Luận án tiến sĩ: Kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan cấp phân đội

Luận án tiến sĩ tâm lý học nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan. Phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp tâm lý sư phạm.

Trường đại học

Học viện Chính trị

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

242
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của kỹ năng quản lý cảm xúc

Kỹ năng quản lý cảm xúc là một trong những yếu tố then chốt trong đào tạo sĩ quan hiện đại. Đối với học viên sĩ quan cấp phân đội tại các trường quân sự, khả năng kiểm soát và điều hòa cảm xúc trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu suất công việc, mối quan hệ nhân t事, và khả năng lãnh đạo. Trong môi trường quân đội với áp lực cao, các kỹ năng quản lý cảm xúc giúp sĩ quan duy trì sự bình tĩnh, đưa ra quyết định hợp lý và xử lý tình huống phức tạp một cách chuyên nghiệp. Luận án của Vũ Văn Long tập trung vào việc nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cảm xúc của học viên tại các trường sĩ quan trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, từ đó đề xuất các biện pháp tâm lý-sư phạm để phát triển kỹ năng này.

1.1. Định nghĩa kỹ năng quản lý cảm xúc

Kỹ năng quản lý cảm xúc bao gồm bốn thành phần chính: nhận diện, kiểm soát, điều khiển và sử dụng cảm xúc một cách hiệu quả. Đây không phải là việc loại bỏ hay đàn áp cảm xúc, mà là việc hiểu rõ nguồn gốc của chúng và biết cách ứng xử phù hợp trong các tình huống khác nhau. Với học viên sĩ quan, kỹ năng này là nền tảng cho sự trưởng thành tâm lý và phát triển năng lực lãnh đạo.

1.2. Tầm quan trọng trong đào tạo sĩ quan

Trong bối cảnh quân sự, kỹ năng quản lý cảm xúc được coi là yêu cầu bắt buộc. Sĩ quan cần duy trì được sự tỉnh táo trong các tình huống căng thẳng, khủng hoảng hoặc áp lực cao. Thông qua việc phát triển quản lý cảm xúc, học viên có thể cải thiện hiệu quả công việc, tăng cường khả năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ tốt hơn với cấp dưới và cấp trên.

II. Thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên hiện nay

Theo kết quả nghiên cứu trong luận án của Vũ Văn Long, kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan cấp phân đội ở mức độ trung bình, với nhiều khía cạnh cần được cải thiện. Nghiên cứu được thực hiện trên học viên từ các khóa học khác nhau tại các trường sĩ quan trong Quân đội Nhân dân Việt Nam cho thấy, mặc dù đã có những nỗ lực trong đào tạo, nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc. Các học viên còn gặp khó khăn trong việc nhận diện chính xác các loại cảm xúc, kiểm soát các phản ứng bột phát, và sử dụng cảm xúc để tối ưu hóa hiệu suất công việc. Những vấn đề này liên quan trực tiếp đến các yếu tố khách quan và chủ quan trong quá trình đào tạo.

2.1. Tình trạng nhận diện cảm xúc

Kết quả cho thấy học viên có khả năng nhận diện cảm xúc cơ bản, nhưng gặp khó khăn với những cảm xúc phức tạp. Một số học viên chưa phân biệt rõ ràng giữa các cảm xúc tương tự như lo âu và sợ hãi, buồn bã và thất vọng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát cảm xúc trong các tình huống thực tế.

2.2. Năng lực kiểm soát và điều khiển cảm xúc

Nhiều học viên vẫn còn có các phản ứng bột phát khi đối mặt với cảm xúc tiêu cực. Khả năng kiểm soát cảm xúc và tìm kiếm các cảm xúc thay thế phù hợp còn hạn chế. Đây là điểm yếu cần được tập trung cải thiện thông qua các biện pháp tâm lý-sư phạm trong quá trình đào tạo sĩ quan.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý cảm xúc của học viên

Luận án xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan. Những yếu tố này được chia thành hai nhóm chính: yếu tố khách quanyếu tố chủ quan. Các yếu tố khách quan bao gồm môi trường học tập, chương trình đào tạo, phương pháp giáo dục, và sự hỗ trợ của các cán bộ, giảng viên. Các yếu tố chủ quan liên quan đến tính cách cá nhân, kinh nghiệm sống, trình độ nhận thức, và động lực học tập của bản thân học viên. Hiểu rõ các yếu tố này là tiền đề quan trọng để xây dựng các biện pháp phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc hiệu quả.

3.1. Yếu tố khách quan trong môi trường quân sự

Môi trường quân sự với những yêu cầu kỷ luật, áp lực công việc cao, và những tình huống khẩn cấp là những yếu tố khách quan chính tác động đến kỹ năng quản lý cảm xúc. Chương trình đào tạo tập trung vào kỹ năng quân sự nhưng chưa đủ nhấn mạnh trên phát triển kỹ năng cảm xúc. Sự hỗ trợ của cán bộ, giảng viên trong việc hướng dẫn quản lý cảm xúc cũng là yếu tố quyết định thành công.

3.2. Yếu tố chủ quan của học viên

Học viên với tính cách cởi mở, sẵn sàng học hỏi và phản t省thức cao thường có khả năng quản lý cảm xúc tốt hơn. Các trải nghiệm sống trước đó, nhất là những thách thức đã vượt qua, giúp học viên tích lũy kỹ năng này. Động lực nội tại và cam kết với sự phát triển bản thân cũng là những yếu tố chủ quan quan trọng.

IV. Biện pháp tâm lý sư phạm phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc

Luận án đề xuất một hệ thống biện pháp tâm lý-sư phạm nhằm phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc cho học viên sĩ quan cấp phân đội. Các biện pháp này dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn và được kiểm chứng thông qua các thử nghiệm tâm lý. Chúng bao gồm các hoạt động học tập có chủ đích, các tình huống mô phỏng, các buổi tư vấn tâm lý, và các chương trình huấn luyện cụ thể. Mục đích là giúp học viên nâng cao năng lực nhận diện cảm xúc, cải thiện kỹ năng kiểm soátđiều khiển cảm xúc, và biết cách sử dụng cảm xúc một cách hiệu quả trong công việc lãnh đạo. Kết quả thực nghiệm cho thấy những biện pháp này mang lại hiệu quả đáng kể trong việc nâng cao kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên.

4.1. Hoạt động học tập và tình huống mô phỏng

Các hoạt động học tập cụ thể như role-play, phân tích tình huống, và thảo luận nhóm giúp học viên thực hành kỹ năng quản lý cảm xúc trong bối cảnh gần với thực tế công việc quân sự. Tình huống mô phỏng cho phép học viên đối mặt với các cảm xúc khác nhau, thử nghiệm các cách ứng xử khác nhau, và nhận phản hồi kịp thời từ người hướng dẫn.

4.2. Tư vấn tâm lý và hỗ trợ cá nhân

Tư vấn tâm lý riêng cho từng học viên giúp họ hiểu sâu hơn về những khó khăn cá nhân trong quản lý cảm xúc. Các chương trình hỗ trợ tâm lý và huấn luyện kỹ năng cũng giúp học viên phát triển các cơ chế ứng phó lành mạnh. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của kỹ năng quản lý cảm xúc trong quá trình đào tạo và công việc sau này.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vấn đề quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu. Khi tổng quan về các vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tiến hành hệ thống và luận giải theo hai nội dung chính: Các công trình nghiên cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc ở nước ngoài; các công trình nghiên cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về cảm xúc Cảm xúc và quản lý cảm xúc là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu trong tâm lý học và đã thu được nhiều thành tựu.

Có thể khái quát thành một số hướng chính: * Các công trình nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý cá nhân Theo hướng này quy tụ rất nhiều nhà nghiên cứu. Có thể điểm qua các công trình của Cruchetxki V. Gerrig và Philip Zimbardo G. Trong các công trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm - sinh lý cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân.

Ví dụ, trong công trình “Những cảm xúc của người”, Carrol E. Izard (1992) [8] đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về cảm xúc của cá nhân: cảm xúc là 16 gì? Các loại cảm xúc, biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hưởng của cảm xúc đến nhận thức, ý thức và hành vi của cá nhân. (1986) [82], trong cuốn “Tâm lý học thể thao” đã đề cập tới định nghĩa và đặc điểm cơ bản của cảm xúc, quan hệ giữa cảm xúc với nhu cầu, vai trò của cảm xúc trong đời sống của con người, cơ sở sinh lý của cảm xúc, những nét và biểu hiện bên ngoài của cảm xúc qua nét mặt. Trong tác phẩm “Tâm lý học (nguyên lý và sử dụng)”, Stephen Worchel - Wayne Shebilsue (2007) [88], đã đề cập tới hàng loạt vấn đề về cảm xúc, từ việc đi tìm một định nghĩa phổ biến về cảm xúc, đến việc giới thiệu hàng loạt thuyết tâm lý học về cảm xúc, như thuyết Jemce - Langer về cảm xúc và cho rằng sự xuất hiện cảm xúc là kết quả của những tác động bên ngoài, của các thay đổi nội tại trong phạm vi vận động chú ý và không chú ý.

Kế thừa và phát triển quan niệm cảm xúc của Darwin, Freud S. (2002) cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Theo James, cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên còn Langer lại cho rằng cảm xúc với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu; Thuyết Canon-Bar; các thuyết về nhận thức, thuyết xoma về cảm xúc, thuyết phản hồi của Tomkins (1962), sau đó được Izard và Ekman (1977), Friesen (1971) đào sâu và hiện vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu năng động… * Các công trình nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong hoạt động và trong cuộc sống Cảm xúc với tư cách là một động lực tâm lý được đề cập trong hầu hết công trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển.

Từ các thực nghiệm của Skinner B. Izard (1992), Maurice Reuchlin (1995), Keith Oatley & Fennifer Jenkins M. Gerrig và Philip G. Zimbardo (2003),… 17 Trong các công trình trên, cảm xúc được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động.

Vì vậy, vấn đề là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân. quy kết cảm xúc vào trong lĩnh vực động cơ vô thức, gắn với các yếu tố cơ thể và cần được thỏa mãn (2002) [dẫn theo 84], thì B. Skinner [146] và các nhà tâm lý học hành vi lại chú trọng tới khía cạnh tác động xã hội tới các hành vi cảm xúc. Theo đó, các hành vi cảm xúc của cá nhân được quyết định bởi các củng cố tích cực, tiêu cực hay sự trừng phạt (1953).

Trong công trình “Tâm lý học và đời sống”, Richard J. Gerrig và Philip Zimbardo G. [79] hướng đến các chức năng của cảm xúc đối với nhận thức và hành vi của cá nhân, trong đó nhấn mạnh đến chức năng động cơ hành động, chức năng điều chỉnh sự tương tác xã hội. Cảm xúc được ví như chất keo kết dính xã hội hoặc là tác nhân để cá nhân xa lánh, từ bỏ xã hội.

Đặc biệt, cảm xúc vừa là động lực vừa là người dẫn đường cho các hoạt động nhận thức của cá nhân (2013). Tóm lại: theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý thúc đẩy cá nhân trong hoạt động, các nhà khoa học đã nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm - sinh lý cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân. Cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc.

Cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên và cảm xúc gắn với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu. Theo hướng nghiên cứu cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân và cần có những kích thích tác động để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động của con người. Các công trình nghiên cứu về quản lý cảm xúc Trong các nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, mà trong đó hàm chứa các yếu tố nhận biết và kiểm soát, điều khiển cảm xúc của mình và của người khác, còn có các công trình nghiên cứu quản lý cảm xúc.

Chẳng hạn, Fischer, Manstead, Evers, Timmers & Valk (2004) [dẫn theo 33] nghiên cứu quản lý cảm xúc trong các hoàn cảnh khác nhau. Erber, Wegner và Therriault (1996) [130] đưa ra thực nghiệm về việc tăng cường hay ức chế cảm xúc để có kinh nghiệm và thể hiện cảm xúc mà họ tin rằng sẽ tạo điều kiện thực hiện trong một tình huống cụ thể. Diamond & Aspinwall (2003) kết luận rằng, cảm xúc tốt hay cảm xúc xấu không phải là bất biến và động lực điều chỉnh cảm xúc chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà trong đó cảm xúc xảy ra. Hochschild (1983) chỉ ra rằng các khuôn mẫu cảm xúc (được xây dựng trên quy tắc hiển thị cảm xúc ra ngoài và có thể là kinh nghiệm cảm xúc trong một hoàn cảnh đã cho) đã tạo động lực cho quản lý cảm xúc.

Các nghiên cứu của Rime và các cộng sự (1991), chỉ ra sự chia sẻ xã hội không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin mà có thể phục vụ chức năng quan trọng về tâm lý và xã hội. Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi. Thoits (1984), Collins và Miller (1994) tìm thấy rằng những người chia sẻ cảm xúc của họ và cảm xúc với những người khác có nhiều hơn những người thích giữ chúng ở lại. Các nghiên cứu của Zech & Rime (1996) đã phát hiện sự chia sẻ cảm xúc được đánh giá là có ý nghĩa hơn và thú vị hơn là nói chuyện một cách khách quan và mô tả.

Dưới góc độ nghiên cứu sự nghiền ngẫm hay ngăn cản cảm xúc, Nolen- Hoeksema, McBride và Larsen (1997) [dẫn theo 33]; Nolen-Hoeksema và Morrow (1993) kết luận cho thấy nghiền ngẫm về sự tức giận, tội lỗi và những suy nghĩ lo lắng liên quan đến việc tạo ra những cảm xúc mạnh hơn [80]. Kopel & Arkowitz (1974) [135] nghiên cứu sự kìm hãm các biểu hiện đau, Wegner (1994) nghiên cứu sự ngăn chặn suy nghĩ về cảm xúc đau đã cho thấy giảm cảm giác do bản thân tự thông báo. McCanne và Anderson (1987) [143] 19 cho thấy sự ngăn chặn biểu lộ cảm xúc trong khi những hoàn cảnh cảm xúc dễ chịu hoặc khó chịu làm suy giảm khả năng của những người tham gia để cảm nhận những cảm xúc tương ứng. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn hành vi biểu cảm đến từ một sự nghiên cứu bởi Ginbe, Krull và Pelham (1988) đã cho thấy sự kiềm chế cái nhìn làm suy yếu sự thực hiện hành vi nhận thức.

Richards và Gross (1999) cho thấy, ngăn chặn biểu hiện cảm xúc làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn. Carstensen, Gottman và Levenson (1995), Levenson, Carstensen và Gottman (1994) và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người xã hội và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của một người [dẫn theo 33].

Lazarus và Alfert (1964) cho thấy, đánh giá lại, một cách hiệu quả để giảm bớt cảm xúc tiêu cực cũng như kích thích sinh lý đi kèm. Các nghiên cứu của Kramer và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại không tiêu thụ các nguồn lực nhận thức nó, không làm ảnh hưởng bộ nhớ. Trong truyền thông tâm lý (Bucci, 1995) sự tích tụ của những cảm xúc không thể hiện được có liên quan đến các rối loạn tâm thần và thể chất [dẫn theo 61].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ