MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Sự thay đổi khí quyển với hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ của khí quyển ấm dần lên, băng tan ở hai cực làm mực nước biển dâng gây ngập lụt, ảnh hưởng đến nông nghiệp và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai (Phạm Khôi Nguyên, 2009)[8].
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị tác động mạnh mẽ nhất bởi biến đổi khí hậu; Nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển bị ngập, khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP (Nguyễn Hữu Thắng, 2010)[9]. Tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước (Phạm Sóng Hồng, 2013)[6]. Cây lúa (Oryza Sativa) là một trong những cây trồng quan trọng nhất ở Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn thức ăn quan trọng nhất cho một nửa dân số thế giới. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan, chiếm khoảng 50% tổng sản lượng gạo thương mại trên thế giới (số liệu tính đến năm 2009) (Tạ Quang Lĩnh, 2010)[7].
Mực nước biển dâng cao làm giảm lưu lượng dòng chảy của các con sông, thậm chí ngay cả tại các nơi xa bờ biển (Tạ Quang Lĩnh, 2010)[7]. Do vậy, hàng trăm nghìn ha hoa màu có thể bị ảnh hưởng do hậu quả của ngập chìm vào cuối thế kỷ. Việc đưa ra các chiến lược thích nghi ứng phó với sự biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cho vùng đồng bằng Sông Hồng có tính chất quyết định đối với nền kinh tế và an ninh lương thực Việt Nam, góp phần đảm bảo an ninh lương thực thế giới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2 Nam Định là tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp giữa đất liền và biển.
Nằm ở phía hạ lưu sông Hồng, hàng năm nhận được một lượng phù sa rất lớn tạo nên những vùng đất bồi mới, với hàng ngàn hecta khá bằng phẳng tiến ra biển Đông. Toàn tỉnh chia thành 2 vùng địa hình tự nhiên: Vùng đồng chiêm trũng và vùng ven biển. Lưu vực sông Sò là một trong những vựa lúa chính thuộc vùng đồng bằng ven biển. Những năm trở lại đây Biến đổi khí hậu đã dẫn đến những hậu quả nặng nề cho nền nông nghiệp của vùng như: xâm nhập ngập, ngập hán, ngập lụt.
Xây dựng các kịch bản Biến đổi khí hậu là rất cần thiết cho việc ứng phó với ngập lụt tăng do nước biển dâng cao trong tương lai; việc phát triển chọn tạo giống lúa có khả năng chịu ngập, năng suất cao là hết sức cần thiết và có ý nghĩa. Cách tiếp cận này không những có ý nghĩa cho an toàn về an ninh lương thực mà còn giải quyết được vấn đề sinh kế của người dân tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của các sự cố về môi trường, từ đó làm giảm áp lực ngoại biên vào tự nhiên. Từ đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của một số dòng lúa mang gen sub-1 tại lưu vực sông Sò tỉnh Nam Định” 2. Mục tiêu tổng quát nghiên cứu - Nghiên cứu lựa chọn một số dòng lúa có khả năng thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu được áp dụng trong điều kiện tại lưu vực sông Sò tỉnh Nam Định.
Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu - Xây dựng bản đồ ngập lụt lưu vực sông Sò tỉnh Nam Định theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ TNMT. - Đánh giá khả năng chịu ngập của một số dòng lúa mang gen Sub1 trong điều kiện nhân tạo. - Đề xuất một số dòng lúa có triển vọng có thể áp dụng tại địa bàn nghiên cứu và các khu vực khác có điều kiện tương tự. Yêu cầu đề tài - Thu thập đầy đủ các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, và các số liệu thuộc tính khác (diện tích, thủy văn, bản đồ nền, .) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 3 - Thu thập và thừa kế một số giống lúa thuần trồng phổ biến tại vùng đồng bằng sông Hồng và các dòng lúa chọn tạo mang gen chịu ngập Sub-1.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu * Ý nghĩa khoa học: - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp cho học viên có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài tốt nghiệp Th.S theo hướng nghiên cứu khoa học, vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tế. * Ý nghĩa thực tiến: - Hiểu biết thêm thông tin về biến đổi khí hậu trong thời gian tới tại Việt Nam, xây dựng được diến biến Biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá khả năng chịu ngập của một số giống lúa bản địa và một số dòng lúa mang gen Sub-1 chịu ngập đáp ứng được nhu cầu về giống, đặc biệt các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng Việt Nam, nơi chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Biến đổi khí hậu và xây dựng mô hình ứng phó với Biến đổi khí hậu 1.1 Biến đổi khí hậu - Biến đổi khí hậu (Climate Change): Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thể hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ[3]. - Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
- Công ước khung của liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu[3] Các bên tham gia công ước này: Thừa nhận rằng sự thay đổi của khí hậu trái đất và những hiệu ứng nguy hại của nó là mối quan tâm chung của nhân loại. Lo lắng rằng những hoạt động của con người đã và đang làm tăng thực sự nồng đồ các chất khí trong khí quyển, bằng những sự tăng ấy đẩy mạnh hiệu ứng nhà kính tự nhiên và tính trung bình, điều đó sẽ dẫn tới sự nóng lên thềm của bề mặt và khí quyển trái đất và có thể ảnh hưởng có hại đến các hệ sinh thái tự nhiên của loài người. Ghi nhận rằng phần lớn nhất phái thải cá khí nhà kính toàn cầu trong lịch sử và hiện tại bắt nguồn từ nước phát triển, rằng sự phát thải theo đầu người ở các nước đang phát triển còn tương đối thấp và rằng phần phát thải toàn cầu bắt nguồn từ các nước đang phát triển sẽ tăng đáp ứng các nhu cầu phát triển và xã hội của mình. Nhận thức về vai trò và tầm quan trọng trong các hệ sinh thái biển và đất liền của các bể hấp thụ và bể chứa các khí nhà kính.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Ghi nhận rằng có nhiều sự không chắc chắn trong các dự báo về thay đổi khí hậu đặc biệt đối với thời hạn, đại lượng và các sơ đồ khu vực của chúng. Thừa nhận rằng tính chất toàn cầu của sự thay đổi khí hậu kêu gọi sự hợp tác rộng lớn nhất có thể được của tất cả các nước và sự tham gia của họ vào sự ứng phó quốc tế thích hợp và có hiệu quả, phù hợp với những trách nhiệm chung như có phân biệt và các khả năng tương ứng cùng các điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi nước. Nhắc lại những điều khoản thích hợp của tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường coả loài người, đã được thông qua ở Stốckhôm vào ngày 16 tháng 6 năm 1972. Cũng nhắc lại rằng các quốc gia, phù hợp với Hiến chương của Loài người và những nguyên tắc của luật quốc tế, có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo các chính sách về môi trường và phát triển của mình và có trách nhiệm bảo đảm rằng các hoạt động trong phạm vi quyền tài phán hoặc kiểm soát của mình không gây ra tổn hại đối với môi trường của các nước khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn quyền tài phán quốc gia.
Khẳng định lại nguyên tắc chủ quyền của các quốc gia trong hợp tác quốc tế để đối phó với thay đổi khí hậu. Nhận thức rằng các quốc gia phải ban hành luật môi trường có hiệu quả rằng các tiêu chuẩn về môi trường các mục tiêu quản lý và các ưu tiên cần phải phản ánh hoàn cảnh môi trường và phát triển của các điều đó áp dụng vào và rằng các tiêu chuẩn áp dụng bởi một số nước có thể là không thích hợp và gây phí tổn kinh tế và xã hội không xác đáng cho các nước khác, đặc biệt các nước đang phát triển. Nhắc lại những điều khoản của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/228 ngày 22 tháng 12 năm 1989 về Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển và các Nghị quyết 43/53 ngày 6-12-1988, 44/207 ngày 22-12-1989, 45/212 ngày 21-12-1990 và 46/169 ngày 19-12-1991 về bảo vệ khí hậu toàn cầu cho các thế hệ hiện nay và mau sau của nhân loại. Cũng nhắc lại các điều khoản của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/206 ngày 22- 12-1989 về những ảnh hưởng nguy hại có thể có của mực nước biển các vùng thấp ven bờ và các điều khoản thích hợp của Nghị quyết Ðại hội đồng 44/172 ngày 19- 12-1989 về việc thi hành kế hoạch hành động chống sa mạc hoá.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.