sung các yếu tố duy vật thực tế. Luận án điểm lại các bước ngoặt của giáo dục Trung Quốc: chính sách "phần thư khanh Nho" của nhà Tần; thời Hán với đề xuất của Đổng Trọng Thư "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật", lập nhà Thái học và đặt chức Ngũ kinh bác sĩ; thời Tùy - Đường thiết lập Quốc Tử Giám và định hình chế độ khoa cử; thời Tống với sự hình thành Lý học của Chu Hy và việc chuẩn hóa bộ Tứ thư tập chú; thời Minh - Thanh lấy Lý học Trình - Chu làm chuẩn mực khoa cử tuyệt đối.
Các nội dung cơ bản:
- Mục đích giáo dục: Đào tạo mẫu người lý tưởng là "người quân tử" có đủ nhân cách và phẩm chất đạo đức (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) để tham gia cai trị, thực hiện tiến trình "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ".
- Nguyên tắc và phương pháp giáo dục: Thực hiện phương châm "hữu giáo vô loại" (dạy học không phân biệt đẳng cấp), "học đi đôi với hành", "học không biết chán, dạy không biết mệt", dạy học theo phương pháp gợi mở, khơi dậy năng lực tự tư duy của người học, và đề cao tính nêu gương của người thầy.
- Nội dung giáo dục: Lấy giáo dục đạo đức làm cốt lõi, giảng dạy hệ thống kinh sách kinh điển (Tứ thư, Ngũ kinh) và các chuẩn mực đạo lý Tam cương, Ngũ thường.
Chương 2: Hệ thống giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục
Chương 2 phân tích tiến trình thâm nhập và chuyển hóa của tư tưởng giáo dục Nho giáo vào hệ thống thiết chế giáo dục - thi cử Đại Việt qua hai giai đoạn lớn:
Tiền đề trước thế kỷ XI: Thời Bắc thuộc, Nho giáo do các quan lại phương Bắc (Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp) truyền vào nhằm mục đích đồng hóa, chưa có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân dân mà chỉ đóng vai trò phụ trợ cho văn hóa bản địa và Phật giáo. Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, nhà nước độc lập non trẻ dựa chủ yếu vào tầng lớp tăng lữ Phật giáo để điều hành việc nước, Nho học chưa xây dựng được trường quy và thể chế thi cử riêng.
Giai đoạn Lý - Trần - Hồ (Thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XV):
- Nhà nước phong kiến bắt đầu chính thức tiếp nhận Nho giáo thông qua các mốc lịch sử: xây dựng Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1070), mở trường Quốc Tử Giám (1076), tổ chức khoa thi Minh kinh bác học và Nho học tam trường đầu tiên (1075).
- Đặc điểm giai đoạn này mang tính chất "Tam giáo đồng nguyên". Phật giáo vẫn giữ vị thế tôn giáo chi phối đời sống tâm linh của triều đình và xã hội, song để xây dựng bộ máy hành chính tập quyền, các triều vua Lý - Trần buộc phải từng bước sử dụng Nho học trong đào tạo và tuyển dụng quan lại. Triều đình tổ chức các kỳ thi Tam giáo bên cạnh các khoa thi Nho học.
- Thời Trần, quy chế khoa cử quy củ hơn với việc định lệ thi Hương, thi Hội, đặt ra danh hiệu Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa - năm 1247), phân chia Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên.
- Thời Hồ, Hồ Quý Ly tiến hành chấn chỉnh thi cử, dịch sách kinh điển chữ Hán ra chữ Nôm để truyền bá, cải cách nội dung thi cử nhằm tuyển chọn người có năng lực thực tiễn. Nhìn chung, hệ thống giáo dục thời Lý - Trần - Hồ vẫn chưa hoàn toàn quy củ, mạng lưới trường lớp cấp địa phương còn sơ khai, quy chế học tập và thi cử chưa diễn ra định kỳ chặt chẽ.
Giai đoạn triều Lê sơ thế kỷ XV:
- Nho giáo xác lập vị trí độc tôn tuyệt đối trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị và giáo dục - khoa cử, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức).
- Mục đích giáo dục: Nhằm đào tạo tầng lớp nho sĩ trung quân ái quốc, phục vụ trực tiếp cho việc củng cố bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền cao độ và giáo hóa trật tự phong kiến trong toàn dân.
- Quy chế giáo dục - khoa cử: Hệ thống trường công lập được mở rộng từ trung ương (nhà Thái học, Quốc Tử Giám) đến tận các đạo, phủ, huyện (trường phủ, trường lộ). Quy chế thi cử được định hình nghiêm ngặt theo chu kỳ 3 năm một lần (thi Hương tại địa phương, thi Hội và thi Đình tại kinh đô). Triều đình thiết lập lệ xướng danh, ban yến tiệc, vinh quy bái tổ và bắt đầu dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu (khoa thi năm 1484) để biểu dương hiền tài.
- Nội dung và phương pháp: Toàn bộ nội dung học tập và khảo thí bị đóng khung trong kinh điển Nho gia (Tứ thư, Ngũ kinh, các tác phẩm chú giải của Lý học Chu Hy). Phương pháp dạy và học chuyển mạnh sang lối học từ chương, rèn giũa kỹ xảo viết văn cử tử, ghi nhớ kinh sách giáo điều, loại bỏ hoàn toàn các yếu tố Phật giáo và Đạo giáo ra khỏi chốn trường quy.
Chương 3: Đóng góp của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục nước ta hiện nay
Chương 3 tổng kết các giá trị lịch sử và đề xuất bài học thực tiễn:
Đóng góp của tư tưởng giáo dục Nho giáo giai đoạn thế kỷ XI - XV:
- Xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền: Nền giáo dục Nho học đã cung cấp đội ngũ quan lại, trí thức có trình độ quản lý hành chính, nắm vững pháp luật và quy chế điển chương, giúp nhà nước Đại Việt chuyển biến từ chế độ quý tộc thân tộc thời Lý - Trần sang chế độ quan liêu chuyên nghiệp thời Lê sơ.
- Đào tạo nhân tài và xây dựng phong trào học tập: Hệ thống khoa cử tạo ra cơ chế tiến thân dựa trên tài năng học vấn, mở rộng cơ hội học tập cho con em bình dân lương thiện, hình thành truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và phong trào học tập rộng khắp trong các làng xã.
- Xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực đạo đức xã hội: Giáo dục Nho giáo đưa các giá trị Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Trung, Hiếu vào đời sống, góp phần củng cố trật tự gia đình, kỷ cương xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Những hạn chế lịch sử cần nhận diện:
- Nền giáo dục Nho học mang nặng tính kinh viện, giáo điều, nhồi nhét chữ nghĩa; thiên về văn chương phù phiếm, lý thuyết suông mà coi nhẹ tri thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật và thực tiễn sản xuất.
- Kích thích tâm lý chạy theo hư danh, học để làm quan, coi việc thi đỗ là cứu cánh để vinh thân phì gia, tạo mầm mống cho thói quan liêu, "trọng quan khinh dân".
- Hệ thống lễ giáo phong kiến gò bó tư duy con người vào khuôn mẫu định sẵn, kìm hãm tự do tư tưởng; tư tưởng gia trưởng và phân biệt đẳng cấp, khinh rẻ phụ nữ và lao động chân tay.
Bài học lịch sử đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay:
- Kế thừa biện chứng truyền thống coi trọng giáo dục là quốc sách hàng đầu, đề cao đạo đức nhân cách của người học và vị thế tôn nghiêm của người thầy.
- Phát huy tinh thần học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho mọi tầng lớp nhân dân.
- Kiên quyết khắc phục và loại bỏ lối học từ chương, nhồi nhét kiến thức, bệnh thành tích và tâm lý sính bằng cấp, chạy theo hư danh; đổi mới căn bản phương pháp giáo dục theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo, gắn đào tạo với nhu cầu kinh tế - xã hội và thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Dưới góc độ triết học, luận án tự xác định các kết quả nghiên cứu và đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa một cách toàn diện những nội dung cơ bản trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục từ cội nguồn Trung Quốc cổ đại đến quá trình tiếp biến tại Việt Nam.
- Dưới lăng kính chủ nghĩa duy vật lịch sử, công trình luận giải tính tất yếu của quá trình tiếp nhận tư tưởng giáo dục Nho giáo tại Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV: sự chuyển đổi từ mô hình dung hợp Tam giáo thời Lý - Trần sang vị trí độc tôn Nho học thời Lê sơ phản ánh chính xác yêu cầu khách quan của tồn tại xã hội trong việc củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích khách quan, toàn diện đóng góp của giáo dục Nho học đối với việc đào tạo nhân tài, củng cố đạo đức và xây dựng thiết chế xã hội Đại Việt thời phong kiến thịnh trị.
- Rút ra hệ thống bài học lịch sử có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo hiện nay, phân định rõ những giá trị nhân văn cần kế thừa và những tàn dư giáo điều, hư danh cần kiên quyết loại bỏ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế: Do phạm vi đề tài giới hạn từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV (giai đoạn chế độ phong kiến Đại Việt hưng thịnh), luận án chưa phân tích sâu giai đoạn Nho giáo suy thoái và bộc lộ khủng hoảng toàn diện ở các thế kỷ XVI - XVIII và thời Nguyễn. Bên cạnh đó, các nguồn sử liệu thành văn ghi chép về trường lớp và quy chế thi cử thời kỳ đầu (thời Lý) còn tản mát, khiến một số nhận định lịch sử giáo dục giai đoạn này chủ yếu dựa trên việc khái quát hóa các biểu tượng văn hóa và sự kiện chính sử hiện còn.
Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phân tích sự biến đổi của tư tưởng giáo dục Nho giáo trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo (thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX), khảo cứu sâu hơn sự tương tác giữa Nho giáo với các trào lưu tư tưởng phương Tây thời cận đại tại Việt Nam, và đánh giá tác động cụ thể của tàn dư tâm lý khoa cử Nho học đối với cơ chế thi cử, tuyển dụng nhân lực trong xã hội Việt Nam đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp cơ sở lịch sử và triết học để nhìn nhận tính hai mặt của truyền thống giáo dục, từ đó xây dựng các chính sách cải cách thi cử, khắc phục bệnh thành tích và tâm lý sính bằng cấp.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Sử dụng trực tiếp trong nghiên cứu và giảng dạy các môn học thuộc khối khoa học xã hội và nhân văn như: Lịch sử triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử: Tham khảo hệ thống tư liệu lịch sử tư tưởng, các phân tích về thiết chế Văn Miếu - Quốc Tử Giám và quy chế thi cử thời phong kiến độc lập.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt các thuật ngữ "Nho giáo", "Nho học" và "Nho thuật" như thế nào?
Theo luận án, "Nho giáo" là cách viết tắt của mệnh đề "dĩ Nho học giáo dân", nhấn mạnh khía cạnh ứng dụng, vai trò giáo hóa và chức năng quản lý xã hội. "Nho học" là viết tắt của "Nho gia học thuyết", chỉ toàn bộ hệ thống tư tưởng và nền học thuật của phái Nho gia. "Nho thuật" chỉ phương thức, cách thức ứng dụng Nho học vào việc trị nước và đời sống chính trị thực tiễn.
2. Tại sao triều Lý - Trần tôn sùng Phật giáo nhưng vẫn từng bước tiếp thu tư tưởng giáo dục Nho giáo?
Thời Lý - Trần, Phật giáo chi phối thế giới quan và đời sống tâm linh, nhưng Phật giáo không cung cấp được hệ thống lý luận chính trị - xã hội hoàn chỉnh về tổ chức bộ máy nhà nước và pháp chế. Để củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền và quản lý xã hội, triều đình buộc phải dựa vào Nho giáo để mở các khoa thi Nho học nhằm đào tạo đội ngũ quan lại có tri thức quản lý hành chính.
3. Biểu hiện cụ thể của sự độc tôn Nho giáo trong giáo dục - khoa cử thời Lê sơ (thế kỷ XV) là gì?
Sự độc tôn thể hiện ở: (1) Nhà nước mở rộng hệ thống trường công từ trung ương (Thái học) đến địa phương (phủ, lộ); (2) Định kỳ 3 năm mở một khoa thi Hương, thi Hội, thi Đình; (3) Dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu (từ 1484) để tôn vinh Nho sĩ; (4) Nội dung thi cử hoàn toàn dựa trên kinh điển Nho gia (Tứ thư, Ngũ kinh) và chú giải Lý học Chu Hy, loại bỏ triệt để Phật giáo và Đạo giáo ra khỏi nội dung trường quy.
4. Luận án chỉ ra những mặt tiêu cực nào của giáo dục Nho học cần khắc phục trong bối cảnh hiện nay?
Các mặt tiêu cực chính gồm: lối học giáo điều, nhồi nhét, từ chương cử tử; chỉ chú trọng luân lý đạo đức mà coi nhẹ tri thức khoa học tự nhiên và kỹ thuật; tư tưởng học để làm quan, chạy theo học vị, bằng cấp hư danh; và thái độ trọng quan khinh dân, bất bình đẳng giới bắt nguồn từ lễ giáo phong kiến.
5. Luận án sử dụng phương pháp luận triết học nào để tiếp cận đối tượng nghiên cứu?
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, coi tư tưởng giáo dục Nho giáo và hệ thống khoa cử là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, biến đổi dưới sự quy định của tồn tại xã hội và nhu cầu thực tiễn của nhà nước phong kiến qua từng giai đoạn lịch sử.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Thị Quỳnh đã làm rõ một cách có hệ thống sự ra đời của tư tưởng giáo dục Nho giáo và tiến trình ảnh hưởng sâu sắc của nó tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV. Dưới góc độ duy vật lịch sử, công trình luận giải quá trình chuyển hóa từ mô hình giáo dục kết hợp Tam giáo thời Lý - Trần sang nền giáo dục Nho học độc tôn thời Lê sơ như một tất yếu phục vụ xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền. Việc đánh giá khách quan cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của nền giáo dục Nho học truyền thống trong luận án cung cấp những bài học lịch sử có giá trị khoa học cho công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay.